NEW YORK (Zenit,org).-Bài phát biểu do Linh Mục Michael Hull soạn thảo cho một buổi hội thoại thần học qua video vào ngày 14/12 của những thần học gia tên tuổi.Bộ Giáo sĩ Vatican đã tổ chức buổi diễn thuyết video này, mà chủ đề tập trung mầu nhiệm Nhập Thể và chức linh mục.

* * *

Mầu nhiệm Nhập Thể là một trong những chân lý đức tin sâu xa và mầu nhiệm nhất. Với mầu nhiệm Nhập Thể, "Ngôi Lời đã trở nên người phàm và cư ngụ giữa chúng ta, đầy tràn ân sủng và sự thật; chúng tôi đã được nhìn thấy vinh quang của Người, vinh quang mà Chúa Cha ban cho Người" (Ga 1:14).

Ngoài ra, Thánh Gioan minh chứng cho sự hoàn tất lời tiên tri Isaiah là chính Thiên Chúa sẽ xuống thế gian để cứu dân Người (Is. 35:4) Sự đến của Ngôi Hai Ba Ngôi Chí Thánh trong xác thịt không những chỉ tình yêu của Thiên Chúa đối với loài người, nhưng cũng khai mạc những biến cố dẫn tới Mầu Nhiệm Phục Sinh, nơi con người được cúu thoát khỏi sư chết nhờ một đấng, tuy là Thiên Chúa, nên giống con người trong mọi phương diện trừ sự tội (Dt 4:14-15; x. 2:17-18).

Đồng thời với chiều sâu và mầu nhiệm Nhập Thể là Thánh Lễ, nơi Ngôi Lời lại trở nên xác thịt dưới những hình bánh và rượu trong Thánh Thể thánh, được Công Đồng Vatican Hai diễn tả cách thích đáng là "nguồn gốc và chóp đỉnh của sự sống Kitô hữu" ("Lumen Gentium, "Số 11; x. "Sacrosanctum Concilium," Số 10). Do đó, điều đáng giá là quan sát sự tương quan giữa Nhập Thể và Thánh Lễ.

Trong mầu nhiệm Nhập Thể, theo thánh Athanasius, "Con Thiên Chúa đã trở nên người hầu chúng ta có thể trở nên Thiên Chúa" ("De Incarnatione,"54,3). Nhưng tại sao? Tại sao Thiên Chúa lại làm một viiệc như vậy?

Kinh Thánh nói với chúng ta rằng Chúa Kitô đã đến hầu cứu chuộc những con người khỏi tội của họ. Chính tên "Giêsu" được ban cho Chúa Kitô dưới dạng công trình cứu chuộc của Người (Mt.1:21), cũng một công trình do các thiên thần loan truyền lúc người giáng sinh và được ông Simeon loan báo trong đền thờ (Lc 2).

Chính Chúa Giêsu nói về sự cứu chuộc như là nhiệm vụ của Người khi Nguời nói," Con Người đến để tìm và cứu những gì đã mất" (Lc 19:10; x. Mt.9:13). Chính mục đích của Chúa Kitô đến trong thế gian là để cứu vớt những người tội lỗi (1 Timothy 1:15 và Ga 3:17), nên Thánh Augustine có thể nói, khi qui chiếu vế 1 Timothy 1:15, lý do duy nhất để Con Người đến là cứu loài người khỏi tội lỗi ("Sermo" 174, 1-2).

Khi cứu nhân loại khỏi tội, sự rộng lượng tình yêu của Thiên Chúa được tỏ bày, và Người được tôn vinh. Ngày Chúa giáng Sinh, các thiên thần hát ca: "Vinh danh Thiên Chúa trên các tầng trời" (Lc 2:14). Và đúng sau Tiệc Ly của Người và trước khi Người bị bắt, Chúa Giêsu cầu nguyện với Chúa Cha, "Con đã tôn vinh Cha ở dưới đất, khi hoàn tất công trình Cha đã giao cho con làm. Vậy, lạy Cha, giờ đây, xin Cha tôn vinh Con bên Cha: xin ban cho con vinh quang mà con vẫn được hưởng bên Cha trước khi có thế gian" (Ga 17:4).

Như vậy, dưới dạng Nhập Thể, sự cứu rỗi con người và sự tôn vinh Thiên Chúa là hai mặt của một đồng tiền còn hơn hai cực đối nghịch. Từ thời Trung Cổ, các thần học gia Thoma đã nhấn mạnh về sự Sa Ngã như là lý do của Nhập Thể. Các thần học gia đó chủ trương rằng không có sự Sa Ngã thì không cần đến Nhập Thể. Lập trường các nhà thần học đó, "sự tiền định có điều kiện," đề cao sự con người cần đến ơn cứu rỗi.

Đàng khác, các thần học gia Scotist chủ trương rằng Nhập Thể sẽ xảy ra dầu tổ tiên chúng ta có phạm tội hay không. Lập trường của các thần học gia này, "sự tiền định không điều kiện," là để làm sáng danh Thiên Chúa và đề cao sự muốn yêu đương của Thiên Chúa là ban ân sủng cho nhân loại.

Mặc dầu những ý nghĩa xem ra khác nhau, cả hai gặp nhau trong mức độ sự Nhập Thể hoàn thành hai mục đích. Trong Nhập Thể, con người được chuộc và Thiên Chúa được vinh danh. Tuy nhiên, bản tính lai tạo (hybrid) thuộc sinh hoạt của Thiên Chúa không làm cho sinh hoạt đó ít mầu nhiệm hơn, cũng như bản tính lai tạo của một nhân vật Giêsu với một nhân tính và một thần tính, không làm cho Người dễ được dó thấu hơn nữa.



Không dễ hiểu Thiên Chúa- làm người (God-man) là Chúa Giêsu Kitô. Theo nghĩa nào đó, có lẽ tương đối giản dị việc quan hệ với một Thiên Chúa xa cách; về mặt khác, có lẽ tương đối giản dị việc quan hệ với một con người; nhưng quan hệ với một Thiên Chúa-làm người là một việc hoàn toàn khác. Vì lẽ này, những bè rối sớm nhất hầu hết có tính Kitô học. Giáo Hội phải mất gần 600 năm để nói lên sự hiểu rõ của mình về Chúa Kitô.

Hầu hết các bè rối có tính Kitô học thời trước chối từ nhân tính của Chúa Giêsu, nhân tính mà Thánh Ignatiô thành Antiokia và những người khác bênh vực mãnh liệt, đang khi những bè rối tiếp theo chối bỏ thần tính của Chúa Giêsu cho tới khi thần tính ấy được khẳng định tại Công Đồng thứ nhất thành Nicaea (325). Những bè rối sau này chối rằng Chúa Giêsu là một con người và nghĩ về Người như hai nhân vị hòa hợp nhau, cho tới khi Công Đồng Ephêsô (431) khẳng định Đức Maria là Mẹ Thiên Chúa.

Những bè rối sau này nữa chủ trương rằng nhân tính Chúa Giêsu bị xóa sạch bởi thần tính của Người, cho tới khi Công Đồng thứ Tư thành Chalcedon (451) khẳng định hai bản tính trong Chúa Giêsu. Sau cùng, dầu sau tất cả những huấn giáo phổ quát nói trên, nhân tính của Chúa Giêsu còn ở dưới vòng vây cho tới Công Đồng Constantinople (553), Công Đồng này định rõ Ngôi Hiệp (hypostatic union)

Tuy không công kích điểm đó, chúng tôi thấy Giáo Hội không chấp nhận một tư tưởng lầm lạc như thế, tư tưởng cố diệt trừ hay giảm nhẹ nhân tính của Chúa Giêsu, trong Người Ngôi Lời hằng hữu đời đời đã thực sự mặc xác phàm. Đang khi sự tranh cãi và sự bất đồng về cứu độ học không bao giờ đạt được tới mức độ kinh động cao trong Giáo Hội sơ khai, Kitô học chắc chắn đã đạt tới bởi vì một đấng Cứu độ trần gian, bằng xác thỉt khó mà hiểu được.

Và trên một số mức độ, ít có thay đổi trong những năm 1.400. Một Đấng Cứu Độ, trầng gian và mang xác thịt, Thiên Chuá-làm người , còn khó mà hiểu bởi vì Người, dầu giống chúng ta trong mọi sự trừ tội, là Thiên Chúa. Chúa Giêsu "là hình ảnh của Thiên Chúa vô hình " (Col.1:15; x. 2 Cor.4:4). Nhưng mặc dầu sự kiện chúng ta được thấm nhuần với "hình ảnh Thiên Chúa" bởi Thiên Chúa (St.1:26), tội nguyên tổ và những hậu quả của tội nguyên tổ làm rối ren sự chúng ta nhận biết Thiên Chúa trong Chúa Giêsu và cũng che mờ đức tin chúng ta trong một Đấng Cứu Độ rất gần chúng ta bằng nhiều cách. Một nhà triết học, một người khôn ngoan, hay một tiên tri được dễ dàng chấp nhận khi nói về một người hay là một sự bên ngoài mình, cách riêng khi nói về một sự trừu tượng.

Nhưng Chúa Giêsu nói, "Thầy là đường, là sự thật, và là sự sống; không ai đến được với Cha mà không qua Thầy" (Ga 14:6). Công Đồng Vaticanô 2 nhắc chúng ta nhớ Chúa Giêsu không phải là một trừu tượng. Chúa Giêsu "là con người hoàn hảo, đấng đã phục hồi trong con cháu Adam giống Thiên Chúa, sự giống đã bị méo mó từ sự tội đầu tiên. Nhân tính, bằng chính sự kiện được đảm nhận, chớ không phải bị hòa hợp, trong Người, cũng đã được nâng lên trong chúng ta tới một phẩm giá vô song. Bởi vì, nhờ Nhập Thể của Người, Người, là Con Thiên Chúa, nói được đã kết hợp chính mình với mỗi một người. Người đã làm việc với những bàn tay con người; Người suy nhĩ với trí óc con người. Người hành động với một ý muốn con người, và Người đã yêu với một con tim con người. Được sinh ra bởi Đức Trinh Nữ Maria, Người đã thực sự biến thành một con người như chúng ta, giống chúng ta trong mọi sự trừ sự tội" ("Gaudium et Spes, "Số 22). Đối với rất nhiều người, sự thân mật của sự Hiệp Ngôi là một gương xấu và Nhập Thể là một sự phi lý.

Thánh Gioan nhắc nhớ chúng ta rằng sự tin vào Nhập Thể thì tạo thành đức tin: "Căn cứ vào điều này, anh em nhận ra thần khí của Thiên Chúa: Thấn khí nào tuyên xưng Đức Giêsu kitô là đấng đã đến và trở nên người phàm, thì thần khí ấy bởi Thiên Chúa, còn thần khi nào không tuyên xứng Đức Giêsu, thì không bởi Thiên Chúa" (1 Ga 4:2). Trên thực tế, chối từ sự Nhập Thể hay là làm giảm cách nào mầu nhiệm đó là chối từ hay là làm giảm sự cứu chuộc con người và vinh quang Thiên Chúa-đúng là nghịch với điều chúng ta làm trong phụng vụ, cách riêng trong Thánh Lễ.

Chính trong Thánh Lễ, linh mục kêu xin Chúa Thánh Thần biến hình bánh và rượu thường thành mình và máu Chúa Kitô. Những hình bên ngoài, những phần phụ thuộc, của bánh và rượu vẫn giữ nguyên, nhưng bản chất đã được biến đổi. Chính nhờ Thánh Thể thánh, hiệu quả của Thánh Lễ, mà nhân loại tiếp tục chia sẻ trong sự sống thần linh mở ra cho mình bởi sự nhập thể và màu nhiệm phục sinh của Chúa Giêsu.

Tương quan giữa mầu nhiệm Nhập Thể và Thánh Lễ được thấy gần nhất trong đức tin của một người vào Chúa Giêsu Thiên Chúa-làm người và trong đừc tin của một người vào Chúa Giêsu Bánh Hằng Sống. Những vật chướng ngại đối với một tín điều thường là một thứ vật chướng ngại cho tín điều khác. Xét về mọi mặt, đó là một vấn đề đức tin.

Đức tin được diễn tả cách tốt đẹp nhất trong Thánh Lễ khi người tín hữu bày tỏ sự tán thành đức tin với những tiếng "amen" của mình sau kinh Tin Kính và sau khi Rước Thánh Thể. Chính trong Thánh Lễ mà chúng ta đứng trong thành Jerusalem mới, điều Thánh Augustinô gọi là "thành Thiên Chúa," để công nhận những lời của tiếng từ trời do Thánh Gioan ghi lại: "Đây là nhà tạm Thiên Chúa ở cùng nhân loại. Người sẽ cư ngụ cùng với họ, họ sẽ là dân của Người, còn chính Người sẽ là Thiên Chúa ở cùng họ" ( Kh 21:3).

Không có thời gian nào mà Thiên Chúa ở gần dân Người cho bằng trong hy lễ Thánh Thể. Chính con mắt đức tin thấy Thiên Chúa-làm người trong Chúa Giêsu và thấy Chúa Giêsu trong Bí Tích Thánh. Thần tính của Chúa Giêsu không ngăn trở sự xuống cấp thể lý của Người trong sự thương khó của Người, cũng như sự Hiện Diện Thật không ngăn trở sự mất thiêng của các hình hay là những hiểu lầm về Thánh Lễ. Cũng như có một sự khó khăn lớn trong việc chấp nhận mầu nhiệm nhập thể, thì cũng có sự khó khăn lớn trong sự chấp nhận Bánh Truyền Phép là mình, máu, linh hồn và thần tính của Chúa Giêsu.

Sự Hiện Diện Thật của Chúa Giêsu trong Thánh Thể, như sự Nhập Thể, là một chân lý đức tin sâu sắc và mầu nhiệm. Và, giống như sự Nhập thể, Thánh Thể đã có những kẻ gièm pha. Thế kỷ 16 là con đường phân nước cho những bè rối Thánh Thể. Dầu có sự đồng bản thể do Martin Luther cống hiến hay là những hình thức khác nhau về biểu trưng của Ulrich Zwingli, John Calvin và những kẻ khác, thời buổi này đánh dấu một sự ra đi có ý nghĩa của nhiều người Kitô hữu khỏi thần học Thánh Thể truyền thống của Giáo Hội đã được Công Đồng Trent công bố.

Tuy nhiên, thế kỷ 16 là sự vừa mới bắt đầu-- và vừa mới kết thúc-- những hồ nghi về Thánh Thể. Một trong những điều sớm nhất và nghiêm trọng nhất là sự thiếu đức tin giữa một số môn đệ đầu tiên của Chúa Giêsu.

Thánh Gioan thuật rằng Chúa Giêsu đã nói, "Thật tôi bảo thật các ông:nếu các ông không ăn thịt và uống máu Con Người các ông không có sự sống nơi mình" (Ga 6:53). Lời tuyên bố đó gây ra sự bất an giữa các môn đệ Chúa Giêsu, họ nói," Lời này chướng tai quá ai mà nghe nổi?" (6:60). Và, dầu sau nhiều sự giải thích về phần Chúa, Thánh Gioan thuật: "Từ lúc đó nhiều môn đệ rút lui, không còn đi với Người nữa" (6:66).

Thật vậy, đó là một lời nói khó nghe, và nhiều người đã rút lui và không còn đi với Chúa Giêsu nữa vì lời nói đó. Về mầu nhiêm Nhập Thể, sự khó ăn rễ trong tính trần gian, tích xác thịt. Không phải là một việc dễ làm là chấp nhận một Thiên Chúa đấng đến rất gần, một Thiên Chúa đấng biến chính mình thành của ăn thật và của uống thật cho các tạo vật của mình.

Nhưng đó là chính điều Chúa Giêsu đã làm trong buổi Tiệc Ly. Những tường thuật buổi Tiêc Cuối trong các sách Tin Mừng nhất lãm (Matthêu26: 26-29; Maccô 14:22-25; Luca 22:14-20) chỉ rõ ước muốn đặc biệt của Chúa cử hành buổi Tiệc Cuối đó với các môn đệ Người và có các môn đệ Người cử hành buổi Tiệc Ly đó về sau.

Trong Matthêu, Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng điều họ ăn là mình Người và điều họ uống là máu Người, máu đỗ ra để tha tội. Trong Maccô, Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng điều họ ăn là mình Người và điều họ uống là máu Người, máu đỗ ra cho nhiều người. Trong Luca, Chúa Giêsu nhấn mạnh rằng điều họ ăn là mình Người và điều họ uống là máu người, và họ phải tiếp tục làm như vậy để nhớ đến Người.

Cũng một viễn cảnh được Thánh Phaolô ghi lại như là một nghi thức mà ngài truyền lại cho các tín hữu Corintô (1 Cor 11: 23-26). Và Thánh Gioan, tuy ngài không ghi lại những lời truyền phép nhưng sự rửa chân trong buổi Tiệc Cuối (13:1-20), qui chiếu về Thánh Thể nhiều hơn suốt sách Tin Mừng của ngài hơn là bất cứ Tin Mừng nhất lãm khác.

Điều rõ ràng từ Kinh Thánh là Chúa Giêsu muốn khai trương bí tích Thánh Thể trong buổi Tiệc Cuối một cách thế nào để về sau các môn đệ tiếp tục. Và đó đúng là điều Thánh Phaolô, như nhiều người khác trong Giáo Hội sơ khai, đang làm khi ngài đem Thánh Lễ tới Côrintô. Thánh Lễ là di chúc lớn nhất của Chúa Giêsu cho Giáo Hội. Chính trong Thánh Lễ chúng ta ăn bánh và uống chén và, do đó," loan truyền Chúa đã chịu chết cho đến ngày Chúa đến" (1 Cor.11:16).

Trong sự tương tự của đức tin, chúng ta thấy điều quan trọng dường nào là liên hệ mầu nhiệm Nhập Thể với Thánh Thể, hai "thời buổi" khi Thiên Chúa trở nên rất gần chúng ta bằng cách làm một người như chúng ta và bằng cách hiến mình cho chúng ta làm của ăn dưới hình thức bánh và rượu. Chắc không phải là chuyện tình cờ là Thời Trung Cổ xuất hiện một truyền thống bắt linh mục đọc Gioan 1:1-18 cuối Thánh Lễ như một hành vi sốt sắng riêng.

Đức Giáo Hoàng Piô V đã bao gồm những câu đó trong Sách Lễ Roma của ngài (1570), nơi những câu đó được gọi là "Tin Mừng Cuối." Sư cầu xin cho được hiểu biết thâm sâu hơn về sự nhập thể và Thánh Lễ, đem chúng ta tới gần Chúa Giêsu hơn, là Ngôi Lời làm người, "từ nguồn sung mãn của Người, tất cả chúng ta đã lãnh nhận hết ơn này tới ơn khác" (Ga 1:16).