
Nicole Winfield của Associated Press, trong bản tin ngày 19 tháng 4 năm 2026 của tạp chí Crux, tường trình từ Luanda, Angola rằng: Đức Giáo Hoàng Leo XIV hôm Chúa nhật kêu gọi người dân Angola chống lại “nạn tham nhũng” bằng một nền văn hóa công lý khi ngài mở đầu một ngày đầy ý nghĩa trong chuyến hành trình châu Phi của mình, đưa vị giáo hoàng người Mỹ đến một tâm điểm của nạn buôn bán nô lệ châu Phi.
Đức Leo đã cử hành Thánh lễ trước khoảng 100,000 người bên ngoài thủ đô và một lần nữa tìm cách khích lệ người dân Angola. Ngài lên án việc bóc lột đất đai giàu khoáng sản và người dân của họ, những người vẫn còn mang những vết sẹo của cuộc nội chiến tàn khốc sau độc lập.
Ngài phát biểu tại Kilamba, một khu đô thị do Trung Quốc xây dựng cách thủ đô khoảng 25 km: “Chúng ta mong muốn xây dựng một đất nước nơi những chia rẽ cũ được xóa bỏ hoàn toàn, nơi hận thù và bạo lực biến mất, và nơi nạn tham nhũng được chữa lành bằng một nền văn hóa mới của công lý và chia sẻ”.
Ngài cũng ca ngợi lệnh ngừng bắn ở Lebanon giữa Israel và Hezbollah là một “dấu hiệu của hy vọng” mà ngài cầu xin sẽ mang lại hòa bình lâu dài cho Trung Đông.
Chiều Chúa nhật, Đức Leo sẽ cử hành kinh Mân Côi tại Đền Thánh Đức Mẹ Muxima, một thánh địa Công Giáo quan trọng nằm bên bờ sông Kwanza, cách Luanda khoảng 110 km về phía nam.
Nhà thờ Đức Mẹ Muxima, được xây dựng bởi thực dân Bồ Đào Nha vào cuối thế kỷ 16 như một phần của quần thể pháo đài, đã trở thành trung tâm của hoạt động buôn bán nô lệ. Đó là nơi những người châu Phi bị bắt làm nô lệ được tập trung để làm lễ rửa tội bởi các linh mục Bồ Đào Nha trước khi bị buộc phải đi bộ đến cảng Luanda để lên tàu đến châu Mỹ.
Mặc dù ngày nay đây là thánh địa Công Giáo nổi tiếng nhất Angola, lịch sử của nó lại mang tính biểu tượng cho vai trò của Giáo Hội Công Giáo trong nạn buôn bán nô lệ, việc ép buộc rửa tội cho những người nô lệ và điều mà một số học giả cho rằng đó là việc Tòa Thánh tiếp tục từ chối thừa nhận và chuộc lỗi một cách đầy đủ về điều này.
Chuyến thăm này đặc biệt có ý nghĩa vì theo nghiên cứu phả hệ, tổ tiên người Creole của vị Giáo hoàng đầu tiên sinh ra tại Hoa Kỳ bao gồm cả những người nô lệ và chủ nô.
Anthea Butler, nghiên cứu viên cao cấp tại Trung tâm Koch, Đại học Oxford, cho biết: “Đối với những người Công Giáo da đen, chuyến thăm của Đức Giáo Hoàng Leo đến Đền thánh Muxima là một khoảnh khắc quan trọng của sự hàn gắn”.
Bà lưu ý rằng nhiều người Công Giáo da đen theo đạo Công Giáo vì chế độ nô lệ và “Bộ luật Đen”, mà theo bà, yêu cầu những nô lệ được mua bởi chủ sở hữu Công Giáo phải được rửa tội trong nhà thờ.
Butler, một học giả Công Giáo da đen có gia đình bên mẹ đến từ Louisiana, nơi tổ tiên của Đức Giáo Hoàng cũng có nguồn gốc, cho biết: “Những người khác đã theo đạo Công Giáo khi họ bị buôn bán từ Angola đến các thuộc địa có chế độ nô lệ”.
Vai trò của các sắc lệnh giáo hoàng trong nạn buôn bán nô lệ
Những người thực dân Bồ Đào Nha ở Angola đã được khuyến khích bởi các chỉ thị từ Vatican vào thế kỷ 15, cho phép họ bắt những người không theo Ki-tô giáo làm nô lệ.
Ví dụ, theo Cha Christopher J. Kellerman, một linh mục dòng Tên và tác giả của cuốn sách “Mọi sự áp bức sẽ chấm dứt: Lịch sử chế độ nô lệ, phong trào bãi bỏ chế độ nô lệ và Giáo Hội Công Giáo”, vào năm 1452, Đức Giáo Hoàng Nicholas V đã ban hành sắc lệnh Dum Diversas, trao cho vua Bồ Đào Nha và những người kế vị quyền “xâm lược, chinh phục, chiến đấu và khuất phục” và chiếm đoạt tất cả tài sản — bao gồm cả đất đai — của “người Saracen, người ngoại đạo và những kẻ bội giáo khác, và kẻ thù của danh Chúa Kitô” ở bất cứ đâu.
Sắc lệnh này cũng cho phép người Bồ Đào Nha “biến người dân của họ thành nô lệ vĩnh viễn”.
Sắc lệnh đó và một sắc lệnh khác được ban hành ba năm sau đó, Romanus Pontifex, đã hình thành nên cơ sở của Học thuyết Khám phá, lý thuyết hợp pháp hóa việc chiếm đoạt đất đai thời thuộc địa ở châu Phi và châu Mỹ. Năm 2023, Vatican chính thức bác bỏ Học thuyết Khám phá, nhưng chưa bao giờ chính thức hủy bỏ, bãi bỏ hoặc bác bỏ các sắc lệnh của Giáo hoàng. Vatican khẳng định rằng một sắc lệnh sau đó, Sublimis Deus năm 1537, đã tái khẳng định rằng người bản địa không nên bị tước đoạt tự do hoặc quyền sở hữu tài sản của họ, và không được phép bị bắt làm nô lệ.
Kellerman nhắc lại rằng hầu hết trong số 12.5 triệu người châu Phi là nạn nhân trực tiếp của nạn buôn bán nô lệ xuyên Đại Tây Dương đều bị bán làm nô lệ bởi những người châu Phi khác chứ không phải bị người châu Âu bắt giữ.
“Tuy nhiên, vào thời điểm xây dựng Muxima, người Bồ Đào Nha đang làm cả hai việc — mua người làm nô lệ và xâm chiếm thuộc địa/cướp bóc nô lệ. Vì vậy, họ đã hoàn toàn sử dụng quyền hạn của Giáo hoàng trong thời gian này,” ông nói trong email gửi cho Associated Press.
Ông nói rằng vị giáo hoàng đầu tiên lên án chế độ nô lệ là Đức Giáo Hoàng Leo XIII, người cùng tên và là nguồn cảm hứng cho vị giáo hoàng hiện tại, trong hai thông điệp năm 1888 và 1890, sau khi hầu hết các quốc gia đã bãi bỏ chế độ nô lệ. Nhưng Kellerman nói rằng vị giáo hoàng đó và những người khác kể từ đó đã tiếp tục duy trì "lời kể sai lệch" rằng Tòa Thánh luôn phản đối chế độ nô lệ, trong khi lịch sử lại chứng minh điều ngược lại.
Trong khi chuyến thăm Muxima của Đức Giáo Hoàng Leo là để tôn vinh vai trò của nơi này như một đền thánh, Kellerman cho biết ông hy vọng chuyến thăm cũng sẽ cho Đức Giáo Hoàng Leo cơ hội tìm hiểu về lịch sử buôn bán nô lệ.
“Các giáo hoàng đã nhiều lần cho phép nỗ lực thuộc địa hóa của Bồ Đào Nha ở châu Phi và sự tham gia của Bồ Đào Nha vào buôn bán nô lệ, nhưng Vatican chưa bao giờ hoàn toàn thừa nhận điều này,” ông nói. “Sẽ thật mạnh mẽ nếu vào một thời điểm nào đó, Đức Giáo Hoàng Leo xin lỗi về vai trò của các giáo hoàng trong hoạt động buôn bán này.”
Trong chuyến thăm Cameroon năm 1985, Thánh Gioan Phaolô II đã xin lỗi người dân châu Phi về nạn buôn bán nô lệ thay mặt cho những người Kitô hữu đã tham gia vào đó, mặc dù không phải về vai trò của chính Tòa Thánh. Trong chuyến thăm đảo Goree, Senegal năm 1992, trung tâm buôn bán nô lệ lớn nhất ở Tây Phi, ngài đã lên án sự bất công của chế độ nô lệ và gọi đó là “bi kịch của một nền văn minh tự xưng là Kitô hữu.”
Lịch sử bản thân của Đức Leo là một điểm đáng suy gẫm
Theo nghiên cứu phả hệ do Henry Louis Gates Jr. công bố, 17 tổ tiên người Mỹ của Đức Leo là người da đen, được ghi trong hồ sơ điều tra dân số là người lai, người da đen, người Creole hoặc người da màu tự do. Cây phả hệ của ông bao gồm cả chủ nô và người nô lệ, Gates cho biết trong một bài luận trên tờ New York Times.
Gates, một giáo sư Đại học Harvard, người dẫn chương trình phim tài liệu nổi tiếng “Finding Your Roots” của PBS, đã trình bày nghiên cứu của mình cho Đức Leo trong buổi tiếp kiến ngày 5 tháng 7 tại Vatican. Theo một báo cáo về cuộc gặp gỡ của họ trên tờ The Harvard Gazette, “Đức Giáo Hoàng đã hỏi về tổ tiên, cả người da đen và người da trắng, những người từng là chủ nô.”
Đúc Leo chưa từng công khai nói về nguồn gốc gia đình mình hay nghiên cứu của Gates, và một số học giả Công Giáo da đen ngần ngại áp đặt lên ngài một câu chuyện về danh tính mà chính ngài chưa từng công khai đề cập.
“Điều quan trọng là chúng ta phải kể câu chuyện của chính mình,” Tia Noelle Pratt, một nhà xã hội học tôn giáo và giáo sư tại Đại học Villanova, trường cũ của Đức Giáo Hoàng, cho biết.
Pratt, tác giả của cuốn sách “Trung thành và Tận tụy: Chủ nghĩa phân biệt chủng tộc và bản sắc trong trải nghiệm Công Giáo của người Mỹ gốc Phi”, nói: “Chúng tôi chưa nghe được gì từ ngài về suy nghĩ của ngài về vấn đề này, vì vậy việc áp đặt bất cứ điều gì lên ngài, tôi nghĩ là hoàn toàn không phù hợp”.
Đức Hồng Y Wilton Gregory, tổng giám mục đã nghỉ hưu của Washington và là Hồng Y người Mỹ gốc Phi đầu tiên, cho biết ngài đã tạo điều kiện cho cuộc gặp gỡ giữa Gates và Đức Leo và “rất vui mừng” vì đã làm như vậy.
“Đó là một trong những điều mà tôi nghĩ đối với nhiều người Mỹ gốc Phi và người da màu, họ tự hào khi biết rằng Đức Giáo Hoàng có nguồn gốc từ di sản của chính chúng ta,” ĐHY Gregory nói với AP. “Và tôi nghĩ ngài cũng hạnh phúc về điều đó, bởi vì đó là một mối liên hệ khác với những người mà ngài cố gắng phục vụ và được kêu gọi phục vụ.”
Phát biểu của Đức Leo tại Đền thánh Muxima
Trái với suy đoán, tại Đền Đức Mẹ Muxima, Đức Leo không nhắc chi tới quá khứ, chỉ nói tới Kinh Mân Côi và ý nghĩa của nó đối với hiện tại và tương lai:
Anh chị em thân mến, các bạn trẻ, các thành viên của Đạo binh Đức Mẹ và những người sùng kính Mẹ Muxima, Mẹ của Trái Tim thân mến , tôi rất vui được chia sẻ khoảnh khắc đọc kinh Thánh Mẫu này với anh chị em.
Chúng ta đã cùng nhau đọc Kinh Mân Côi, một hình thức sùng kính cổ xưa và giản dị bắt nguồn từ Giáo Hội như một hình thức cầu nguyện cho tất cả mọi người. Thánh Gioan Phaolô II đã mô tả đó là lời cầu nguyện của một Kitô giáo đã gìn giữ “sự tươi mới của khởi đầu và cảm thấy được Thánh Linh của Thiên Chúa thúc giục để ‘ra khơi sâu thẳm’… để loan báo, thậm chí kêu lên trước thế giới rằng Chúa Giêsu Kitô là Chúa và Đấng Cứu Thế” (Tông thư Rosarium Virginis Mariae, 1).
Khi tôi nhìn thấy tất cả anh chị em và chia sẻ khoảnh khắc tha thiết và sốt sắng này với Giáo Hội trẻ trung và sống động của Angola, tôi thấy rằng những lời của vị tiền nhiệm thánh thiện của tôi đặc biệt thích hợp cho cộng đồng tuyệt vời này, nơi người ta thực sự có thể cảm nhận được sự tươi mới của đức tin và sức mạnh của Thánh Linh.
Chúng ta đang ở trong một đền thánh, nơi mà trong nhiều thế kỷ, biết bao người nam và nữ đã cầu nguyện trong những lúc vui mừng cũng như trong những khoảnh khắc đau buồn và khổ đau tột cùng trong lịch sử đất nước này. Từ lâu, Mẹ Muxima đã âm thầm làm việc để giữ cho trái tim của Giáo hội luôn sống động và đập mạnh. Trái tim của Mẹ chứa đựng vô số trái tim: trái tim của anh chị em, và của rất nhiều người yêu thương, cầu nguyện, cử hành thánh lễ, khóc than, và đôi khi – ngay cả khi không thể đến trực tiếp – vẫn gửi gắm những lời thỉnh cầu và thỉnh nguyện của mình qua thư từ, như Đức Cha đã đề cập. Mẹ Muxima chào đón tất cả mọi người, lắng nghe tất cả mọi người và cầu nguyện cho tất cả mọi người.
Chúng ta đã suy niệm các Mầu nhiệm Sáng trong cuộc đời Chúa Giêsu, chiêm niệm vận mệnh của chúng ta trong sự tôn vinh của Người và sứ mệnh của chúng ta trong tình yêu của Người. Vào Lễ Phục Sinh, Chúa Kitô đã chiến thắng cái chết, chỉ cho chúng ta con đường trở về với Chúa Cha. Và để chúng ta cũng có thể bước đi trên con đường rạng rỡ và đầy thử thách này, chia sẻ vẻ đẹp của nó với toàn thế giới, Người đã ban cho chúng ta Thánh Linh, Đấng làm cho chúng ta sống động và nâng đỡ chúng ta trên hành trình và trong sứ mệnh của mình. Giống như Đức Mẹ Maria, chúng ta cũng được tạo dựng cho thiên đàng. Khi chúng ta hân hoan hướng về thiên đường, chúng ta nhìn đến Mẹ như người Mẹ hiền lành và là mẫu mực thánh thiện. Noi theo gương Mẹ, chúng ta mang ánh sáng của Đấng Phục Sinh đến cho anh chị em mà chúng ta gặp gỡ. Chúng ta đã thể hiện điều này một cách tượng trưng vào đầu mỗi chục kinh Mân Côi, được đại diện bởi những người thuộc mọi ơn gọi và lứa tuổi.
Như Đức Giám Mục Sumbelelo đã chỉ ra, đền thờ này, được dâng hiến cho Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội, đã được tự phát “đổi tên”bởi các tín hữu thành Đền “Mẹ của Trái Tim”. Đó là một danh hiệu đẹp đẽ, khiến chúng ta suy gẫm về trái tim của Đức Mẹ Maria: một trái tim trong sạch và khôn ngoan, có khả năng trân trọng và suy tư về những sự kiện phi thường trong cuộc đời của Con Thiên Chúa (xem Lc 2:19, 51). Cùng nhau cầu nguyện, chúng ta cũng đã làm như vậy, để cho Đức Mẹ hướng dẫn chúng ta trong việc suy niệm Chúa Giêsu. Chúng ta đã cùng Mẹ tìm lại những khoảnh khắc khác nhau trong cuộc đời của Con Mẹ, để nuôi dưỡng trong chúng ta một tình yêu phổ quát như tình yêu của Mẹ (xem Rosarium Virginis Mariae, 11).
Việc cầu nguyện Kinh Mân Côi, do đó, cam kết chúng ta yêu thương mọi người bằng tấm lòng của người mẹ – một cách cụ thể và quảng đại – và tận hiến bản thân cho lợi ích của nhau, đặc biệt là những người nghèo khổ nhất. Một người mẹ yêu thương tất cả các con của mình như nhau và bằng cả trái tim, dù mỗi đứa con đều khác nhau. Trước sự hiện diện của Mẹ Trái Tim, chúng ta cũng muốn hứa sẽ làm như vậy. Chúng ta nỗ lực hết sức để không ai thiếu thốn tình yêu thương. Chúng ta cũng tìm cách cung cấp những nhu yếu phẩm để sống một cuộc sống có phẩm giá và hạnh phúc: để người đói có đủ ăn, người bệnh được chăm sóc cần thiết, trẻ em được đảm bảo một nền giáo dục tốt đẹp, và người già được sống những năm tháng cuối đời trong bình an. Một người mẹ nghĩ đến tất cả những điều này. Thật vậy, Đức Mẹ nghĩ đến tất cả những điều này, và Mẹ cũng mời gọi chúng ta chia sẻ lòng quan tâm từ mẫu của Mẹ.
Các bạn trẻ, các thành viên của Đạo binh Đức Mẹ, anh chị em thân mến, Đức Mẹ mời gọi chúng ta hãy để tâm hồn mình được lay động bởi những tình cảm trong trái tim Mẹ, để giống như Mẹ, chúng ta có thể là những người kiến tạo công lý và người mang lại hòa bình. Tại đây, một dự án trọng đại đang được tiến hành: xây dựng một đền thờ mới, có khả năng đón tiếp tất cả những ai đến hành hương. Mọi người — đặc biệt là các bạn trẻ — nên coi đây là một dấu hiệu. Bởi vì Mẹ Thiên Chúa cũng giao phó cho các bạn một dự án trọng đại: xây dựng một thế giới tốt đẹp hơn, tràn đầy tình yêu thương, nơi không còn chiến tranh, bất công, nghèo đói hay gian dối, và nơi các nguyên tắc của Tin Mừng ngày càng truyền cảm hứng và định hình trái tim, cấu trúc và chương trình, vì lợi ích của tất cả mọi người.
Tình yêu phải chiến thắng, chứ không phải chiến tranh! Đây là điều mà trái tim của Đức Mẹ Maria — trái tim của Mẹ muôn loài — dạy chúng ta. Vậy nên, từ đền thờ này, chúng ta hãy lên đường như những “thiên thần sứ giả” của sự sống, mang vòng tay dịu dàng của Đức Mẹ và ơn phước của Chúa đến cho mọi người.
Mama Muxima, tueza kokué, Mama Muxima, tutambululé: “Mẹ của Trái Tim, chúng con đến với Mẹ để dâng lên Mẹ tất cả.” Đó là lời bài thánh ca dành cho Mẹ Muxima, và bài ca tiếp tục: “Chúng con đến để xin ơn phước của Mẹ.”
Các bạn thân mến, chúng ta hãy dâng hiến mọi sự cho Đức Mẹ Maria, hiến dâng trọn vẹn bản thân mình cho anh chị em, và hãy vui mừng đón nhận ơn lành của Chúa nhờ lời cầu bầu của Mẹ, để chúng ta có thể mang ơn lành ấy đến cho mọi người mà chúng ta gặp gỡ. Amen