Ðức Gioan Phaolô II suy gẫm về một kinh giữa cảnh ngặt nghèo

VATICAN (Zenit. org).- Toàn văn bài huấn đức của Ðức Gioan Phaolô II, suy gẫm vế Thánh Vịnh 142(143) trong buổi triều yết chung hôm Thứ Tư 9/7, cũng là buổi triều yết cuối cùng tại Roma trước khi Ðức Thánh Cha đi nghỉ hè tại Castel Gandolfo vào ngày Thứ Năm 10/7.

* * *



1.Thánh Vịnh 142[143] vừa được công bố, là Thánh Vịnh cuối cùng trong số Thánh Vịnh gọi là Sám hối, Thánh Vịnh cấu tạo nên 7 lời cầu khẩn phân phối trong sách Thánh Vịnh (x. Thánh Vịnh 6; 31; 37; 50; 101; 129; 142). Truyền thống Kitô hữu đã xử dụng những lời cầu khẩn đó để xin Chúa tha thứ tội lổi. Đoạn văn chúng ta muốn suy gẫm hôm nay được Thánh Phaolô đặc biệt ưa thích, Ngài suy luận bản chất tội lỗi của tất cả mọi người: "trước thánh nhan chẳng có người nào là công chính" (c.2). Câu này được thánh tông đồ xử dụng làm nền tảng huấn Giáo của Ngài về tội và ân sủng (x. Gal. 2:16; Rom.3:20).

Phụng vụ Kinh Sáng đề nghị lời cầu khẩn này với chúng ta như một dốc quyết sống trung thành và biết cầu xin ơn Chúa giúp khi ngày mới bắt đầu. Thật vậy, Thánh Vịnh dạy chúng ta thưa với Chúa: "Ngay từ buổi sớm mai xin cho con nghiệm thấy tình thương của Chúa, vì con vẫn tin cậy nơi Ngài" (Tv 142[143]:8).

2. Thánh Vịnh khởi sự bằng một lời khẩn nguyện hùng mạnh và kiên trì dâng lên ThiênChúa, Đấng thành tín với những lời hứa ban ơn cứu độ cho dân chúng (x.c.1). Người cầu nguyện biết mình không có công trạng gì làm cho mình nên xứng đáng và do đó, khiêm tốn cầu xin Thiên Chúa đừng lấy thái độ của một thẩm phán (x. c.2)



Sau đó ông mô tả hoàn cảnh bi thương, giống như một cơn ác mộng ghê gớm, mà ông đang phải chiến đấu. Kẻ thù, ám chỉ sự dữ trong lịch sử và trong thế giới, đã đưa ông tới ngưỡng cửa sự chết. Thật thế, ở đó ông sấp mình trong bụi đất, chỉ hình ảnh nấm mồ, ông nói đến sự tối tăm, tức là sự thiếu ánh sáng, dấu chỉ thần linh sự sống; và sau cùng, ông nhắc đến "những người đã chết từ bao thuở", tức là, những kẻ chết (c.3), mà ông tưởng mình đã bị liệt vào trong số họ.

3. Chính mạng sống của Tác giả Thánh Vịnh cũng bị phá hủy: Tới lúc này ông không còn hơi thở, tim ông giống như một cục nước đá, không có khả năng đập nhịp (x.c.4). Đối với người tín hữu, khiếp sợ và bị chà đạp, chỉ còn đôi tay được tự do giơ lên trời trong một cử chỉ vừa cầu xin sự giúp đỡ vừa kiếm tìm sự nâng đỡ (x. c.6). Những tư tưởng của ông quay về quá khứ khi Chúa đã thực hiện những kỳ công (x. c.5).

Tia sáng hy vọng đốt nóng cục nước đá đau khổ và thử thách, trong đó người cầu nguyện cảm thấy mình bị chìm ngập và hầu tàn (x.c.7).Dầu sao, sự căng thẳng vẫn còn, mạnh mẽ chưa từng có, nhưng một tia sáng xem ra xuất hiện trên chân trời. Như vậy chúng ta bước sang phần thứ hai Thánh Vịnh (x. cc. 7-11).

4. Phần này khởi sự với một lời cầu khẩn mới và khẩn thiết. Người tín hữu cảm thấy sự sống đang đào thoát khỏi họ, nên kêu lớn tiếng với Thiên Chúa: "Xin mau đáp lời con, lạy Chúa; hơi thở con nay đã hầu tàn" (x.c. 7). Còn điều gì nữa, ông sợ Chúa ẩn mặt và xa cách, bỏ rơi ông và bỏ mặc tạo vật của người một mình.

Sự ẩn mặt của Thiên Chúa làm cho con người cảm thấy rơi vào nỗi cô đơn, thật sự là rơi vào chính cõi chết, vì Chúa là nguồn mạch sự sống. Chính lúc lâm vào giới hạn tột cùng này mới nẩy sinh sự tin tưởng vào Chúa, là Ðấng không tử bỏ. Con người cầu nguyện tăng gấp đôi lời khấn xin của mình và nương tựa vào qua những lời tuyên bố trong cậy nơi Thiên Chúa. "Vì con vẫn tin cậy Ngài.. . vì con nâng tâm hồn lên cùng Chúa.. . Lạy Chúa bên Ngài con trú ẩn.. . bởi Ngài là Thiên Chúa của con."

Ông xin dược thoát khỏi địch thù (x.cc.8-12) và thoát khỏi cảnh ngặt nghèo (x c. 11) nhưng ông cũng lập lại một lời xin, chứng tỏ một ước vọng thiêng liêng sâu xa: "Điều đẹp ý Ngài xin dạy con thực hiện, bởi Ngài là Thiên Chúa của con" (c.10a; x. cc.8b, 10b). Chúng ta phải coi lời cầu xin đáng khâm phục này như là của chúng ta. Chúng ta phải hiểu rằng lợi ích lớn nhất của chúng ta là sự kết hợp ý muốn chúng ta với ý muốn của Cha trên trời, bởi vì chỉ bằng cách này chúng ta có thể nhận lấy tất cả tình yêu của Người, tình yêu mang đến sự cứu rỗi và sự viên mãn sự sống. Nếu không kèm theo một sư ao ước mạnh vâng phục Chúa, thì lòng tin cậy của chúng ta vào Người sẽ không chân thành.

Con người cầu nguyện ý thức về điều này và do đó bày tỏ ý muốn này. Ông cất cao một lời tuyên xưng Ðức tin chân thật và thích hợp lên tới Chúa Đấng Cứu chuộc, Người đập tan cảnh ngặt nghèo và khôi phục hương vị sự sống, nhân danh Ðức "công chính" của Người, nói một cách khác, nhân danh sư trung thành yêu mến và cứu độ của Người (x. c.11). Nẩy sinh từ một tình huống hết sức ngặt nghèo, sự cầu nguyện dẫn tới niềm hy vọng, nguồn vui và ánh sáng, nhờ một sự gắn bó chân thành với Thiên Chúa và theo ý định của Người, đó là một ý muốn của tình yêu. Đó là quyền lực của sự cầu nguyện, sinh sản sự sống và ơn cứu rỗi.

5. Hướng mắt nhìn ánh sáng ân sủng ban mai (x.c.8), Thánh Gregory Cả, trong bài bình luận về 7 Thánh Vịnh sám hối, diễn tả bình minh hy vọng và niềm vui như sau: " Đó là ngày được chiếu sáng bởi mặt trời chân thật không hề lặn, những áng mây không làm lu mờ và sương mù không thể che khuất.. . Khi Chúa Kitô, ánh sáng của chúng ta xuất hiện, và chúng ta bắt đầu thấy Chúa với gương mặt thật, bấy giờ mọ bóng tối sẽ biến đi, làn khói sự dốt nát sẽ tiêu tan, sương cám dỗ sẽ tan biến.. . Đó là ngày sáng và lộng lẩy nhất, được chuẩn bị cho tất cả những người Chúa chọn, Chúa là Đấng nắm lấy chúng ta khỏi quyền lực tối tăm và đã đem chúng ta vào vương quốc người Con yêu quí của Người.



Buổi sáng của ngày này là sự phục sinh tương lai.. . Trong buổi sớm mai đó hạnh phúc của người công chính sẽ chiếu sáng, vinh quang sẽ xuất hiện, niềm hân hoan sẽ được thấy, khi Chúa sẽ tẩy xóa mọi nước khóc khỏi mắt các thánh, khi sự chết cuối cùng cũng sẽ bị tiêu hủy, khi người công chính sẽ chiếu sáng như mặt trời trong vương quốc Chúa Cha.

”Buổi sáng đó, Chúa sẽ cho cảm giác thấy lòng thương xót của Người, khi nói rằng: ‘Hãy đến, những kẻ được Cha Ta chúc phúc' (Mat. 25: 34). Bấy giờ lòng thương xót của Chúa sẽ được biểu lộ, lòng thương xót, trong đời sống hiện tại, trí khôn loài người không thể hiểu được.Trên thực tế, Chúa đã chuẩn bị cho những người yêu mến Chúa điều mà không mắt nào thấy được và không tai nào nghe được, và lòng trí con người cũng không hiểu thấu được". (LF 79, coll. 649-650).

Cuối buổi triều yết, Ðức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:

Anh chị em thân mến,

Thánh Vịnh 142 là Thánh Vịnh cuối cùng của những Thánh Vịnh gọi là Sám hối. Thánh Vịnh này kêu xin lời hứa cứu độ của Chúa và nhắc đến những kỳ công quà khứ mà Chúa đã thực hiện. Đứng trước nghịch cảnh và những thử thách, dân thánh Chúa không mất hy vọng, đúng hơn, họ kêu tới Chúa, vì tin tưởng Chúa sẽ nghe họ và trả lời. Như vậy chúng ta thấy sức mạnh thật của sự cầu nguyện, Đối với những ai đặt tin tưởng vào tình yêu trung thành và cứu độ của Chúa, thì sự cầu nguyện mang lại hy vọng, niềm vui vá ánh sáng và dẫn tới sự sốnhg muôn đời.

Tôi xin chào cách riêng những khách hành hương nói tiếng Anh hiện diện hôm nay, cách riêng những người đến từ Scotland, Tân Tây Lan và Hoa Kỳ. Mong kỳ nghỉ và giải trí mùa hè này mang lại cho anh chị niềm vui và sức mạnh mới trong Chúa Giêsu Chúa chúng ta. Chúc anh chị em những ngày nghỉ hạnh phúc!