Ngài suy gẫm về Thánh V 143 [144]
Vatican (ZENIT.org).- Đây là bản dịch bài phát biểu của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung ngày thứ Tư hàng tuần 21/5, mà Ngài dành cho Thánh V 143 [144], một bài ca xin ơn hòa bình.
Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn,
Là Đấng dạy tôi nên người thiện chiến,
Luyện thành tay võ nghệ cao cường.
Chúa là đồng minh, là đồn lũy che chở,
Là thành trì bảo vệ, là Đấng giải thoát tôi.
Chúa là khiên mộc cho tôi ẩn núp,
Người bắt chư dân quy phục quyền tôi.
Lạy Chúa, con người có là chi mà Chúa cần biết đến?
Phàm nhân đáng là gì mà Chúa phải lưu tâm?
Ấy con người khác chi hơi thở,
vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu.
Lạy Chúa, xin nghiêng trời ngự xuống,
chạm núi cao cho tỏa khói mịt mù;
Xin tung chớp lòa khiến địch quân tán loạn,
Phóng tên bay làm chúng phải rã tan!
Từ cao thẳm xin đưa tay giải thoát,
Cứu con lên khỏi đáy nước mênh mông;
Khỏi thế lực nước ngoài,
Miệng chúng nói toàn điều xảo trá,
Giơ tay thề chỉ biết thề gian!

Lạy Chúa Trời, xin dâng Chúa một bài ca mới,
Thập huyền cầm, con gảy đôi cung.
Chính Ngài cho các vua thắng trận,
Cứu mạng David kẻ trung thần.
1 Chúng ta mới nghe phần thứ nhất Thánh V 143 [144]. Phần này có những đặc tính một thánh thi vương giả, kết hợp với những bản văn kinh thánh khác, ban sức sống cho một tác phẩm cầu nguyện (x. Tv 8: 5; 17: 8-15; 32: 2-3; 38:6-7). Người đang nói chính là vua David, ông biết nguồn gốc thần linh của những thành công mình. Đức Chúa được mô tả bằng những hình ảnh hùng dũng, theo thói quen biểu tượng cổ xưa: trên thực tế, Đức Chúa được thấy như một huấn luyện viên quân sự (x. Tv 143:1), một thành lũy kiên cố, một thuẩn đỡ an toàn, Một kẻ chiến thắng (x.c. 2). Như thế, cá tính của Chúa được biểu dương, Chúa dấn thân chống lại sự dữ trong lịch sử; Người không phải là một quyền lực u tối, hay là một thứ định mệnh, cũng không phải là vương đế vô cảm vô tư đối với những công việc con người. Những qui chiếu và cái cung của việc cử hành thánh này bị ảnh hưởng bởi thánh thi vua David gặp được trong Thánh Vịnh 17 và trong chương 22 Quyển Hai sách Samuen.
2. Trước quyền lực thần linh, vua Do thái thấy mình mỏng giòn và yêu đuối như tất cả mọi người. Để diển tả cảm giác này, vua cầu nguyện xử dụng hai câu trong Thánh Vịnh 8 và 38, và vua kết hợp làm chúng có được một sự hiệu nghiệm mới và hùng mạnh hơn: “Lạy Chúa, con người có là chi mà Chúa cần biết đến; Phàm nhân đáng là gì mà Chúa phải lưu tâm? Ấy con người khác chi hơi thở, vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu” (x. cc.3-4). Niềm xác tín vững mạnh xuất hiện ở đây, là chúng ta hay mâu thuẩn, tựa một hơi gió, nếu Đấng sáng tạo không nâng đỡ chúng ta trong sự sống, như ông Job nói vì Người nắm trong tay Người ” hồn của mọi sinh vật cũng như hơi thở của tất cả người phàm” (12: 10). Duy với sự nâng đỡ của Chúa chúng ta mới có thể thắng những nguy hiểm và những khó nhọc rải rác trong mỗi ngày đời sống chúng ta. Duy nhờ cậy dựa vào sự giúp đỡ bởi Trời, chúng ta mới có khả năng dấn thân, như vua xưa Israel, đi tới sự tự do khỏi mọi áp bức.
3 Sự can thiệp của Chúa được mô tả với những hình ảnh vũ trụ và lịch sử, ngõ hầu minh họa quyền thống trị của Chúa trên vũ trụ và trên những công việc loài người. Hãy ngắm nhìn những ngọn núi phun khói trong những trận bộc phát thình lình của núi lửa (x. c.5). Hãy nhìn những làn chóp sấm sét xem như những mũi tên Chúa bắn ra, sẳn sàng đánh bại sự dữ (x.c,6) Sau cùng, hãy xem, “những đáy nước mênh mông” mà, trong ngôn ngữ kinh thánh, là những biểu trưng của sự hỗn mang, sự dữ và của sự hư không, nói tắt một lời, của những sức mạnh tiêu cực trong lịch sử (x.c.7). Liên kết với những hình ảnh vũ trụ này lại có những hình ảnh khác thuộc bản tính lịch sử: chúng là những “địch quân” (x. c.6), những “quân thù nước ngoài” (x. 7), những kẻ nói dối và thề gian, nghĩa là những kẻ thờ ngẫu tượng )x. c.8).
Đó là một phương cách rất cụ thể và có tính phương Đông để diễn tả sự dữ, sự suy đồi, sự áp bức và bất công: những thực tại kinh khủng mà Chúa cứu chúng ta thoát khỏi, khi chúng ta đi vào trong thế gian.
4. Thánh Vịnh 143 [144], như Phụng vụ kinh sáng đề nghị với chúng ta, kết thúc với một thánh thi ngắn tạ ơn (x. cc.9-10). Thánh thi phát sinh từ sự quả quyết Chúa sẽ không bỏ chúng ta trong cuộc tranh đấu với sự dữ. Do đó, người cầu nguyện xướng lên một giai điệu kèm theo thập huyền cầm, vì ông chắc Chúa “ban thắng trận cho đấng xức dầu cùa Người và cứu thoát David,trung thần của Người “ (x. 0-10).
Tiếng “được xức dầu” trong tiếng Do thái có nghĩa là “Messiah”: do đó, chúng ta đứng trước một Thánh Vịnh vương giả,Thánh Vịnh này đã được biến đổi, rong việc xử dụng phụng vụ của dân Israel xưa, thành một bài ca cứu thế. Chúng ta là những Kitô hữu, lập lại bài ca này mắt hướng nhìn Chúa Kitô, đấng giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ và nâng đỡ chúng ta trong trận chiến chống những quyền lực ẩn núp, bại hoại. Thật vậy, trận chiến không phải “chống lại phàm nhân, nhưng chống lại những quyền lực thần thiêng, chống lại những bậc thống trị thế giới tối tăm này, chống lại những những thần linh quái ác chốn trời cao “ (Eph 6: 12)
5. Chúng ta hãy kết thúc với một sự suy nghĩ được Thánh John Cassian gợi ý, Ngài là đan sĩ của thế kỷ thứ 4-5, sống tại Gaul. Trong tác phẩm của Ngài The Incarnation of the Lord, khi lấy sự gợi ý từ câu 5 của Thánh Vịnh chúng ta- “lạy Chúa, xin nghiêng trời ngự xuống,” -Ngài thấy trong những lời này sự chờ đợi Chúa Kitô đi vào trong thế giới. Và Ngài tiếp tục như vầy: “Tác giả Thánh Vịnh cầu xin... Chúa tỏ mình ra trong xác thịt, xuất hiện hữu hình trong thế giới, được cất nhắc hữu hình trong vinh quang( x. 1 Timothy 3: 16) và xin cho sau cùng các thánh có khả năng thấy, với cặp mắt thể xác, tất cả những gì các thánh đã thấy trước cách thiêng liêng” (The Incarnation of the Lord, V,13,Rome,1991, pp. 208-209). Chính xác đó là điều mà mọi người đã được rửa tội minh chứng trong niềm vui đức tin.
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Bài Thánh V hôm nay là một bằng chứng hy vọng. Đương đầu với sự nguy hiểm và khó khăn lớn, Vua David quay về với Chúa trong niềm tin tưởng, vì biết Chúa thông biết sự cầu nguyện của dân Người, và sẽ can thiệp trong lịch sử và đánh bại sự dữ. Vua công nhận sự yếu hèn con người, vì con người “chỉ là một hơi thở” (c.4) và vua hiểu nhân loại tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa. Những người nam và nữ ngày nay cũng phải nhận biết họ cần đến Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã thắng sự dữ, và ban cho chúng ta sức lực chiến thắng những thử thách. Chính Người nâng đỡ chúng ta trong sự sống tư do đích thực. Chúng ta hãy vui mừng và làm chứng cho niềm hy vọng này, niềm hy vọng mà thế giới ngóng trông.
Tôi gởi môt lời chào đặc biệt đến các người hành hương nói tiếng Anh hiện diện ở đây hôm nay, gồm các nhóm đến từ England, Scotland, Sweden, và Hoa Kỳ America. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin ân sủng và bình an của Đấng Phục sinh, và tôi chúc anh chị em một kỳ lưu lại hạnh phúc tại Rome.
Vatican (ZENIT.org).- Đây là bản dịch bài phát biểu của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung ngày thứ Tư hàng tuần 21/5, mà Ngài dành cho Thánh V 143 [144], một bài ca xin ơn hòa bình.
Chúc tụng Chúa là núi đá cho tôi nương ẩn,
Là Đấng dạy tôi nên người thiện chiến,
Luyện thành tay võ nghệ cao cường.
Chúa là đồng minh, là đồn lũy che chở,
Là thành trì bảo vệ, là Đấng giải thoát tôi.
Chúa là khiên mộc cho tôi ẩn núp,
Người bắt chư dân quy phục quyền tôi.
Lạy Chúa, con người có là chi mà Chúa cần biết đến?
Phàm nhân đáng là gì mà Chúa phải lưu tâm?
Ấy con người khác chi hơi thở,
vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu.
Lạy Chúa, xin nghiêng trời ngự xuống,
chạm núi cao cho tỏa khói mịt mù;
Xin tung chớp lòa khiến địch quân tán loạn,
Phóng tên bay làm chúng phải rã tan!
Từ cao thẳm xin đưa tay giải thoát,
Cứu con lên khỏi đáy nước mênh mông;
Khỏi thế lực nước ngoài,
Miệng chúng nói toàn điều xảo trá,
Giơ tay thề chỉ biết thề gian!

Lạy Chúa Trời, xin dâng Chúa một bài ca mới,
Thập huyền cầm, con gảy đôi cung.
Chính Ngài cho các vua thắng trận,
Cứu mạng David kẻ trung thần.
1 Chúng ta mới nghe phần thứ nhất Thánh V 143 [144]. Phần này có những đặc tính một thánh thi vương giả, kết hợp với những bản văn kinh thánh khác, ban sức sống cho một tác phẩm cầu nguyện (x. Tv 8: 5; 17: 8-15; 32: 2-3; 38:6-7). Người đang nói chính là vua David, ông biết nguồn gốc thần linh của những thành công mình. Đức Chúa được mô tả bằng những hình ảnh hùng dũng, theo thói quen biểu tượng cổ xưa: trên thực tế, Đức Chúa được thấy như một huấn luyện viên quân sự (x. Tv 143:1), một thành lũy kiên cố, một thuẩn đỡ an toàn, Một kẻ chiến thắng (x.c. 2). Như thế, cá tính của Chúa được biểu dương, Chúa dấn thân chống lại sự dữ trong lịch sử; Người không phải là một quyền lực u tối, hay là một thứ định mệnh, cũng không phải là vương đế vô cảm vô tư đối với những công việc con người. Những qui chiếu và cái cung của việc cử hành thánh này bị ảnh hưởng bởi thánh thi vua David gặp được trong Thánh Vịnh 17 và trong chương 22 Quyển Hai sách Samuen.
2. Trước quyền lực thần linh, vua Do thái thấy mình mỏng giòn và yêu đuối như tất cả mọi người. Để diển tả cảm giác này, vua cầu nguyện xử dụng hai câu trong Thánh Vịnh 8 và 38, và vua kết hợp làm chúng có được một sự hiệu nghiệm mới và hùng mạnh hơn: “Lạy Chúa, con người có là chi mà Chúa cần biết đến; Phàm nhân đáng là gì mà Chúa phải lưu tâm? Ấy con người khác chi hơi thở, vùn vụt tuổi đời tựa bóng câu” (x. cc.3-4). Niềm xác tín vững mạnh xuất hiện ở đây, là chúng ta hay mâu thuẩn, tựa một hơi gió, nếu Đấng sáng tạo không nâng đỡ chúng ta trong sự sống, như ông Job nói vì Người nắm trong tay Người ” hồn của mọi sinh vật cũng như hơi thở của tất cả người phàm” (12: 10). Duy với sự nâng đỡ của Chúa chúng ta mới có thể thắng những nguy hiểm và những khó nhọc rải rác trong mỗi ngày đời sống chúng ta. Duy nhờ cậy dựa vào sự giúp đỡ bởi Trời, chúng ta mới có khả năng dấn thân, như vua xưa Israel, đi tới sự tự do khỏi mọi áp bức.
3 Sự can thiệp của Chúa được mô tả với những hình ảnh vũ trụ và lịch sử, ngõ hầu minh họa quyền thống trị của Chúa trên vũ trụ và trên những công việc loài người. Hãy ngắm nhìn những ngọn núi phun khói trong những trận bộc phát thình lình của núi lửa (x. c.5). Hãy nhìn những làn chóp sấm sét xem như những mũi tên Chúa bắn ra, sẳn sàng đánh bại sự dữ (x.c,6) Sau cùng, hãy xem, “những đáy nước mênh mông” mà, trong ngôn ngữ kinh thánh, là những biểu trưng của sự hỗn mang, sự dữ và của sự hư không, nói tắt một lời, của những sức mạnh tiêu cực trong lịch sử (x.c.7). Liên kết với những hình ảnh vũ trụ này lại có những hình ảnh khác thuộc bản tính lịch sử: chúng là những “địch quân” (x. c.6), những “quân thù nước ngoài” (x. 7), những kẻ nói dối và thề gian, nghĩa là những kẻ thờ ngẫu tượng )x. c.8).
Đó là một phương cách rất cụ thể và có tính phương Đông để diễn tả sự dữ, sự suy đồi, sự áp bức và bất công: những thực tại kinh khủng mà Chúa cứu chúng ta thoát khỏi, khi chúng ta đi vào trong thế gian.
4. Thánh Vịnh 143 [144], như Phụng vụ kinh sáng đề nghị với chúng ta, kết thúc với một thánh thi ngắn tạ ơn (x. cc.9-10). Thánh thi phát sinh từ sự quả quyết Chúa sẽ không bỏ chúng ta trong cuộc tranh đấu với sự dữ. Do đó, người cầu nguyện xướng lên một giai điệu kèm theo thập huyền cầm, vì ông chắc Chúa “ban thắng trận cho đấng xức dầu cùa Người và cứu thoát David,trung thần của Người “ (x. 0-10).
Tiếng “được xức dầu” trong tiếng Do thái có nghĩa là “Messiah”: do đó, chúng ta đứng trước một Thánh Vịnh vương giả,Thánh Vịnh này đã được biến đổi, rong việc xử dụng phụng vụ của dân Israel xưa, thành một bài ca cứu thế. Chúng ta là những Kitô hữu, lập lại bài ca này mắt hướng nhìn Chúa Kitô, đấng giải thoát chúng ta khỏi mọi sự dữ và nâng đỡ chúng ta trong trận chiến chống những quyền lực ẩn núp, bại hoại. Thật vậy, trận chiến không phải “chống lại phàm nhân, nhưng chống lại những quyền lực thần thiêng, chống lại những bậc thống trị thế giới tối tăm này, chống lại những những thần linh quái ác chốn trời cao “ (Eph 6: 12)
5. Chúng ta hãy kết thúc với một sự suy nghĩ được Thánh John Cassian gợi ý, Ngài là đan sĩ của thế kỷ thứ 4-5, sống tại Gaul. Trong tác phẩm của Ngài The Incarnation of the Lord, khi lấy sự gợi ý từ câu 5 của Thánh Vịnh chúng ta- “lạy Chúa, xin nghiêng trời ngự xuống,” -Ngài thấy trong những lời này sự chờ đợi Chúa Kitô đi vào trong thế giới. Và Ngài tiếp tục như vầy: “Tác giả Thánh Vịnh cầu xin... Chúa tỏ mình ra trong xác thịt, xuất hiện hữu hình trong thế giới, được cất nhắc hữu hình trong vinh quang( x. 1 Timothy 3: 16) và xin cho sau cùng các thánh có khả năng thấy, với cặp mắt thể xác, tất cả những gì các thánh đã thấy trước cách thiêng liêng” (The Incarnation of the Lord, V,13,Rome,1991, pp. 208-209). Chính xác đó là điều mà mọi người đã được rửa tội minh chứng trong niềm vui đức tin.
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Bài Thánh V hôm nay là một bằng chứng hy vọng. Đương đầu với sự nguy hiểm và khó khăn lớn, Vua David quay về với Chúa trong niềm tin tưởng, vì biết Chúa thông biết sự cầu nguyện của dân Người, và sẽ can thiệp trong lịch sử và đánh bại sự dữ. Vua công nhận sự yếu hèn con người, vì con người “chỉ là một hơi thở” (c.4) và vua hiểu nhân loại tùy thuộc hoàn toàn vào Chúa. Những người nam và nữ ngày nay cũng phải nhận biết họ cần đến Chúa. Chúa Giêsu Kitô đã thắng sự dữ, và ban cho chúng ta sức lực chiến thắng những thử thách. Chính Người nâng đỡ chúng ta trong sự sống tư do đích thực. Chúng ta hãy vui mừng và làm chứng cho niềm hy vọng này, niềm hy vọng mà thế giới ngóng trông.
Tôi gởi môt lời chào đặc biệt đến các người hành hương nói tiếng Anh hiện diện ở đây hôm nay, gồm các nhóm đến từ England, Scotland, Sweden, và Hoa Kỳ America. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin ân sủng và bình an của Đấng Phục sinh, và tôi chúc anh chị em một kỳ lưu lại hạnh phúc tại Rome.