MARYLAND -- LM Stephen J. Rossetti, một linh mục chuywên gia tâm lý trị liệu có tiếng ở Hoa Kỳ và là chủ tịch Viện St. Luke Institute ở Silver Spring, Maryland, trong một cuốn sách mới đây có tên là “Niềm vui trong chức Linh mục” (The Joy of Priesthood) cho rằng dù trong những năm qua giới linh mục Công giáo ở Hoa Kỳ bị ảnh hưởng, có khi bị đau nhức, và giận dữ vì những vụ tai tiếng linh mục lạm dụng tính dục, nhưng tinh thần các linh mục vẫn cao độ.
Trong một bài tham luận mới đây vào ngày 24-4-22006 tại Học Viện Sự Sống thuộc trường Đại Học Công Giáo của Hoa Kỳ tại Washington DC, LM Rossetti đã cho biết kết quả điều tra kéo dài trong 3 năm trời về hiện tình linh mục tại Hoa kỳ. Viện St. Luke Institute là nơi chuyên điều trị các linh mục và tu sĩ có vấn đề về tâm lý, trị liệu về những lạm dụng hóa chất, rượu mạnh và những vấn đề liên quan tới tính dục.
LM Rossetti phân tích về kết quả cuộc nghiên cứu dựa vào những câu trả lời của 1.300 linh mục thuộc 16 giáo phận ở Hoa Kỳ, và thời gian điều tra nghiên cứu từ tháng 9 năm 2003 tới tháng 4 năm 2005 để định giá lại hậu quả của cơn chấn động lạm dụng tính dục có ảnh hưởng thế nào trên tinh thần của linh mục.
Một trong những kết quả chính của cuộc khảo cứu này cho thấy 80% hàng linh mục Công giáo ở Hoa Kỳ nói họ vẫn giữ được tinh thần cao độ, tuy nhiên chỉ có 38% trong số họ đánh giá các đồng bạn linh mục của họ có tinh thần cao mà thôi.
LM Rossetti giải thích rằng sở dĩ có sự chênh lệch về sự nhận định này xem ra là do yếu tố phần đông các linh mục dấn thân trong chức vụ của mình cảm thấy hạnh phúc, đang khi đó họ nhìn các đồng nghiệp linh mục thấy rằng “các linh mục đó bị tổn thương, giận dự và nghĩ rằng tinh thần xuống dốc”.
LM Rossetti cũng nói rằng kết quả cho thấy thật là lầm lẫn nếu nghĩ rằng tinh thần đạo đức là thực tại một chiều, hoặc đơn giản là tốt hoặc là xấu. Ngài cho rằng “nó có nhiều lớp, là tổng hợp nhiều yếu tố cảm tính”.
Ngài nói hãy hỏi một vị linh mục chẳng hạn như “"Cha có thích việc mục vụ của cha và vẫn cảm thấy bị tổn thương và giận dữ không? Câu trả lời là: có”.
LM Rossetti cho biết 2/3 số linh mục được hỏi trong cuộc nghiên cứu cho rằng họ hài lòng với cuộc đời sống độc thân của mình và chỉ có 17.7% nói họ sẽ lập gia đình nếu được phép, thế nhưng có tới 52.9% linh mục nói rằng họ hỗ trợ luật bắt buộc linh mục sống độc thân.
Có một yếu tố cần quan tâm là có một số đáng kể các linh mục (42%) cho rằng có quá nhiều công việc phải làm mà họ không có giờ. LM Rossetti nói: “Nếu tôi ở vị thế một chủ chăn lãnh đạo, tôi sẽ để tâm tới vấn đề này”.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vấn đề hợp nhất và huynh đệ giữa các linh mục là điều đáng được quan tâm: Chỉ có 58% các linh mục nói rằng sự liên hệ giữa các linh mục tốt đẹp, đang khi 47% nói trong hàng linh mục thiếu sự đoàn kết.
Một trong những yếu tố đưa đến sự thiếu đoàn kết và bất hòa, xem ra là khuynh hướng tư tưởng khác nhau giữa những người cho mình là “bảo thủ” và những linh mục “tự do cấp tiến” về những vấn đề và giải pháp thần học.
Một trong những thay đổi lớn nhất do hệ quả của vụ tai tiếng tình dục đó là 32.3% số linh mục cho rằng bây giờ “giáo dân nhìn chúng tôi với vẻ nghi ngờ”.
Chỉ có 27% số linh mục cho rằng các linh mục bị tố cáo vi phạm tính dục được đối xử xứng hợp, và 42% nghĩ rằng nếu họ bị tố cáo có thể họ cũng được đối xử công bằng xứng hợp.
LM Rossetti cũng nhận xét rằng Giáo hội luôn luôn rất là “kín đáo chừng mực” về việc kỉ luật một linh mục và chỉ khi nào chắc chắn là người đó có tội mới giải quyết vấn đề. Có lẽ trong quá khứ Giáo hội quá bảo vệ các linh mục, nhưng giờ đây một số linh mục lại cho rằng cán cân chạy lệch ngược chiều, xem như “thiên về phía nạn nhân nhiều hơn”.
Khi được hỏi “Cha có tích cực dấn thân vào mục vụ không?” thì có tới 95.6% trả lời là có và chỉ có 1.4% nói là không. Theo nghiên cứu xã hội số phần trăm trả lời cao như vậy là không thể nào thấy được. Cho nên LM Rossetti nhận định: “Các linh mục này thật hết mình với công việc của mình”.
Cũng vì việc dấn thân cho Giáo hội và cho công tác tông đồ của mình cao độ như vậy mà có rất ít linh mục đã tự ý bỏ hàng ngũ vì vụ tai tiếng tính dục. “Giả như đây là vụ Enron thì người ta đã tháo chạy từ lâu rồi!”.
LM Rossetti cho biết khi áp dụng các kĩ thuật xã hội để phân tích dữ kiện từ cuộc nghiên cứu, ngài thấy rằng có sự liên hệ giữa tinh thần của linh mục tương ứng với một số những yếu tố sau đây:
Nhóm linh mục chịu chức trong khoảng từ 20 tới 39 năm thì thấy có tinh thần cách nào đó thấp hơn.
Ngoài ra những linh mục cho rằng họ bảo thủ trên phương diện thần học thì hầu như là họ cũng có tinh thần cao hơn là những ai cho mình thuộc nhóm tự do cấp tiến.
Trong một bài tham luận mới đây vào ngày 24-4-22006 tại Học Viện Sự Sống thuộc trường Đại Học Công Giáo của Hoa Kỳ tại Washington DC, LM Rossetti đã cho biết kết quả điều tra kéo dài trong 3 năm trời về hiện tình linh mục tại Hoa kỳ. Viện St. Luke Institute là nơi chuyên điều trị các linh mục và tu sĩ có vấn đề về tâm lý, trị liệu về những lạm dụng hóa chất, rượu mạnh và những vấn đề liên quan tới tính dục.
LM Rossetti phân tích về kết quả cuộc nghiên cứu dựa vào những câu trả lời của 1.300 linh mục thuộc 16 giáo phận ở Hoa Kỳ, và thời gian điều tra nghiên cứu từ tháng 9 năm 2003 tới tháng 4 năm 2005 để định giá lại hậu quả của cơn chấn động lạm dụng tính dục có ảnh hưởng thế nào trên tinh thần của linh mục.
Một trong những kết quả chính của cuộc khảo cứu này cho thấy 80% hàng linh mục Công giáo ở Hoa Kỳ nói họ vẫn giữ được tinh thần cao độ, tuy nhiên chỉ có 38% trong số họ đánh giá các đồng bạn linh mục của họ có tinh thần cao mà thôi.
LM Rossetti giải thích rằng sở dĩ có sự chênh lệch về sự nhận định này xem ra là do yếu tố phần đông các linh mục dấn thân trong chức vụ của mình cảm thấy hạnh phúc, đang khi đó họ nhìn các đồng nghiệp linh mục thấy rằng “các linh mục đó bị tổn thương, giận dự và nghĩ rằng tinh thần xuống dốc”.
LM Rossetti cũng nói rằng kết quả cho thấy thật là lầm lẫn nếu nghĩ rằng tinh thần đạo đức là thực tại một chiều, hoặc đơn giản là tốt hoặc là xấu. Ngài cho rằng “nó có nhiều lớp, là tổng hợp nhiều yếu tố cảm tính”.
Ngài nói hãy hỏi một vị linh mục chẳng hạn như “"Cha có thích việc mục vụ của cha và vẫn cảm thấy bị tổn thương và giận dữ không? Câu trả lời là: có”.
LM Rossetti cho biết 2/3 số linh mục được hỏi trong cuộc nghiên cứu cho rằng họ hài lòng với cuộc đời sống độc thân của mình và chỉ có 17.7% nói họ sẽ lập gia đình nếu được phép, thế nhưng có tới 52.9% linh mục nói rằng họ hỗ trợ luật bắt buộc linh mục sống độc thân.
Có một yếu tố cần quan tâm là có một số đáng kể các linh mục (42%) cho rằng có quá nhiều công việc phải làm mà họ không có giờ. LM Rossetti nói: “Nếu tôi ở vị thế một chủ chăn lãnh đạo, tôi sẽ để tâm tới vấn đề này”.
Kết quả nghiên cứu cũng cho thấy vấn đề hợp nhất và huynh đệ giữa các linh mục là điều đáng được quan tâm: Chỉ có 58% các linh mục nói rằng sự liên hệ giữa các linh mục tốt đẹp, đang khi 47% nói trong hàng linh mục thiếu sự đoàn kết.
Một trong những yếu tố đưa đến sự thiếu đoàn kết và bất hòa, xem ra là khuynh hướng tư tưởng khác nhau giữa những người cho mình là “bảo thủ” và những linh mục “tự do cấp tiến” về những vấn đề và giải pháp thần học.
Một trong những thay đổi lớn nhất do hệ quả của vụ tai tiếng tình dục đó là 32.3% số linh mục cho rằng bây giờ “giáo dân nhìn chúng tôi với vẻ nghi ngờ”.
Chỉ có 27% số linh mục cho rằng các linh mục bị tố cáo vi phạm tính dục được đối xử xứng hợp, và 42% nghĩ rằng nếu họ bị tố cáo có thể họ cũng được đối xử công bằng xứng hợp.
LM Rossetti cũng nhận xét rằng Giáo hội luôn luôn rất là “kín đáo chừng mực” về việc kỉ luật một linh mục và chỉ khi nào chắc chắn là người đó có tội mới giải quyết vấn đề. Có lẽ trong quá khứ Giáo hội quá bảo vệ các linh mục, nhưng giờ đây một số linh mục lại cho rằng cán cân chạy lệch ngược chiều, xem như “thiên về phía nạn nhân nhiều hơn”.
Khi được hỏi “Cha có tích cực dấn thân vào mục vụ không?” thì có tới 95.6% trả lời là có và chỉ có 1.4% nói là không. Theo nghiên cứu xã hội số phần trăm trả lời cao như vậy là không thể nào thấy được. Cho nên LM Rossetti nhận định: “Các linh mục này thật hết mình với công việc của mình”.
Cũng vì việc dấn thân cho Giáo hội và cho công tác tông đồ của mình cao độ như vậy mà có rất ít linh mục đã tự ý bỏ hàng ngũ vì vụ tai tiếng tính dục. “Giả như đây là vụ Enron thì người ta đã tháo chạy từ lâu rồi!”.
LM Rossetti cho biết khi áp dụng các kĩ thuật xã hội để phân tích dữ kiện từ cuộc nghiên cứu, ngài thấy rằng có sự liên hệ giữa tinh thần của linh mục tương ứng với một số những yếu tố sau đây:
- Yếu tố tương ứng nổi bật nhất là khi linh mục hài lòng với giám mục và với cái nhìn lạc quan về lãnh đạo trong giáo hội.
- Kế đến là sự hài lòng về lương và bổng lộc.
- Tiếp theo sau là có đời sống liên kết chặt chẽ với Thiên Chúa.
- Tình bằng hữu giữa các linh mục, giá trị đời sống tâm linh, và cảm nhận được sự hiệp nhất các linh mục là những yếu tố khác làm củng cố tinh thần của đời sống linh mục.
Nhóm linh mục chịu chức trong khoảng từ 20 tới 39 năm thì thấy có tinh thần cách nào đó thấp hơn.
Ngoài ra những linh mục cho rằng họ bảo thủ trên phương diện thần học thì hầu như là họ cũng có tinh thần cao hơn là những ai cho mình thuộc nhóm tự do cấp tiến.