Vatican: Khi Đức Hồng Y Joseph Ratzinger, người con của vùng Barvaria- Đức Quốc, được tuyển chọn lên ngôi Giáo Hoàng lấy hiệu là Biển Đức XVI vào ngày thứ Ba 19/4, Ngài là vị Giáo Hoàng người Đức đầu tiên sau 948 năm.

Tùy theo thời gian và không gian, thật khó mà nói tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là vị Giáo Hoàng người Đức thứ 6 hay thứ 7.

Nếu tính Giáo Hoàng thứ 55 Boniface II (22/9/530- 17/10/532) là vị Giáo Hoàng người Đức đầu tiên, mặc dầu ông bà cố là người Đức nhưng Ngài sinh trưởng tại Roma, thì Tân Giáo Hoàng Biển Đức là vị người Đức thứ 7. Giáo Hoàng Boniface II được vị Giáo Hoàng tiền nhiệm tuyển chọn lúc nằm trên giường bệnh sắp lâm chung là Đức Felix IV.

Nếu tính Giáo Hoàng thứ 138 Gregory là vị Giáo Hoàng người Đức đầu tiên sinh trưởng tại Đức thì tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là vị người Đức thứ 6, như thế cả 5 vị Giáo Hoàng tiền nhiệm sinh trưởng tại Đức đều được Hoàng Đế tuyển chọn. Chỉ có duy nhất tân Giáo Hoàng Biển Đức XVI là được tuyển chọn bởi Hồng Y Đoàn trong Cơ Mật Viện.

Không một vị Giáo Hoàng tiền nhiệm người Đức nào trị vì lâu dài, vị Giáo Hoàng lâu nhất kéo dài được 5 năm.

5 vị Giáo Hoàng người Đức trị vì trong thế kỷ thứ 10 và 11, vào thời điểm ấy khi triều Giáo Hoàng cũng là một quyền lực thế tục, và đề đạt những mục tiêu tôn giáo và vật chất thường có nghĩa liên kết một cách chiến lược với ngai tòa Phêrô và những ngôi vua vững chắc của Âu Châu.

Các người bảo trợ cho các Giáo Hoàng Đức là Hoàng Đế Otto III và Henry III của đế quốc Roma. Otto và Henry đã khai triển hóa Đế Quốc Roma. Sự cai trị của các nhà vua bao gồm nhiều đến Trung Âu, Tây Âu và họ đã chiếm lãnh thổ tại Italia.

Otto chịu trách nhiệm trong việc chọn một vị Giáo Hoàng sinh trưởng tại Đức đầu tiên là một người cháu và là một vị linh hướng riêng của Hoàng Đế lên ngôi, lấy tên là Giáo Hoàng Gregory V, vị giáo hoàng thứ 138 trị vì từ năm 966 đến năm 999.

Để đền đáp lại, Giáo Hoàng Gregory V đã đội vương miện cho Hoàng Đế Otto và tuyên bố Otto là người bảo vệ giáo hội, nghĩa là cho Hoàng Đế quyền bính can thiệp vào nội bộ giáo hội theo ý mình.

Thế nhưng thoạt đầu Giáo Hoàng Gregory V đã không được ổn thỏa trong công việc làm một giáo hoàng người nước ngoài tại Roma. Vừa khi Otto rút trở về Đức, Gregory V đã phải đối đầu với một cuộc nổi dậy do dòng dõi quý tộc Roma và đã trục xuất đức Giáo Hoàng ra khỏi tỉnh thành. Một vị giáo hoàng khác đã được chọn để thay thế Gregory V là ngụy giáo hoàng Gioan XVI.

Nhưng sau đó Gregory V đã trở về lại Roma nhờ sự giúp đỡ của quân đội hoàng gia Otto và chiếm lại được ngôi vị Giáo Hoàng, ngụy giáo hoàng Gioan XVI bị vạ tuyệt thông. Gregory V cũng đã ban ra sắc luật sẽ không có sự thỏa thuận cho giáo hoàng kế nhiệm trong khi giáo hoàng đương nhiệm vẫn còn sống. Giáo Hoàng Gregory V qua đời vị bệnh sốt rét, chưa tròn 30 tuổi.

Sau đó không có một vị giáo hoàng nào người Đức nào được tuyển chọn mãi tới 47 năm sau khi Henry lên ngôi hoàng đế đã thống lãnh vào lãnh vực chính trị triều giáo hoàng. Trong 11 năm trị vì của Hoàng Đế Henry III kết thúc vào năm 1057, Henry đã chọn 4 vị Giáo Hoàng người Đức duy nhất trước Đức Giáo Hoàng người Đức đương nhiệm thứ 265 Biển Đức XVI. Đó là các giáo hoàng thứ 149 Clement II, giáo hoàng thứ 151 Damasus II, giáo hoàng thứ 152 Leo IX (Thánh Giáo Hoàng), giáo hoàng thứ 153 Victor II

Theo sử gia Dòng Tên, Linh Mục John O’Malley giảng sư tại Học Viện Thần Học Dòng Tên ở Cambridge, Mass. Hoa Kỳ cho biết, các Giáo Hoàng người Đức dưới thời Henry III đã bắt đầu một cuộc cải tổ quan trọng được coi là cuộc cải tổ Gregoriô, vì sau đó Đức Giáo Giáo Hoàng Thánh Gregory VII (giáo hoàng thứ 157) không phải là người Đức đã kết thúc những công việc đã được khởi sự từ bốn vị Giáo Hoàng người Đức. Được coi là vị giáo hoàng cải cách, đóng góp quan trọng trong lịch sử giáo hội trong ngàn năm thứ nhất qua ngàn năm thứ hai. Đức Gregory VII được phong chân phước vào năm 1584 và được Đức Phaolô V phong Thánh vào năm 1606.

Những vấn đề quan trọng vào trước thời kỳ giáo hoàng của Hoàng Đế Henry là việc buôn bán thần thánh, buôn bán các địa vị và bổng lộc trong giáo hội, và sự lạm dụng lan tràn đến đời sống khiết tịnh trong thiên chức linh mục, thật vậy các linh mục đã lấy vợ hay sống chung với những nàng hầu.

Những tư tưởng cải tổ xem ra hão huyền nhưng Hoàng Đế Henry đã chiếu cố tới.

Cha Dòng Tên O'Malley nói “Nhà vua đã ghê tởm tới tình huống tại Roma và những cuộc tranh giành ngôi giáo hoàng”.

Các sử gia đã ghi lại trong năm 1046, đã có ba người tranh giành ngôi giáo hoàng, nhưng Hoàng Đế Henry đã đến Roma và dàn xếp vấn đề bởi vì nhà vua nghĩ rằng phải cần thiết đến một triều đại giáo hoàng kiên quyết để làm một cuộc cải tổ.

Thay vì chọn trong số ba người đang tranh quyền giáo hoàng, thì Hoàng Đế Henrry đã chọn một giám mục trong đoàn tùy tùng của nhà vua để lên ngôi Giáo Hoàng lấy tên Clement II và trị vì được 2 năm từ năm 1046-1047. Henry cũng phong tuớc cho mình là một quý tộc Roma, được quyền hành để tuyển chọn giáo hoàng.

Cha O'Malley nhận định “Hoàng Đế Henry đã cứu vãn triều giáo hoàng”.

Hoàng Đế cũng đã tôn phong các chư hầu chính trị trung thành tại Italia để củng cố quyền hành của hoàng đế trong lãnh thổ Italia, vì Giáo Hoàng trong thời kỳ này cũng là những người cai trị trong quyền bính thế tục với quân đội và hải quân trong tay.

Trong tiến trình này, Henry đã củng cố những phong trào giáo dân để tuyển chọn những vị lãnh đạo giáo hội.

“Những người cai trị thế tục trao quyền cho các giám mục và các đan sĩ bằng những cây thánh giá và trao nhẩn của họ. Giáo dân thật sự chọn những người lãnh đạo và phong cho họ những biểu tượng trong địa vị tôn giáo”.

Giáo Hoàng Clement II đã công bố 40 ngày thống hối cho bất cứ ai đã được tấn phong bởi các giám mục buôn thần bán thánh. Vào đầu tháng 10 năm 1047, Đức Clement II lâm trọng bệnh và qua đời tại đan viện gần Pesaro, có tin đồn cho rằng Giáo Hoàng kế vị Biển Đức IX đã bỏ thuốc độc. Vào năm 1942, khảo nghiệm hài cốt Đức Clement II, người ta khám phá ra ngài đã bị nhiễm thuốc độc.

Khi Đức Clement II qua đời, Hoàng Đế Henrry với tước hiệu Quý Tộc Roma chỉ định Poppo là Giám Mục tại Brixen lên ngôi. Tuy nhiên trong lúc trống tòa Giáo Hoàng Biển Đức IX giành lên ngôi, nhưng Hoàng Đế Henry đã hăm dọa sẽ kéo quân về. Giám Mục Poppo đã lên ngôi lấy tên hiệu là Giáo Hoàng Damasus II (17/7/1048), chỉ lên ngôi được 23 ngày qua đời vào ngày 9/8/1048, nguyên nhân ghi lại cho rằng ngài bị thuốc độc nhưng lý do chính có thể là bị sốt rét trong khi ở Palestrina để tránh mùa hè đổ lửa tại Roma.

Các Đức Giáo Hoàng của Hoàng Đế Henry đã triển khai tác phong quân chủ triều giáo hoàng trong giáo hội.

Theo sử gia Dòng Tên, Cha O'Malley nói các giáo hoàng đã bắt chước kiểu cách cai trị của chế độ quân chủ không chỉ riêng trong việc quản trị các lãnh thổ của họ nhưng cả đến công việc điều hành nội bộ, một kiểu cách vẫn còn tiếp tục cho đến hôm nay.

Theo Cha O'Malley vị giáo hoàng cải tổ quan trọng nhất là Giáo Hoàng Thánh Leo IX, người cai quản sau Giáo Hoàng Damasus II và trị vì được 5 năm từ năm 1049- 1054. Khi Henry bổ nhiệm Giáo Hoàng Leo IX, ngài chỉ nhận ngôi giáo hoàng với điều kiện là được sự thỏa thuận của các giáo sĩ và dân thành Roma. Khi về thành Roma, ngài ăn mặc phẩm phục rất bình dân.

Các thượng hội đồng dưới thời Giáo Hoàng Leo IX đã lên án việc buôn thần bán thánh và lạm dụng trong giới giáo sĩ. Những chuyến du hành trong việc cải tổ đã gán cho ngài một tên gọi là “Người hành hương tông đồ” (Apostolic Pilgrim).

“Giáo Hoàng Leo đã bắt đầu du hành khắp Âu Châu chủ sự các thượng hội đồng cải tổ”.

Tuy nhiên, Giáo Hoàng Thánh Leo IX đã phát động những biến cố đã khiến đến cuộc Đại Ly Giáo vào năm 1054 giữa Công Giáo và Chính Thống Giáo, mặc dầu Giáo Hoàng Leo đã qua đời trước khi Đại Ly Giáo xảy ra.

Vị Giáo Hoàng người Đức cuối cùng vào thời điểm này là Giáo Hoàng Victor II 913/4/1055- 28/7/1057), người đã cổ võ những cuộc cải cách và lòng trung thành chính trị tới Hoàng Đế Henry. Giáo Hoàng Victor II qua đời sau khi nhà vua Henry băng hà được một năm.

Từ khi Hoàng Đế Henry băng hà, các phong trào cải tổ đã trở nên mạnh mẽ trong giáo hội và thật sự không còn cần thiết đến sự can thiệp của hoàng tộc. Nhưng một điều nữa là khi Henry băng hà đã truyền ngôi vua cho hoàng tử mới có 6 tuổi dưới sự che chở của giáo hoàng, hiển nhiên đã làm giảm đi sự can thiệp của nhà vua trong việc tuyển chọn giáo hoàng trong tương lai.