Sự hiệp thông với Thiên Chúa là Nguồn mạch sự Thanh Bình
VATICAN (Zenit.org).- Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 21/4, mà ngài dành để suy niệm đến Thánh vịnh 26(27):1-6.
* * *
1. Việc suy niệm của chúng ta về kinh chiều hôm nay tiếp tục với Thánh vịnh 26(27), mà phụng vụ phân ra thành hai phần. Bây giờ chúng ta suy niệm về phần một của bức tranh bộ đôi thi thơ và thiêng liêng (x. cc.1-6), mà hậu cảnh là đền thờ Zion, nơi thờ phượng của Israel. Trên thực tế, tác giả Thánh vịnh nói rõ về "nhà Chúa," về "đền thờ" (c.4), về "nơi trú ẩn, lều, nhà" (x. c. 5-6). Trên thực tế trong bản gốc Hy Lạp, những từ này chỉ cách chính xác hơn đến "nhà tạm" và "lều," tức là chính trung tâm đền thờ, nơi Chúa tự tỏ mình với sự hiện diện và lời của Người. "Tảng đá" của Jerusalem cũng được gợi ý (x. c.5) là nơi an toàn và tị nạn, và nói ám chỉ đến vịêc cử hành các lễ tạ ơn (x. c.6)
Nếu phụng vụ là bầu khí thiêng liêng trong đó Thánh vịnh được chìm đắm, thì chủ đề sự cầu nguyện là lòng tin tưởng vào Thiên Chúa cả trong ngày vui mừng cũng như trong ngày kinh sợ.
2. Phần thứ nhất của Thánh vịnh, mà lúc này chúng ta đang suy niệm, được đánh dấu bởi sự thanh thản lớn lao, dựa trên sự tin tưởng vào Thiên Chúa trong ngày đen tối tấn công của kẻ dữ. Những hình ảnh được xử dụng để diễn tả những sự thù địch này, dấu chỉ sự dữ làm ô uế lịch sử, có hai thứ. Một đàng, xem ra là một hình ảnh sự bắt bớ dữ tợn: Những kẻ dữ giống như những thú dữ nhào tới bắt mồi và xé thịt nó, nhưng chúng lảo đảo té nhào (x. c.2). Đàng khác, có một biểu trưng một cuộc tấn công bởi một đạo quân toàn bộ: Đó là một trận đánh cháy bùng lên dữ dội gieo rắc sự sợ hải và sự chết (x.c.3).
Sự sống người tín hữu thường chịu những căng thẳng và tranh chấp, thỉnh thoảng cũng bị loại trừ và có khi bị bắt bớ. Cách cư xử của người công chính gây bực tức, bởi vì nó vang dội như một lời cảnh cáo cho kẻ kiêu căng và người ngang bướng. Điều đó được công nhận bằng những từ ngữ rõ ràng mà kẻ dữ diễn tả trong sách Khôn ngoan. Người công chính "đối với chúng ta là sự chê trách những tâm tưởng chúng ta, chỉ việc thấy người công chính là một sự khó chịu cho chúng ta. Bởi vì sự sống người công chính không giống như sự sống những người khác, và những đường lối của họ thì khác biệt" (Kn 2:14-15).
3. Người tín hữu biết rằng tính nhất quán sinh ra sự cô đơn và cò khi gây nên sự khinh bỉ và thù địch trong một xã hội thường chọn như biểu ngữ cho mình đến lợi ích cá nhân, sự thành công bên ngoài, sức khoẻ, lạc thú không kìm hảm. Nhưng người tín hữu đó không phải là đơn độc và con tim họ lại giữ được một sự bình an nội tâm kỳ dịu, bởi vì--như "điệp ca" lộng lẫy mở đầu của Thánh vịnh nói--"Chúa là nguồn sáng và sự cứu độ tôi, [.. . ] nơi trú ẩn" của người công chính (Tv 26[27]., Ông luôn luôn lặp lại: "Tôi sợ ai?.. . Tôi khiếp gì ai?.. . Lòng tôi chẳng sợ.. . tôi vẫn cậy tin" (c. 1,3).
Xem ra ông nghe lời thánh Phaolô người đã công bố: "Có Thiên Chúa binh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?" (Rm 8:31). Nhưng sự bình tỉnh nội tâm, sức mạnh tinh thần và hòa bình là một ân huê có được là nhờ trú ẩn trong đền thờ, tức là, nhờ sự cầu nguyện của cá nhân và cộng đồng.
4. Người cầu nguyện, trên thực tế phó mình trong cánh tay Chúa và giấc mơ của ông cũng được diễn tả trong một thánh vịnh khác (x. 22[23]:6); "Tôi được ở trong nhà Chúa những năm sắp tới. "Ở đó họ sẽ có khả năng "chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Chúa" (Tv 26[27]:4), chiêm ngắm và khâm phục mầu nhiệm thần linh, tham gia phụng vụ lễ tế và cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa giải cứu (x. c.6). Đức Chúa xây dựng xung quanh người tín hữu mình một chân trời hòa bình, loại trừ tiếng ồn ào sự dữ. Sự hiệp thông với Thiên Chúa là nguồn mạch sự thanh thản, sự vui mừng, sự yên tỉnh; điều đó giống như đi vào một ốc đảo ánh sáng và tình yêu.
5. Như một kết luận suy tư giờ đây chúng ta hãy nghe những lời của đan sĩ Isaiah, người gốc Syria, sống tại sa mạc Ai cập và chết tại Gaza khoảng năm 491. Trong "Asceticon" của ngài, ngài áp dụng Thánh vịnh cho sự cầu nguyện lúc bị cám dỗ: "Nếu chúng ta thấy những kẻ thù bao quanh chúng ta với sự gian xảo, nghĩa là với sự lười biếng, làm suy yếu linh hồn chúng ta với lạc thú, hay là làm chúng ta không thể cầm hãm sự giận dữ chúng ta đối với tha nhân khi họ hành động nghịch với bổn phận của họ, hay là cám dỗ con mắt chúng ta với nhục dục, hay là đưa chúng ta tới chỗ nếm những vui thú phàm trần hay là biến đổi lời nói của tha nhân thành chất độc cho chúng ta, hay là bắt chúng ta coi thường lời nói kẻ khác, hay là dẫn chúng ta tạo nên những khác biệt giữa các anh em chúng ta khi nói: "người này là tốt, người kia là dữ"-- nếu chúng ta bị bao vây bởi tất cả những sự này, chúng ta không nên ngã lòng, chúng ta hãy kêu lên như Đavid với một tấm lòng vững chãi: "Lạy Đức Chúa, Đấng bảo vệ sự sống con! ' " ("Recueil ascétique," Bellefontaine, 1976 pp.211).
Cuối buổi triều yết, một cộng sự viên của Đức Thánh Cha đọc bản tóm sau đây bằng tiếng Anh:
Phần thứ nhất Thánh vịnh 26 nói về "nhà của Đức Chúa," một nơi ẩn thân, tạ ơn và vui mừng. Bị những sự dữ xông đánh tư bề, nhưng người tín hữu không nên lo sợ, vì niềm tin và hy vọng của họ được đặt vững chãi trong Đức Chúa, nhờ Người ho nhận lãnh sức mạnh nội tại và hòa bình.
Thật vậy sự hiệp thông với Chúa có thể ví như một ốc đảo nguồn sáng và tình yêu. Đan sĩ Isaiah người Syria, chết tại Gaza khoảng năm 491, xem Thánh vịnh này như là một kinh chống lại cơn cám dỗ. Khi bị tội lỗi và sự dữ đe dọa, người tín hữu Chúa không ngã lòng nhưng kêu cầu Đấng Cứu mình, hô to với niềm xác tín vững chắc: "Lạy Đức Chúa, đấng bảo vệ mạng sống con!" Đức Chúa trên thực tế là đấng bảo vệ chúng ta, chính Người cứu vớt và đem chúng ta về nhà Người hầu chúng ta có thể ở đó "mọi ngày suốt đời chúng ta."
Sau đó Đức Thánh Cha chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Bằng tiếng Anh, Ngài nói:
Tôi vui mừng chào những khách tham quan nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết này, cách riêng những người hành hương từ Anh Quốc, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Norway, Sweden, Finland, Ghana, Tân Tây Lan, Canada và Hoa Kỳ, tôi chân thành cầu xin ân sủng và bình an của Chúa Phục Sinh xuống trên anh chị em và gia đình.
VATICAN (Zenit.org).- Toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 21/4, mà ngài dành để suy niệm đến Thánh vịnh 26(27):1-6.
* * *
1. Việc suy niệm của chúng ta về kinh chiều hôm nay tiếp tục với Thánh vịnh 26(27), mà phụng vụ phân ra thành hai phần. Bây giờ chúng ta suy niệm về phần một của bức tranh bộ đôi thi thơ và thiêng liêng (x. cc.1-6), mà hậu cảnh là đền thờ Zion, nơi thờ phượng của Israel. Trên thực tế, tác giả Thánh vịnh nói rõ về "nhà Chúa," về "đền thờ" (c.4), về "nơi trú ẩn, lều, nhà" (x. c. 5-6). Trên thực tế trong bản gốc Hy Lạp, những từ này chỉ cách chính xác hơn đến "nhà tạm" và "lều," tức là chính trung tâm đền thờ, nơi Chúa tự tỏ mình với sự hiện diện và lời của Người. "Tảng đá" của Jerusalem cũng được gợi ý (x. c.5) là nơi an toàn và tị nạn, và nói ám chỉ đến vịêc cử hành các lễ tạ ơn (x. c.6)
Nếu phụng vụ là bầu khí thiêng liêng trong đó Thánh vịnh được chìm đắm, thì chủ đề sự cầu nguyện là lòng tin tưởng vào Thiên Chúa cả trong ngày vui mừng cũng như trong ngày kinh sợ.2. Phần thứ nhất của Thánh vịnh, mà lúc này chúng ta đang suy niệm, được đánh dấu bởi sự thanh thản lớn lao, dựa trên sự tin tưởng vào Thiên Chúa trong ngày đen tối tấn công của kẻ dữ. Những hình ảnh được xử dụng để diễn tả những sự thù địch này, dấu chỉ sự dữ làm ô uế lịch sử, có hai thứ. Một đàng, xem ra là một hình ảnh sự bắt bớ dữ tợn: Những kẻ dữ giống như những thú dữ nhào tới bắt mồi và xé thịt nó, nhưng chúng lảo đảo té nhào (x. c.2). Đàng khác, có một biểu trưng một cuộc tấn công bởi một đạo quân toàn bộ: Đó là một trận đánh cháy bùng lên dữ dội gieo rắc sự sợ hải và sự chết (x.c.3).
Sự sống người tín hữu thường chịu những căng thẳng và tranh chấp, thỉnh thoảng cũng bị loại trừ và có khi bị bắt bớ. Cách cư xử của người công chính gây bực tức, bởi vì nó vang dội như một lời cảnh cáo cho kẻ kiêu căng và người ngang bướng. Điều đó được công nhận bằng những từ ngữ rõ ràng mà kẻ dữ diễn tả trong sách Khôn ngoan. Người công chính "đối với chúng ta là sự chê trách những tâm tưởng chúng ta, chỉ việc thấy người công chính là một sự khó chịu cho chúng ta. Bởi vì sự sống người công chính không giống như sự sống những người khác, và những đường lối của họ thì khác biệt" (Kn 2:14-15).
3. Người tín hữu biết rằng tính nhất quán sinh ra sự cô đơn và cò khi gây nên sự khinh bỉ và thù địch trong một xã hội thường chọn như biểu ngữ cho mình đến lợi ích cá nhân, sự thành công bên ngoài, sức khoẻ, lạc thú không kìm hảm. Nhưng người tín hữu đó không phải là đơn độc và con tim họ lại giữ được một sự bình an nội tâm kỳ dịu, bởi vì--như "điệp ca" lộng lẫy mở đầu của Thánh vịnh nói--"Chúa là nguồn sáng và sự cứu độ tôi, [.. . ] nơi trú ẩn" của người công chính (Tv 26[27]., Ông luôn luôn lặp lại: "Tôi sợ ai?.. . Tôi khiếp gì ai?.. . Lòng tôi chẳng sợ.. . tôi vẫn cậy tin" (c. 1,3).
Xem ra ông nghe lời thánh Phaolô người đã công bố: "Có Thiên Chúa binh đỡ chúng ta, ai còn chống lại được chúng ta?" (Rm 8:31). Nhưng sự bình tỉnh nội tâm, sức mạnh tinh thần và hòa bình là một ân huê có được là nhờ trú ẩn trong đền thờ, tức là, nhờ sự cầu nguyện của cá nhân và cộng đồng.4. Người cầu nguyện, trên thực tế phó mình trong cánh tay Chúa và giấc mơ của ông cũng được diễn tả trong một thánh vịnh khác (x. 22[23]:6); "Tôi được ở trong nhà Chúa những năm sắp tới. "Ở đó họ sẽ có khả năng "chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Chúa" (Tv 26[27]:4), chiêm ngắm và khâm phục mầu nhiệm thần linh, tham gia phụng vụ lễ tế và cất tiếng ngợi khen Thiên Chúa giải cứu (x. c.6). Đức Chúa xây dựng xung quanh người tín hữu mình một chân trời hòa bình, loại trừ tiếng ồn ào sự dữ. Sự hiệp thông với Thiên Chúa là nguồn mạch sự thanh thản, sự vui mừng, sự yên tỉnh; điều đó giống như đi vào một ốc đảo ánh sáng và tình yêu.
5. Như một kết luận suy tư giờ đây chúng ta hãy nghe những lời của đan sĩ Isaiah, người gốc Syria, sống tại sa mạc Ai cập và chết tại Gaza khoảng năm 491. Trong "Asceticon" của ngài, ngài áp dụng Thánh vịnh cho sự cầu nguyện lúc bị cám dỗ: "Nếu chúng ta thấy những kẻ thù bao quanh chúng ta với sự gian xảo, nghĩa là với sự lười biếng, làm suy yếu linh hồn chúng ta với lạc thú, hay là làm chúng ta không thể cầm hãm sự giận dữ chúng ta đối với tha nhân khi họ hành động nghịch với bổn phận của họ, hay là cám dỗ con mắt chúng ta với nhục dục, hay là đưa chúng ta tới chỗ nếm những vui thú phàm trần hay là biến đổi lời nói của tha nhân thành chất độc cho chúng ta, hay là bắt chúng ta coi thường lời nói kẻ khác, hay là dẫn chúng ta tạo nên những khác biệt giữa các anh em chúng ta khi nói: "người này là tốt, người kia là dữ"-- nếu chúng ta bị bao vây bởi tất cả những sự này, chúng ta không nên ngã lòng, chúng ta hãy kêu lên như Đavid với một tấm lòng vững chãi: "Lạy Đức Chúa, Đấng bảo vệ sự sống con! ' " ("Recueil ascétique," Bellefontaine, 1976 pp.211).
Cuối buổi triều yết, một cộng sự viên của Đức Thánh Cha đọc bản tóm sau đây bằng tiếng Anh:Phần thứ nhất Thánh vịnh 26 nói về "nhà của Đức Chúa," một nơi ẩn thân, tạ ơn và vui mừng. Bị những sự dữ xông đánh tư bề, nhưng người tín hữu không nên lo sợ, vì niềm tin và hy vọng của họ được đặt vững chãi trong Đức Chúa, nhờ Người ho nhận lãnh sức mạnh nội tại và hòa bình.
Thật vậy sự hiệp thông với Chúa có thể ví như một ốc đảo nguồn sáng và tình yêu. Đan sĩ Isaiah người Syria, chết tại Gaza khoảng năm 491, xem Thánh vịnh này như là một kinh chống lại cơn cám dỗ. Khi bị tội lỗi và sự dữ đe dọa, người tín hữu Chúa không ngã lòng nhưng kêu cầu Đấng Cứu mình, hô to với niềm xác tín vững chắc: "Lạy Đức Chúa, đấng bảo vệ mạng sống con!" Đức Chúa trên thực tế là đấng bảo vệ chúng ta, chính Người cứu vớt và đem chúng ta về nhà Người hầu chúng ta có thể ở đó "mọi ngày suốt đời chúng ta."
Sau đó Đức Thánh Cha chào những người hành hương trong nhiều thứ tiếng. Bằng tiếng Anh, Ngài nói:
Tôi vui mừng chào những khách tham quan nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết này, cách riêng những người hành hương từ Anh Quốc, Na Uy, Thụy Điển, Phần Lan, Norway, Sweden, Finland, Ghana, Tân Tây Lan, Canada và Hoa Kỳ, tôi chân thành cầu xin ân sủng và bình an của Chúa Phục Sinh xuống trên anh chị em và gia đình.