Bạo động không có tiếng nói cuối cùng
VATICAN (Xenit.org).- Bài huấn đức của Đức Gioan Phaolo II trong buổi triều yết hôm Thứ Tư hàng tuần 10/3, ngài dành để suy gẫm vềThánh vịnh 19(20).
* * *
1. Lời cầu khẩn cuối cùng: "Lạy Chúa, xin giúp vua toàn thắng; ngày chúng con cầu khẩn, xin Chúa đáp lời" (Tv.19[20]:10), mạc khải cho chúng ta nguồn gốc của Thánh vịnh 19[20], mà chúng ta đã nghe và bây giờ chúng ta sẽ suy niệm. Đo đó, chúng ta đứng trước môt Thánh vịnh vương giả của Israel xưa, được công bố trong đền thờ Zion trong một nghi lễ long trọng. Trong Thánh vịnh này có cầu khẩn sự chúc lành của Thiên Chúa xuống trên tất cả "thời buổi gian truân" (c.2), nghĩa là, trong lúc mà toàn thể quốc gia bị sự âu lo sâu sắc áp đảo vì cơn ác mộng chiến tranh. Trên thực tế, có nói tới chiến xa và chiến mã (x.c.8) xem ra tiến bước trên chân trời, vua và dân đương đầu với chúng bằng sự tin tưởng trong Chúa, Đấng đặt mình bên những kẻ yếu hén, bị áp bức và nạn nhân tính kiêu ngạo của kẻ xâm lược.
Thật dễ hiểu đến tyền thống Kitô hữu đã biến đổi Thánh vịnh này thành một thánh thi ca ngợi Chúa Kitô Vua, "Đấng được Xức Dầu" tuyệt hảo, "Đấng Cứu Thế" (x.c.7). Người không đến trong thế giới với binh mã, nhưng với quyền lực Chúa Thánh Thần, và phóng ra cuộc tấn công cuối cùng diệt sư dữ và sự quanh co, diệt tính kiêu căng và tính tự phụ, diệt những sự dối trá và tính ích kỷ.
Người ta có thể thấy tiếng vang sâu sắc của những lời Chúa Kitô công bố khi nói với Pilatô,biểu tượng của quyền lực đế quốc trần gian: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này, đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi" (Ga 18:37).
2. Khi cứu xét sự liên hệ của Thánh vịnh này, chúng ta nhận ra Thánh vịnh này phản chiếu một phụng vụ được cử hành trong đền thờ Jerusalem. Trên hiện trường xuất hiện cộng đồng con cái Israel, cầu nguyện cho vua, kẽ lãnh đạo quốc gia, Điều hơn nữa, lúc khởi đầu người ta có thể thấy nghi thức một hy lễ, như những hy lễ và những lễ toàn thiêu do vua dâng lên cho "Thiên Chúa Giacob" (Tv. 19[20]:2), Người không bỏ rơi 'đấng được xức dầu tấn phong" của Người (c.7), nhưng bảo hộ và ủng hộ ngài.
Kinh nguyện được đặc tính hóa bởi niềm xác tín Chúa là nguồn mạch sự an toàn. Người đến để đáp ứng kinh nguyện đầy tin tưởng của vua và của toàn thể công đồng mà vua được liên kết với qua sự ràn buộc khế ước. Bầu khí chắc chắn là bầu khí của một biến cố chiến tranh, với tất cả sự sợ sệt và nguy hiểm nó khơi lên. Do đó, Lời Chúa không được trình bày như một sứ điệp trừu tượng, nhưng như một tiếng thích ứng với những khốn khổ nhỏ và lớn của nhân loại. Vì lẽ này, Thánh vịnh phản chiếu ngôn ngữ binh lính và không khí đánh bại Israel trong thời chiến tranh (x.c.6), như vậy là thích nghi chính mình với những cảm giác của con người gặp khó khăn.
3. Trong văn bản Thánh vịnh, câu 7 đánh dấu một chiều hướng. Đang khi những câu trước mặc nhiên bày tỏ những sự cầu xin dâng lên Thiên Chúa (x.cc 2-5), câu 7 khẳng định sự chắc chắn được nhận lời: " Giờ đây tôi biết rằng Thiên Chúa đã ban chiến thắng cho Đấng Chúa xức dầu tấn phong. Từ Thánh cung cao thẳm Chúa đã đáp lời người." Thánh vịnh không chỉ rõ điều gì là dấu chỉ nhờ đó người đã biết được điều này.
Trong bất cứ trường hợp nào, Thánh vịnh diễn tả rõ ràng một sự trái ngược giữa vị trí kẻ thù, dựa mình trên sức mạnh vật chất của những chiến xa và chiến mã, và vị trí của dân Israel, đặt tin tưởng vào Thiên Chúa và, do đó đã chiến thắng. Điều đó nhắc lại đoạn danh tiếng của David và Goliath: Trước vũ khí và tính kiêu ngạo của tên chiến binh Philistine, người trẻ Do thái đương đầu với nó nhân danh Chúa Đấng bênh vực người yếu kém và vô tự vệ. Trên thực tế, David nói với Goliath: "Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao, nhưng tao, tao đến với mày nhân danh Đức Chúa các đạo binh, là Thiên Chúa các hàng ngũ.. . không phải nhờ gươm, nhờ giáo mả Đức Chúa ban chiến thắng. Vì chiến đấu là việc của Đức Chúa "(1 Sa 17: 45,47).
4. Mặc dầu đặc điểm lịch sử của nó liên kết với chiến tranh, Thánh vịnh có thể trở nên một lời mời đừng để mình bị khuất phục bởi sự hấp dẫn của bạo tàng. Isaiah cũng đã kêu lên:"Khốn thay những kẻ.. . cậy dựa vào chiến mã: tin tưởng vì có lắm chiến xa, và kị binh hùng mạnh, mà không chịu ngước nhìn Đấng Thánh của Israel, cũng không kiếm tìm Đức Chúa" (Is. 31:1).
Đứng trước mọi thứ bạo tàn, người chính trực chống lai với đức tin, lòng tốt, sự tha thứ, sự cầu hòa. Thánh Phaolô tông đồ cảnh cáo những Kitô hữu: "Đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt" (Rm 12:17).
Và sử gia của Giáo hội trong những thế kỷ đầu, Eusebius Of Caesarea (sống giữa thế kỷ thứ ba và thứ tư), khi bình giải về Thánh vịnh của chúng ta, mở rộng tầm nhìn của ngài tới chỗ bao hàm sự dữ của cái chết mà người Kitô hữu biết mình có thể chiến thắng nhờ quyền lực Chúa Kitô: "Tất cả những quyền lực thù nghịch và những kẻ thù của Thiên Chúa, ẩn giấu hay lộ liễu, những bộ mặt tránh xa chính Đấng Cứu Thế, sẽ ngã qụy. Nhưng tất cả những người nhận lấy ơn cứu rỗi, sẽ chổi dậy từ sự đổ nát trước của họ. Vì lẽ đó ông Simeon đã nói: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được chỗi dậy, " nghĩa là, những kẻ chống đối và thù địch với Người phải thất bại, và những kẻ, một khi sa ngã, được Người cho sống lại, sẽ chổi dậy" (PG 23,197).
Cuối buổi triều yết, một vị phụ tá Đức thánh Cha đọc bản tóm lược sau đây bằng tiếng Anh:
Thánh vịnh 19 là một kinh phụng vụ trọng thể xin Đức Chúa ban cho vua chiến thắng những kẻ thù nhà vua. Thánh vịnh bày tỏ niềm xác tín rằng Thiên Chúa sẽ trung thành với dân Người. Người là Thiên Chúa nâng đỡ những kẻ tin tưởng nơi Người. Truyền thống Kitô hữu áp dụng Thánh vịnh này cho Chúa Kitô, Đấng Messiah, Đấng được Xức Dầu của Thiên Chúa, Đấng chiến thắng sự dữ. Trong Người, mọi Kitô hữu được kêu gọi chiến thắng sự dữ, không phải bằng bạo lực, nhưng bằng quyền lực đức tin và sự tha thứ.
Sau đó Đức Giáo Hoàng chào những người hành hương nói tiếng Anh như sau:
Anh chị em thân mến,
Tôi xin nồng nhiệt chào mừng tất cả những người hành hương và khách thăm viếng nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết hôm nay. Tôi chào mừng cách riêng những thành viên của những Cơ quan Đoàn sủng Canh Tân Công Giáo Quôc tế. Tôi cũng chào mừng những nhóm đến từ Đan Mạtch và Hoa Kỳ, và cách riêng nhiều người trẻ hiện diện. Trên tất cả anh chị em tôi chân tình cầu xin niềm vui và bình an trong Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta Đấng kêu gọi chúng ta chia sẻ trong chiến thắng của Người trên sự dữ.
VATICAN (Xenit.org).- Bài huấn đức của Đức Gioan Phaolo II trong buổi triều yết hôm Thứ Tư hàng tuần 10/3, ngài dành để suy gẫm vềThánh vịnh 19(20).
* * *
1. Lời cầu khẩn cuối cùng: "Lạy Chúa, xin giúp vua toàn thắng; ngày chúng con cầu khẩn, xin Chúa đáp lời" (Tv.19[20]:10), mạc khải cho chúng ta nguồn gốc của Thánh vịnh 19[20], mà chúng ta đã nghe và bây giờ chúng ta sẽ suy niệm. Đo đó, chúng ta đứng trước môt Thánh vịnh vương giả của Israel xưa, được công bố trong đền thờ Zion trong một nghi lễ long trọng. Trong Thánh vịnh này có cầu khẩn sự chúc lành của Thiên Chúa xuống trên tất cả "thời buổi gian truân" (c.2), nghĩa là, trong lúc mà toàn thể quốc gia bị sự âu lo sâu sắc áp đảo vì cơn ác mộng chiến tranh. Trên thực tế, có nói tới chiến xa và chiến mã (x.c.8) xem ra tiến bước trên chân trời, vua và dân đương đầu với chúng bằng sự tin tưởng trong Chúa, Đấng đặt mình bên những kẻ yếu hén, bị áp bức và nạn nhân tính kiêu ngạo của kẻ xâm lược.Thật dễ hiểu đến tyền thống Kitô hữu đã biến đổi Thánh vịnh này thành một thánh thi ca ngợi Chúa Kitô Vua, "Đấng được Xức Dầu" tuyệt hảo, "Đấng Cứu Thế" (x.c.7). Người không đến trong thế giới với binh mã, nhưng với quyền lực Chúa Thánh Thần, và phóng ra cuộc tấn công cuối cùng diệt sư dữ và sự quanh co, diệt tính kiêu căng và tính tự phụ, diệt những sự dối trá và tính ích kỷ.
Người ta có thể thấy tiếng vang sâu sắc của những lời Chúa Kitô công bố khi nói với Pilatô,biểu tượng của quyền lực đế quốc trần gian: "Chính ngài nói rằng tôi là vua. Tôi đã sinh ra và đã đến thế gian vì điều này, đó là để làm chứng cho sự thật. Ai đứng về phía sự thật thì nghe tiếng tôi" (Ga 18:37).
2. Khi cứu xét sự liên hệ của Thánh vịnh này, chúng ta nhận ra Thánh vịnh này phản chiếu một phụng vụ được cử hành trong đền thờ Jerusalem. Trên hiện trường xuất hiện cộng đồng con cái Israel, cầu nguyện cho vua, kẽ lãnh đạo quốc gia, Điều hơn nữa, lúc khởi đầu người ta có thể thấy nghi thức một hy lễ, như những hy lễ và những lễ toàn thiêu do vua dâng lên cho "Thiên Chúa Giacob" (Tv. 19[20]:2), Người không bỏ rơi 'đấng được xức dầu tấn phong" của Người (c.7), nhưng bảo hộ và ủng hộ ngài.Kinh nguyện được đặc tính hóa bởi niềm xác tín Chúa là nguồn mạch sự an toàn. Người đến để đáp ứng kinh nguyện đầy tin tưởng của vua và của toàn thể công đồng mà vua được liên kết với qua sự ràn buộc khế ước. Bầu khí chắc chắn là bầu khí của một biến cố chiến tranh, với tất cả sự sợ sệt và nguy hiểm nó khơi lên. Do đó, Lời Chúa không được trình bày như một sứ điệp trừu tượng, nhưng như một tiếng thích ứng với những khốn khổ nhỏ và lớn của nhân loại. Vì lẽ này, Thánh vịnh phản chiếu ngôn ngữ binh lính và không khí đánh bại Israel trong thời chiến tranh (x.c.6), như vậy là thích nghi chính mình với những cảm giác của con người gặp khó khăn.
3. Trong văn bản Thánh vịnh, câu 7 đánh dấu một chiều hướng. Đang khi những câu trước mặc nhiên bày tỏ những sự cầu xin dâng lên Thiên Chúa (x.cc 2-5), câu 7 khẳng định sự chắc chắn được nhận lời: " Giờ đây tôi biết rằng Thiên Chúa đã ban chiến thắng cho Đấng Chúa xức dầu tấn phong. Từ Thánh cung cao thẳm Chúa đã đáp lời người." Thánh vịnh không chỉ rõ điều gì là dấu chỉ nhờ đó người đã biết được điều này.Trong bất cứ trường hợp nào, Thánh vịnh diễn tả rõ ràng một sự trái ngược giữa vị trí kẻ thù, dựa mình trên sức mạnh vật chất của những chiến xa và chiến mã, và vị trí của dân Israel, đặt tin tưởng vào Thiên Chúa và, do đó đã chiến thắng. Điều đó nhắc lại đoạn danh tiếng của David và Goliath: Trước vũ khí và tính kiêu ngạo của tên chiến binh Philistine, người trẻ Do thái đương đầu với nó nhân danh Chúa Đấng bênh vực người yếu kém và vô tự vệ. Trên thực tế, David nói với Goliath: "Mày mang gươm, mang giáo, cầm lao mà đến với tao, nhưng tao, tao đến với mày nhân danh Đức Chúa các đạo binh, là Thiên Chúa các hàng ngũ.. . không phải nhờ gươm, nhờ giáo mả Đức Chúa ban chiến thắng. Vì chiến đấu là việc của Đức Chúa "(1 Sa 17: 45,47).
4. Mặc dầu đặc điểm lịch sử của nó liên kết với chiến tranh, Thánh vịnh có thể trở nên một lời mời đừng để mình bị khuất phục bởi sự hấp dẫn của bạo tàng. Isaiah cũng đã kêu lên:"Khốn thay những kẻ.. . cậy dựa vào chiến mã: tin tưởng vì có lắm chiến xa, và kị binh hùng mạnh, mà không chịu ngước nhìn Đấng Thánh của Israel, cũng không kiếm tìm Đức Chúa" (Is. 31:1).
Đứng trước mọi thứ bạo tàn, người chính trực chống lai với đức tin, lòng tốt, sự tha thứ, sự cầu hòa. Thánh Phaolô tông đồ cảnh cáo những Kitô hữu: "Đừng lấy ác báo ác, hãy chú tâm vào những điều mọi người cho là tốt" (Rm 12:17).Và sử gia của Giáo hội trong những thế kỷ đầu, Eusebius Of Caesarea (sống giữa thế kỷ thứ ba và thứ tư), khi bình giải về Thánh vịnh của chúng ta, mở rộng tầm nhìn của ngài tới chỗ bao hàm sự dữ của cái chết mà người Kitô hữu biết mình có thể chiến thắng nhờ quyền lực Chúa Kitô: "Tất cả những quyền lực thù nghịch và những kẻ thù của Thiên Chúa, ẩn giấu hay lộ liễu, những bộ mặt tránh xa chính Đấng Cứu Thế, sẽ ngã qụy. Nhưng tất cả những người nhận lấy ơn cứu rỗi, sẽ chổi dậy từ sự đổ nát trước của họ. Vì lẽ đó ông Simeon đã nói: "Thiên Chúa đã đặt cháu bé này làm duyên cớ cho nhiều người Israel phải vấp ngã hay được chỗi dậy, " nghĩa là, những kẻ chống đối và thù địch với Người phải thất bại, và những kẻ, một khi sa ngã, được Người cho sống lại, sẽ chổi dậy" (PG 23,197).
Cuối buổi triều yết, một vị phụ tá Đức thánh Cha đọc bản tóm lược sau đây bằng tiếng Anh:
Thánh vịnh 19 là một kinh phụng vụ trọng thể xin Đức Chúa ban cho vua chiến thắng những kẻ thù nhà vua. Thánh vịnh bày tỏ niềm xác tín rằng Thiên Chúa sẽ trung thành với dân Người. Người là Thiên Chúa nâng đỡ những kẻ tin tưởng nơi Người. Truyền thống Kitô hữu áp dụng Thánh vịnh này cho Chúa Kitô, Đấng Messiah, Đấng được Xức Dầu của Thiên Chúa, Đấng chiến thắng sự dữ. Trong Người, mọi Kitô hữu được kêu gọi chiến thắng sự dữ, không phải bằng bạo lực, nhưng bằng quyền lực đức tin và sự tha thứ.
Sau đó Đức Giáo Hoàng chào những người hành hương nói tiếng Anh như sau:
Anh chị em thân mến,
Tôi xin nồng nhiệt chào mừng tất cả những người hành hương và khách thăm viếng nói tiếng Anh hiện diện trong buổi triều yết hôm nay. Tôi chào mừng cách riêng những thành viên của những Cơ quan Đoàn sủng Canh Tân Công Giáo Quôc tế. Tôi cũng chào mừng những nhóm đến từ Đan Mạtch và Hoa Kỳ, và cách riêng nhiều người trẻ hiện diện. Trên tất cả anh chị em tôi chân tình cầu xin niềm vui và bình an trong Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta Đấng kêu gọi chúng ta chia sẻ trong chiến thắng của Người trên sự dữ.