Biến cố tập trung về Lộ Đức
VATICAN (Zenit.org).- Toàn văn bản sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II gởi Ngày Thế Giới Bịnh Nhân lần thứ 12 được cử hành vào ngày 11/2, ngày lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức.
* * *
Gởi người anh em Đáng Kính của tôi
Hồng Y Javier Lozano Barragan
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Mục Vụ Y Tế
1. Ngày Thế giới người Bịnh, một biến cố được tổ chức mỗi năm trên một Lục Địa khác nhau, có ý nghĩa đặc biệt trong thời đại này. Trên thực tế, ngày đó sẽ được tổ chức tại Lộ Đức, nước Pháp, nơi Đức Thánh Trinh Nữ hiện ra vào ngày 11/2/1858, mà từ đó đã trở thành nơi của nhiều cuộc hành hương. Trong vùng núi nầy, Đức Bà đã muốn bày tỏ tình yêu từ mẫu của mình, nhất là đối với người đau khổ và người bịnh. Từ lúc đó, Mẹ tiếp tục hiện diện qua sự lo lắng của Mẹ.
Đền này được chọn bời vì trong năm 2004 là năm kỷ niệm 150 năm tuyên bố tín điều Vô nhiễm Nguyên tội. Chính trong ngày 8/12/ 1854, với Sắc lệnh Tín điều "Ineffabilis Deus", Đấng tiền nhiệm của tôi là Chân phước Pius IX đáng ghi nhớ, khẳng định "giáo lý dạy Đức Trinh Maria Chí Thánh, trong giây phút đầu tiên đầụ thai, nhờ một ân sủng và đặc quyền do Thiên Chúa Toàn Năng ban cho, vì cộng nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân loại, được giữ khỏi mọi vết nhơ tội nguyên tổ, là một giáo lý được Thiên Chúa mạc khải" (DS, 2803). Tại Lộ Đức, Mẹ Maria đã nói bằng thổ ngữ: "Que soy era Immaculata Concepcion" [Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội].
2. Với những lời này, phải chăng Đức Thánh Trinh Nữ không muốn bày tỏ sự liên kết nối kết Mẹ với sức khoẻ và sự sống sao? Nếu sự chết đã đi vào thế gian vì tội nguyên tổ, thì nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã gìn giữ Đức Maria khỏi mọi vết nhơ tội lổi, và chúng ta được cứu rỗi và sống (x. Rm 5: 12-21).
Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội dẫn chúng ta vào trong trung tâm mầu nhiệm Sáng Tạo và Cứu Chuộc (x. Eph. 1: 4-12; 3: 9-11). Thiên Chúa muốn ban dồi dào sự sống cho con người (x. Ga. 10:10). Nhưng với điều kiện là sáng kiến của Người phải được đáp lại bằng một đáp ứng tự do và yêu mến. Con người đã cắt đứt cách thê thảm sự đối thoại sống còn với Đấng Sáng Tạo, bằng cách khước từ ân huệ này với sự bất tuân dẫn tới tội lỗi. Đối với tiếng "có" của Thiên Chúa, nguồn mạch sự viên mãn sự sống, thì tiếng "không" của con người đặt trong sự đối nghịch, bị thúc đẩy bởi sự tự mãn, báo hiệu sự chết (c. Rm 5: 19).
Toàn thể nhân loại bị lôi cuốn nặng nề trong sự khép kín này với Thiên Chúa. Vì công nghiệp Chúa Kitô, chỉ một mình Đức Maria thành Nadareth được đầu thai không mắc tội nguyên tổ và được hoàn toàn mở ra đón nhận ý định thần linh, nên Cha Trên Trời có khả năng hoàn tất trong Mẹ chương trình Chúa định đối với nhân loại.
Sự Vô Nhiễm Nguyên tôi đưa vào sự kết hiệp hài hòa giữa cái "có" của Thiên Chúa và tiếng "vâng" mà Đức Maria đã thưa một cách không do dự khi thiên thần truyền tin từ trời (c. Lc. 1:38). Tiếng "vâng" của Mẹ nhân danh nhân loại mở ra lại các cửa Trời cho thế giới, nhờ sự Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa trong lòng Mẹ bởi phép Chúa Thánh Thần (x.Lc 1:35). Như vậy, chương trình nguyên thủy sáng tạo được phục hồi và tăng cường trong Chúa Kitô, Người Me Đồng Trinh cũng chia sẻ trong dự án này.
3. Yếu tố chủ chốt của lịch sử nằm ở đây: với sự Đầu thai Vô Nhiễm Nguyên tội của Đức Maria bắt đầu công trình vĩ đại Cứu Chuộc được hoàn tất trong máu châu báu của Chúa Kitô. Trong Nguời, tất cả mọi người được kêu gọi hoàn tất sự trọn lành thánh thiện (x. Col. 1:28).
Sự Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên tội, do đó, là vầng đông báo hiệu ngày sáng chói của Đức Kitô, Đấng bằng sự chết và Phục sinh của Người đã phục hồi sự hài hoà trọn vẹn giữa Thiên Chúa và nhân loại. Nếu Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống thắng sự chết, thí Đức Maria là người me chăm chú đến để thỏa mãn các nhu cầu của con cái mình, bằng cách xin cho chúng sức khỏe hồn và xác. Đó là sứ điệp Đền Lộ Đức luôn luôn tái đề nghị cho kẻ sốt sắng và những người hành hương. Đó cũng là ý nghĩa bên sau những sự chữa lành xác và hồn xảy ra tại hang Massabielle.
Tại nơi đây, từ ngày hiện ra với Bernadette Soubirous, Đức Maria đã "chữa lành" sự đau đớn và bệnh hoạn, cũng phục hồi sức khỏe phần xác cho nhiều người con trai và con gái của Mẹ. Nhưng Mẹ đã làm nhiều phép lạ gây kinh ngạc hơn nữa trong linh hồn những kẻ tin, bằng cách chuẩn bị cho họ gặp người Con Giêsu của Mẹ, là sự phúc đáp đích thực nhất cho những sự trông đợi thâm sâu của lòng người. Chúa Thánh Thần, Đấng bao trùm Mẹ với bóng của Người lúc Ngôi Lời NhậpThể, biến đổi linh hồn của vô số bịnh nhân chạy tới Mẹ. Dầu khi họ không được sức khoẻ phần xác, họ có khả năng nhận lãnh ơn khác quan trọng hơn nhiều: sự cải thiện tâm hồn, nguồn mạch sự bình an và niềm vui nội tâm. Ân huệ này biến đổi sự sống của họ và làm cho họ nên tồng đồ Thánh giá Chúa Kitô, tiêu chuẩn của hy vọng, cả giữa những thử thách cam go và khó khăn nhất.
4. Trong Tông Thư "Salvifici Doloris" tôi ghi chú rằng sự đau khổ thuộc về những thăng trầm của những người nam và người nữ suốt dòng lịch sử, họ phải học chấp nhận và tiến xa hơn nó (x. No 2: [11 /2/ 1984], Báo Quan Sát Viên Roma bản Anh Ngữ (L' Osservatore Romano) [ORE], 20/2, tr 1). và họ có thể nhờ bằng cách nào nếu không phải Thánh giá Chúa Kitô?
Trong sự chết và Phục sinh của Đấng Cứu thế, sự đau khổ con người gặp được ý nghĩa sâu xa nhất của nó và giá trị cứu rỗi của nó.Tất cả gánh nặng buồn phiền và đau đớn của nhân loại được tổng hợp trong mầu nhiệm của một Thiên Chúa, Đấng mặc lấy bản tính con người, hạ mình "vì chúng ta.. . thành hiện thân sự tội" ( 2 Cr 5:21). Trên đồi Golgtha Người gánh gánh nặng tội của mỗi một người, và trong cảnh cô đơn và bị bỏ mặc Nguời đã kêu lên Chúa Cha: "Nhân sao Cha bỏ con?" (Mt. 27:46).
Từ sự nghịch lý của Thánh giá phát xuất ra câu trả lời cho những câu hỏi phiền hà nhất của chúng ta. Chúa Kitô chịu đau khổ vì chúng ta. Người gánh lấy những đau khổ của mỗi người và cứu chuộc họ. Chúa Kitô chịu đau khổ với chúng ta, cho chúng ta khả năng chia sẻ sự dau đớn của chúng ta với Người. Được kết hợp với những đau khổ của Chúa Kitô, sự đau khổ con người trở nên một phương tiện cứu rỗi; đó là lý do tại sao kẻ tin có thể nói cùng với Thánh Phaolô: "Giờ đây tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em, những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh "(Cl. 1:24). Sự đau đớn, chấp nhận với đức tin, trở thành con đường dẫn vào mầu nhiệm sự đau khổ cứu chuộc của Chúa Giêsu, một sư đau khổ không còn làm mất bình an và hạnh phúc nữa, bởi vì sự đau khổ được soi sáng bởi ánh sáng Phục sinh.
5. Dưới chân Thánh giá, Đức Maria được chọn làm Mẹ nhân loại, chịu đau khổ trong thinh lặng, tham gia sự đau khổ Con Mẹ, sẵn sàng cầu bàu cho mọi người có thể được cứu rỗi (x. Gioan Phaolo II, Tông Thư "Salvifici Doloris" [11/2/1984], n. 25; ORE, 20/2/1984, tr 6).
Tại Lộ Đức, thật không khó để hiểu đến sự tham gia độc nhất của Đức Maria trong vai trò cứu rỗi của Chúa Kitô. Sự kỳ diệu Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên tội nhắc những người tín hữu về một chân lý cơ bản: có thể đạt tới sự cứu rỗi chỉ nhờ sự tham gia ngoan ngoãn trong chương trình của Chúa Cha, Người muốn cứu chuộc thế giới qua sự chết và Phục sinh của người Con độc nhất của Người.
Nhờ bí tích Rửa tội, người tín hữu trở nên thành phần của ý định cứu rỗi và được cứu thoát khỏi tội nguyên tổ. Bệnh hoạn và sự chết, mặc dầu hiện diện trong sự sống trần gian, mất ý nghĩa tiêu cực của chúng, và trong ánh sáng đức tin, sự chết thể xác, bị đánh bại bởi sự chết của Đức Kitô (x. Rm 6:4), trở nên con đường bắt buộc để vào sự viên mãn của sự sống bất diệt.
6. Trong thời đại chúng ta, đã thực hiện được một tiến trình lớn trong việc hiểu biết khoa học về sự sống là một ân huệ cơ bản của Thiên Chúa, theo đó chúng ta là những người quản trị sự sống. Sự sống phải được đón nhận, tôn trọng và bảo vệ từ lúc bắt đầu cho tới khi nó chấm dứt tự nhiên; gia đình, cái nôi của mỗi sự sống mới sinh, phải được bảo vệ với nó.
Ngày nay, người ta nói về "khoa công trình di truyền học", qui chiếu về khả năng lạ lùng mà khoa học hiện đại cống hiến để can thiệp vào chính những nguồn mạch sự sống. Tất cả sự tiến bộ đích thực trong lãnh vự này đáng khích lệ, miễn là nó luôn luôn tôn trọng các quyền và phẩm giá con người từ lúc mới đầu thai. Trên thực tế, không ai có thể đòi quyền phá hủy hay xử lý bừa bãi sự sống con người. Một nhiệm vụ riêng biệt của những người làm việc trong lãnh vực Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe là nhạy cảm hóa những kẻ làm việc trong khu vực tế nhị này, sao cho họ luôn luôn dấn thân đặt mình phục vụ sự sống.
Trong dịp Ngày Thế Giới Bịnh Nhân, tôi muốn cám ơn tất cả các thành viên Chăm Lo Mục vụ Sức Khỏe, cách riêng các Giám mục từ những Hội đồng Giám Mục khác nhau giúp đỡ trong lãnh vực này; những tuyên úy, những linh mục quản xứ và những linh mục khác dấn thân trong lãnh vực này; các dòng và hiệp hội tu sĩ, những người tình nguyện và những người không hề biết mỏi mệt cống hiến một bằng chứng nhất quán cho sự chết và Phục sinh của Chúa Giêsu trước sự đau khổ, đau đớn và sự chết.
Tôi muốn gởi đến lòng biết ơn của tôi tới những người chăm sóc sức khỏe, tới nhân viên y tế và hỗ trợ y tế, những nhà nghiên cứu-- nhất là những người hiến mình khám phá đến những cách điều trị mới-- và tới những người làm việc trong việc sản xuất những thứ thuốc để cho người nghèo cũng có mà dùng.
Tôi phó thác tất cả anh chị em cho Đức Trinh Nữ Chí Thánh, được sùng kính tại Đền Lộ Đức là Đấng Vô Nhiễm Nguyên tội. Xin Mẹ giúp mọi người Kitô hữu minh chứng rằng sự đáp ứng đích thực duy nhất cho sự đau đớn, đau khổ và sự chết là Đức Kitô Chúa chúng ta, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta.
Với những tâm tình này, tôi mốn gởi tới quý anh em, thưa người Anh em Đáng kính, và tới những người tham gia trong việc cử hành Ngày Thế Giới Bịnh Nhân một Phép Lành Tòa Thánh đặc biệt.
Vatican, 1/12/2003
JOHN PAUL II
VATICAN (Zenit.org).- Toàn văn bản sứ điệp của Đức Gioan Phaolô II gởi Ngày Thế Giới Bịnh Nhân lần thứ 12 được cử hành vào ngày 11/2, ngày lễ kính Đức Mẹ Lộ Đức.
* * *
Gởi người anh em Đáng Kính của tôi
Hồng Y Javier Lozano Barragan
Chủ tịch Hội đồng Giáo hoàng Mục Vụ Y Tế
1. Ngày Thế giới người Bịnh, một biến cố được tổ chức mỗi năm trên một Lục Địa khác nhau, có ý nghĩa đặc biệt trong thời đại này. Trên thực tế, ngày đó sẽ được tổ chức tại Lộ Đức, nước Pháp, nơi Đức Thánh Trinh Nữ hiện ra vào ngày 11/2/1858, mà từ đó đã trở thành nơi của nhiều cuộc hành hương. Trong vùng núi nầy, Đức Bà đã muốn bày tỏ tình yêu từ mẫu của mình, nhất là đối với người đau khổ và người bịnh. Từ lúc đó, Mẹ tiếp tục hiện diện qua sự lo lắng của Mẹ.
Đền này được chọn bời vì trong năm 2004 là năm kỷ niệm 150 năm tuyên bố tín điều Vô nhiễm Nguyên tội. Chính trong ngày 8/12/ 1854, với Sắc lệnh Tín điều "Ineffabilis Deus", Đấng tiền nhiệm của tôi là Chân phước Pius IX đáng ghi nhớ, khẳng định "giáo lý dạy Đức Trinh Maria Chí Thánh, trong giây phút đầu tiên đầụ thai, nhờ một ân sủng và đặc quyền do Thiên Chúa Toàn Năng ban cho, vì cộng nghiệp Chúa Giêsu Kitô, Đấng Cứu chuộc nhân loại, được giữ khỏi mọi vết nhơ tội nguyên tổ, là một giáo lý được Thiên Chúa mạc khải" (DS, 2803). Tại Lộ Đức, Mẹ Maria đã nói bằng thổ ngữ: "Que soy era Immaculata Concepcion" [Ta là Đấng Vô Nhiễm Nguyên Tội].
2. Với những lời này, phải chăng Đức Thánh Trinh Nữ không muốn bày tỏ sự liên kết nối kết Mẹ với sức khoẻ và sự sống sao? Nếu sự chết đã đi vào thế gian vì tội nguyên tổ, thì nhờ công nghiệp của Chúa Giêsu Kitô, Thiên Chúa đã gìn giữ Đức Maria khỏi mọi vết nhơ tội lổi, và chúng ta được cứu rỗi và sống (x. Rm 5: 12-21).
Tín điều Vô Nhiễm Nguyên Tội dẫn chúng ta vào trong trung tâm mầu nhiệm Sáng Tạo và Cứu Chuộc (x. Eph. 1: 4-12; 3: 9-11). Thiên Chúa muốn ban dồi dào sự sống cho con người (x. Ga. 10:10). Nhưng với điều kiện là sáng kiến của Người phải được đáp lại bằng một đáp ứng tự do và yêu mến. Con người đã cắt đứt cách thê thảm sự đối thoại sống còn với Đấng Sáng Tạo, bằng cách khước từ ân huệ này với sự bất tuân dẫn tới tội lỗi. Đối với tiếng "có" của Thiên Chúa, nguồn mạch sự viên mãn sự sống, thì tiếng "không" của con người đặt trong sự đối nghịch, bị thúc đẩy bởi sự tự mãn, báo hiệu sự chết (c. Rm 5: 19).
Toàn thể nhân loại bị lôi cuốn nặng nề trong sự khép kín này với Thiên Chúa. Vì công nghiệp Chúa Kitô, chỉ một mình Đức Maria thành Nadareth được đầu thai không mắc tội nguyên tổ và được hoàn toàn mở ra đón nhận ý định thần linh, nên Cha Trên Trời có khả năng hoàn tất trong Mẹ chương trình Chúa định đối với nhân loại.
Sự Vô Nhiễm Nguyên tôi đưa vào sự kết hiệp hài hòa giữa cái "có" của Thiên Chúa và tiếng "vâng" mà Đức Maria đã thưa một cách không do dự khi thiên thần truyền tin từ trời (c. Lc. 1:38). Tiếng "vâng" của Mẹ nhân danh nhân loại mở ra lại các cửa Trời cho thế giới, nhờ sự Nhập Thể của Ngôi Lời Thiên Chúa trong lòng Mẹ bởi phép Chúa Thánh Thần (x.Lc 1:35). Như vậy, chương trình nguyên thủy sáng tạo được phục hồi và tăng cường trong Chúa Kitô, Người Me Đồng Trinh cũng chia sẻ trong dự án này.
3. Yếu tố chủ chốt của lịch sử nằm ở đây: với sự Đầu thai Vô Nhiễm Nguyên tội của Đức Maria bắt đầu công trình vĩ đại Cứu Chuộc được hoàn tất trong máu châu báu của Chúa Kitô. Trong Nguời, tất cả mọi người được kêu gọi hoàn tất sự trọn lành thánh thiện (x. Col. 1:28).
Sự Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên tội, do đó, là vầng đông báo hiệu ngày sáng chói của Đức Kitô, Đấng bằng sự chết và Phục sinh của Người đã phục hồi sự hài hoà trọn vẹn giữa Thiên Chúa và nhân loại. Nếu Chúa Giêsu là nguồn mạch sự sống thắng sự chết, thí Đức Maria là người me chăm chú đến để thỏa mãn các nhu cầu của con cái mình, bằng cách xin cho chúng sức khỏe hồn và xác. Đó là sứ điệp Đền Lộ Đức luôn luôn tái đề nghị cho kẻ sốt sắng và những người hành hương. Đó cũng là ý nghĩa bên sau những sự chữa lành xác và hồn xảy ra tại hang Massabielle.
Tại nơi đây, từ ngày hiện ra với Bernadette Soubirous, Đức Maria đã "chữa lành" sự đau đớn và bệnh hoạn, cũng phục hồi sức khỏe phần xác cho nhiều người con trai và con gái của Mẹ. Nhưng Mẹ đã làm nhiều phép lạ gây kinh ngạc hơn nữa trong linh hồn những kẻ tin, bằng cách chuẩn bị cho họ gặp người Con Giêsu của Mẹ, là sự phúc đáp đích thực nhất cho những sự trông đợi thâm sâu của lòng người. Chúa Thánh Thần, Đấng bao trùm Mẹ với bóng của Người lúc Ngôi Lời NhậpThể, biến đổi linh hồn của vô số bịnh nhân chạy tới Mẹ. Dầu khi họ không được sức khoẻ phần xác, họ có khả năng nhận lãnh ơn khác quan trọng hơn nhiều: sự cải thiện tâm hồn, nguồn mạch sự bình an và niềm vui nội tâm. Ân huệ này biến đổi sự sống của họ và làm cho họ nên tồng đồ Thánh giá Chúa Kitô, tiêu chuẩn của hy vọng, cả giữa những thử thách cam go và khó khăn nhất.
4. Trong Tông Thư "Salvifici Doloris" tôi ghi chú rằng sự đau khổ thuộc về những thăng trầm của những người nam và người nữ suốt dòng lịch sử, họ phải học chấp nhận và tiến xa hơn nó (x. No 2: [11 /2/ 1984], Báo Quan Sát Viên Roma bản Anh Ngữ (L' Osservatore Romano) [ORE], 20/2, tr 1). và họ có thể nhờ bằng cách nào nếu không phải Thánh giá Chúa Kitô?
Trong sự chết và Phục sinh của Đấng Cứu thế, sự đau khổ con người gặp được ý nghĩa sâu xa nhất của nó và giá trị cứu rỗi của nó.Tất cả gánh nặng buồn phiền và đau đớn của nhân loại được tổng hợp trong mầu nhiệm của một Thiên Chúa, Đấng mặc lấy bản tính con người, hạ mình "vì chúng ta.. . thành hiện thân sự tội" ( 2 Cr 5:21). Trên đồi Golgtha Người gánh gánh nặng tội của mỗi một người, và trong cảnh cô đơn và bị bỏ mặc Nguời đã kêu lên Chúa Cha: "Nhân sao Cha bỏ con?" (Mt. 27:46).
Từ sự nghịch lý của Thánh giá phát xuất ra câu trả lời cho những câu hỏi phiền hà nhất của chúng ta. Chúa Kitô chịu đau khổ vì chúng ta. Người gánh lấy những đau khổ của mỗi người và cứu chuộc họ. Chúa Kitô chịu đau khổ với chúng ta, cho chúng ta khả năng chia sẻ sự dau đớn của chúng ta với Người. Được kết hợp với những đau khổ của Chúa Kitô, sự đau khổ con người trở nên một phương tiện cứu rỗi; đó là lý do tại sao kẻ tin có thể nói cùng với Thánh Phaolô: "Giờ đây tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em, những gian nan thử thách Đức Kitô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh "(Cl. 1:24). Sự đau đớn, chấp nhận với đức tin, trở thành con đường dẫn vào mầu nhiệm sự đau khổ cứu chuộc của Chúa Giêsu, một sư đau khổ không còn làm mất bình an và hạnh phúc nữa, bởi vì sự đau khổ được soi sáng bởi ánh sáng Phục sinh.
5. Dưới chân Thánh giá, Đức Maria được chọn làm Mẹ nhân loại, chịu đau khổ trong thinh lặng, tham gia sự đau khổ Con Mẹ, sẵn sàng cầu bàu cho mọi người có thể được cứu rỗi (x. Gioan Phaolo II, Tông Thư "Salvifici Doloris" [11/2/1984], n. 25; ORE, 20/2/1984, tr 6).
Tại Lộ Đức, thật không khó để hiểu đến sự tham gia độc nhất của Đức Maria trong vai trò cứu rỗi của Chúa Kitô. Sự kỳ diệu Đầu Thai Vô Nhiễm Nguyên tội nhắc những người tín hữu về một chân lý cơ bản: có thể đạt tới sự cứu rỗi chỉ nhờ sự tham gia ngoan ngoãn trong chương trình của Chúa Cha, Người muốn cứu chuộc thế giới qua sự chết và Phục sinh của người Con độc nhất của Người.
Nhờ bí tích Rửa tội, người tín hữu trở nên thành phần của ý định cứu rỗi và được cứu thoát khỏi tội nguyên tổ. Bệnh hoạn và sự chết, mặc dầu hiện diện trong sự sống trần gian, mất ý nghĩa tiêu cực của chúng, và trong ánh sáng đức tin, sự chết thể xác, bị đánh bại bởi sự chết của Đức Kitô (x. Rm 6:4), trở nên con đường bắt buộc để vào sự viên mãn của sự sống bất diệt.
6. Trong thời đại chúng ta, đã thực hiện được một tiến trình lớn trong việc hiểu biết khoa học về sự sống là một ân huệ cơ bản của Thiên Chúa, theo đó chúng ta là những người quản trị sự sống. Sự sống phải được đón nhận, tôn trọng và bảo vệ từ lúc bắt đầu cho tới khi nó chấm dứt tự nhiên; gia đình, cái nôi của mỗi sự sống mới sinh, phải được bảo vệ với nó.
Ngày nay, người ta nói về "khoa công trình di truyền học", qui chiếu về khả năng lạ lùng mà khoa học hiện đại cống hiến để can thiệp vào chính những nguồn mạch sự sống. Tất cả sự tiến bộ đích thực trong lãnh vự này đáng khích lệ, miễn là nó luôn luôn tôn trọng các quyền và phẩm giá con người từ lúc mới đầu thai. Trên thực tế, không ai có thể đòi quyền phá hủy hay xử lý bừa bãi sự sống con người. Một nhiệm vụ riêng biệt của những người làm việc trong lãnh vực Chăm Sóc Mục Vụ Sức Khỏe là nhạy cảm hóa những kẻ làm việc trong khu vực tế nhị này, sao cho họ luôn luôn dấn thân đặt mình phục vụ sự sống.
Trong dịp Ngày Thế Giới Bịnh Nhân, tôi muốn cám ơn tất cả các thành viên Chăm Lo Mục vụ Sức Khỏe, cách riêng các Giám mục từ những Hội đồng Giám Mục khác nhau giúp đỡ trong lãnh vực này; những tuyên úy, những linh mục quản xứ và những linh mục khác dấn thân trong lãnh vực này; các dòng và hiệp hội tu sĩ, những người tình nguyện và những người không hề biết mỏi mệt cống hiến một bằng chứng nhất quán cho sự chết và Phục sinh của Chúa Giêsu trước sự đau khổ, đau đớn và sự chết.
Tôi muốn gởi đến lòng biết ơn của tôi tới những người chăm sóc sức khỏe, tới nhân viên y tế và hỗ trợ y tế, những nhà nghiên cứu-- nhất là những người hiến mình khám phá đến những cách điều trị mới-- và tới những người làm việc trong việc sản xuất những thứ thuốc để cho người nghèo cũng có mà dùng.
Tôi phó thác tất cả anh chị em cho Đức Trinh Nữ Chí Thánh, được sùng kính tại Đền Lộ Đức là Đấng Vô Nhiễm Nguyên tội. Xin Mẹ giúp mọi người Kitô hữu minh chứng rằng sự đáp ứng đích thực duy nhất cho sự đau đớn, đau khổ và sự chết là Đức Kitô Chúa chúng ta, Đấng đã chết và sống lại vì chúng ta.
Với những tâm tình này, tôi mốn gởi tới quý anh em, thưa người Anh em Đáng kính, và tới những người tham gia trong việc cử hành Ngày Thế Giới Bịnh Nhân một Phép Lành Tòa Thánh đặc biệt.
Vatican, 1/12/2003
JOHN PAUL II