Đức Giáo Hoàng nói về những Lời nói và hành động như sự diễn tả trong việc lựa chọn luân lý.

VATICAN (Zenit.org).- Đây là một bản dịch bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II đã soạn cho buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 5/11. Ngài dành bài huấn đức để suy niệm về Thánh Vịnh 140 (141).

* * *

1. Trong những bài giáo lý trước chúng ta đã duyệt lại cấu trúc và giá trị của phụng vụ kinh Chiều, kinh quan trọng của Giáo Hội trong buổi chiều. Bây giờ chúng ta sẽ đi sâu hơn. Có thể sánh việc làm này như đi hành hương vào trong "đất thánh" được hình Thánh bằng những Thánh Vịnh và thánh ca. Thỉnh thoảng chúng ta sẽ suy tư về một trong những kinh nên thơ này, mà Chúa đã niêm ấn bằng sự linh hứng của Người. Đó là những lời cầu xin mà chính Chúa muốn tâu lên Người. Người thích nghe sự run động con tim của các con cái yêu quí của Người qua những lời cầu đó, trong những kinh đó.

Chúng ta sẽ bắt đầu với Thánh Vịnh 140 (141), Thánh Vịnh khai mạc kinh Chiều Chúa nhật của tuần thứ nhất trong bốn tuần Kinh Chiều của Giáo Hội được đọc từ sau Công đồng.

2. "Ước chi lời con nguyện như hương trầm bay tỏa trước Thánh Nhan; và tay con giơ lên được chấp nhận như của lễ ban chiều." Câu hai của Thánh Vịnh này có thể được coi như là dấu phân biệt của toàn thể bài ca và như sự biện giải hiển nhiên cho việc đưa nó vào trong phụng vụ kinh Chiều. Ý niệm được bày tỏ phản chiếu tinh thần thần học có tính tiên tri, liên kết cách thân mật sự thờ phượng với sự sống, sự cầu nguyện và sự hiện hữu.

Cũng một lời cầu nguyện mà thực hiện với một tấm lòng thanh tịnh và chân thật, trở Thánh một hy lễ dâng lên Thiên Chúa. Hữu thể toàn diện của con người cầu nguyện, trở nên một hành vi hy sinh, như vậy báo trước tất cả những gì thánh Phaolô muốn nói khi Ngài mời các Kitô hữu hiến dâng thân mình làm của lễ sống động, thánh thiện và đẹp lòng Thiên Chúa. Đó là hy lễ thiêng liêng đẹp lòng Người (x. Romans 12: 1).

Hai tay giơ lên trong khi cầu nguyện là một cây cầu liên lạc với Chúa, cũng vậy khói bay lên như mùi thơm ngọt ngào từ lễ vật trong nghi thức tế lễ buổi chiều.

3. Thánh Vịnh tiếp tục với một kiểu cách cầu xin, được truyền lại cho chúng ta qua một bản văn mà trong tiếng Do thái biểu lộ không ít đến những khó khăn và khó hiểu.

Trong bất cứ trường hộp nào, ý nghĩa chung của Thánh Vịnh có thể được nhận diện và biến thành sự suy gẫm và cầu nguyện. Trước hết, người cầu nguyện xin Thiên Chúa đừng đễ miệng mình (x.c.3) và những cảm tình của lòng mình bị lôi cuốn và bị quyến rũ làm sự dữ và đưa mình tới phạm những "điều ác" (x.c. 4). Những lời nói và những việc làm trên thực tế là sự bày tỏ việc lựa chọn luân lý của con người. Sự dữ dễ gây ra nhiều hấp dẫn lôi kéo chính người tín hữu đến những "khoái cảm" mà các kẻ tội lỗi có thể cung cấp, bằng cách ngồi chung bàn với chúng, nghỉa là tham gia trong những việc xấu xa của chúng.

Như vậy Thánh Vịnh hầu như đạt được đặc tính của một sự xét xử lương tâm, tiếp theo là sự cam kết luôn luôn chọn lấy những con đường của Chúa.

4. Nhưng tới đây người cầu nguyện bị một cú sốc đã b phát ra một lời tuyên bố sôi nổi loài trừ bất cứ sự đồng loã nào với kẻ làm điều dữ: ông không chút nào muốn làm khách kẻ dữ, hay là để dầu thơm dành cho khách danh dự (x. Tv 22:5) xác nhận sự đồng lõa của ông với kẻ dữ (x. Tv 140 [141] : 5). Để diễn tả mạnh mẽ hơn đến việc triệt để tách rời khỏi kẻ dữ, tác giả Thánh Vịnh bấy giờ công bố một sự lên án đầy khinh bỉ, được diễn tả bằng những hình ảnh đầy màu sắc của sự phán xét kịch liệt.

Đó là một trong những lời cầu xin kiểu mẫu của sách Thánh Vịnh (x. Tv 57 và 108), mà mục đích là khẳng định một cách sống động và duyên dáng--sự thù địch với sự dữ, sự lựa chon điều lành, và sự chắc chắn Chúa can thiệp trong lịch sử khi Người phán xét để nghiêm khắc phạt sự bất công (x. cc 6-7)

5. Thánh Vịnh kết thúc với một lời cầu xin cuối cùng đầy tin tưởng (x. cc 8-9): Đó là thánh thi của đức tin, của sự biết ơn và của niềm vui, trong sự chắc rằng người tín hữu sẽ không bị bao bọc trong hận thù mà những kẻ ác dành cho ông, và sẽ không rơi vào bẫy chúng đặt ra cho ông, sau khi nói rõ ông quyết chọn sự lành. Người công chính sẽ an bình có khả năng vượt qua tất cả sự lừa đảo, như Thánh Vịnh trong đoạn khác đã nói: "Hồn ta tựa cánh chim thoát lưới người đánh bẫy; lưới giăng đã đứt rồi, thế là ta thoát nạn!" (Tv. 123:&).

Chúng ta hãy kết thúc việc đọc Thánh Vịnh 140 [141) của chúng ta bằng cách trở về với những hình ảnh ban đầu, hình ảnh kinh chiều như là một hy lễ đẹp lòng Chúa. John Cassian, một thầy giảng thiêng liêng vĩ đại sống giữa những thế kỷ thứ bốn và thứ năm, Ngài đến từ phương Đông và sống chuổi ngày còn lại tại miền nam Gaul, đã đọc lại những lời này trong một tâm trạng Kitô học: "Trên thực tế, trong những lời đó, người ta có thể hiểu cách thiêng liêng là một sự ám chỉ tới hy lễ buổi chiều do Đức Chúa và Đấng Cứu độ thực hiện trong bữa Tiệc Cuối và được giao phó cho các tông đồ, khi Người chấp nhận sự bắt đầu của những mẩu nhiệm thánh của Giáo hội, hay là (người ta có thể thấy một sự ám chỉ) tới cũng một hy lễ mà Người dâng nơi chính mình ngày hôm sau trong buổi chiều, với sự giơ hai tay mình lên, một hy lễ sẽ được kéo dài cho tới cuối thời gian vì phần rỗi của toàn thế giới" (" Le Istituzioni Cenobitiche") [(The Cenobitic Institutions], Abbey of Praglia, Padua, 1989, p.92).

Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:

Anh chị em thân mến,

Thánh Vịnh hôm nay nói về sự cầu nguyện chúng ta dâng lên Chúa như hương thơm và như lễ hiến dâng ban chiều. Thánh Vịnh nhấn mạnh sự liên kết thân mật giữa sự cầu nguyện và sự sống hằng ngày, và nhắc chúng ta rằng sự cầu nguyện của chúng ta tự nó là một hành vi tế lễ dâng lên Chúa. Tác giả Thánh Vịnh công nhận những lời nói và những hành động là một sự diễn tả của sự lựa chọn luân lý. Ông xin Chúa giữ ông khỏi bất cứ sự đồng lõa nào với sự dữ. Thánh Vịnh kết thúc với sự vui mừng và niềm tin rằng chúng ta có thể tìm sự ẩn náu trong Chúa.

Tôi gởi đến những lời chào đặc biệt tới nhóm từ Ðại Học Giáo Hoàng Irish, dưới sự hướng dẫn của Hồng Y Connell và những Giám mục Irish khác. Tôi chào tất cả những khách thăm viếng nói tiếng Anh ở đây hôm nay, kể cả những nhóm đến từ Anh quốc, Scotland, Ireland, Norway, Sweden, Denmark và Hoa Kỳ. Trên tất cả anh chị em tôi cầu xin ân sủng và bình an của Chúa Giêsu Kitô Chúa chúng ta.