Chúa Kitô, "Ánh sáng trong Bóng tối sự Chết."
VATICAN (Zenit.org).-
Tuần trước vì bị đau bụng Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã không trở về Vatican trong buổi triều yết chung thứ Tư hàng tuần, tuần này Ðức Giáo Hoàng đã trở lại gặp gỡ khánh hành hương và đi trên xe Giáo Hoàng vòng quang quảng trường Thánh Phêrô. Vì sức khoẻ còn yếu, Ðức Giáo Hoàng đã không đọc hết cũng như có lúc Ngài đã mất giọng khi đang đọc bài huấn dụ. Ðang đọc giữa câu, Ðức Thánh Cha đã ngừng và lắc đầu, cả quảng trường đều im lặng và rất nhiều người cảm động đến rơi nước mắt. Ðức Thánh Cha cố gượng đọc tiếp tức thì cả quảng trường rất cảm kích và cùng vỗ tay vang dội.
Mặc dầu Ðức Giáo Hoàng chỉ đọc chưa đầy 1/3 phần chính trong bài huấn dụ, thế nhưng Ðức Giáo Hoàng đã đọc hết những phần chuẩn bị cho khách hành hương bằng tiếng Pháp, Anh, Ðức, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha và tiếng Ba Lan.
Ðánh dấu ngày đầu tiên trong Tháng Mân Côi, trong phần nói tiếng Ba Lan, Ðức Thánh Cha đã nói với khách hành hương “nếu đẹp lòng Chúa”, Ngài sẽ tới Ðền Ðức Mẹ Maria Mân Côi tại Pompeli- Italia vào ngày Thứ Ba 7/10 tới đây bế mạc Năm Mân Côi, “để cảm tạ Thiến Chúa vì những công việc cao cả của những tấm lòng thánh hiến đã liên tục thực hiện, cảm tạ cho những kinh nguyện tuyệt diệu này”.
Sau đây là toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 1/10, Ngài suy tư về Thánh Ca Giacaria (Lc.1:68-79).
* * *
1. Cuối cuộc hành trình của chúng ta qua các Thánh vịnh và thánh ca Phụng vụ Kinh Sáng, chúng ta muốn suy tư về một kinh nguyện xuất hiện mỗi sáng trong lúc ca ngợi. Đó là kinh Benedictus, thánh ca do Giacaria xướng hát, ông là cha của Gioan Tẩy Giả, khi ngày sinh nhật của con ông thay đổi sự sống của ông, cất nỗi hồ nghi đã làm cho ông bị câm, một hình phạt có ý nghĩa vì ông thiếu lòng tin và ca ngợi Chúa.
Bây giờ, Giacaria có thể ngợi khen Thiên Chúa Đấng cứu chuộc, và ông làm như vậy với thánh ca này, được thánh tác giả tin mừng Luca ghi chép lại theo một cách mà nó chắc chắn phản ảnh lên việc xử dụng phụng vụ thánh ca trong cộng đồng Kitô hữu đầu tiên (x. Lc 1: 68-79).
Cũng một thánh tác giả tin mừng định nghĩa nó như môt bài ca tiên trị, được linh hứng bởi hơi thở của Chúa Thánh Thần (x. 1:67). Trên thực tế, chúng ta đứng trước một sự chúc mừng cao rao những việc làm cứu độ và sự giải phóng Chúa ban cho dân Người. Thật sự đó là một bài đọc "tiên tri" về lịch sử, nghĩa là sự khám phá ý nghĩa thân mật và sâu xa của tất cả thăng trầm của con nguời, được hướng dẫn bởi bàn tay kín đáo và hiệu nghiệm của Chúa, quấn lấy bàn tay yếu đuối và bấp bênh của con người.
2. Bản văn có tính cách long trọng và trong nguyên bản Hy lạp chỉ gồm có hai câu (x. cc.68-75,76-79). Sau phần nhập đề, là một lời chúc mừng ngợi khen, chúng ta có thể nhận ra trong toàn thể bài thánh ca thực sự qua ba đoạn thơ, tán dương nhiều chủ đề, với mục đích đánh dấu toàn thể lịch sử cứu rỗi: giáo ước với David (x.cc 68-71), giáo ước với Abraham (x. cc.72-75), vị Tẩy Giả đưa chúng ta tới giao ước mới trong Chúa Kitô (x. cc. &6-79). Toàn thể kinh nguyện hướng về mục đích mà David và Abraham chỉ rõ với sự hiện diện của các Ngài.
Đỉnh cao nhất được tóm tắt trong câu kết :"Vần đông tự chốn cao vời viếng thăm ta" (c.78). Kiểu nói mới xem ra nghịch lý trong sự nối kết "trời cao" với"vần đông" nhưng trên thực tế thật ý nghĩa.
3. Thật vậy, trong bản gốc Hy lập "mặt trời mọc" là "anatole," một tiếng có nghĩa là ánh sáng mặt trời chiếu soi trên hành tinh chúng ta, hay là chồi non nẩy mầm. Cả hai hình ảnh có một giá trị cứu thế trong truyền thống kinh thánh.
Một đàng, khi nói về đấng Emmanuel, tiên tri Isaiah nhắc chúng ta nhớ rằng "dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; Đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi" (9:1). Đàng khác, khi lại qui chiếu tới vua Emmanuel, ông mô tả Ngài như "một chồi non mọc ra từ góc Jesse," nghĩa là, từ triều đại David, một chồi non được Thần Khí Chúa bao bọc (x.Isaiah 11:1-2).
Do đó, với Chúa Kitô, xuất hiện ánh sáng chiếu soi mọi tạo vật (x. Ga 1:9) và sự sống phát triển, như tác giả tin mừng Gioan sẽ nói một càch chính xác kết nối hai thực tại này: "ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại" (1:4).
4. Nhân loại, ngồi "nơi tăm tối và trong bóng tử thần" được chiếu sáng nhờ sự sáng của mạc khải (x. Lc 1: 79). Như tiên tri Malachi đã loan báo, "đối với các người là những kẻ kính sợ danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh" (3:20). Mặt trời này sẽ "dẫn ta bước vào đường nẻo bình an" (Lc 1: 79).
Bây giờ chúng ta đi có ánh sáng này như điểm qui chiếu của chúng ta, và dẫu trong ban ngày thường đi trong tối tăm và trên những con đường trơn trượt, những bước chân không chắc chắn của chúng ta được nâng đỡ bởi sự sáng của chân lý mà Chúa Kitô đổ xuống trên thế giới và trên lịch sử.
Tới đây chúng ta nên nhường lời cho một thầy của Giáo hội, một trong những Tiến sĩ của Giáo hội là Thánh Beđa đáng kính người Anh (những thế kỷ thứ 7 tơi thứ 8), trong bài giảng của Ngài về lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả, Ngài đã bình luận như về Thánh ca Giacaria như sau: "Chuá... đã viếng thăm chúng ta như một bác sĩ thăm viếng bịnh nhân của mình, bởi vì muốn chữa lành căn bịnh kinh niên kiêu ngạo của chúng ta, Người đã cống hiến chúng ta gương mới khiêm nhượng của Người; Người đã cứu chuộc dân Người, bởi vì đã giải phóng chúng ta là những kẻ làm tôi tớ tội lổi và làm nô lệ của tên cựu thù, với giá máu của Người--
Chúa Kitô đã gặp chúng ta đang nằm "trong sự tối tăm và trong bóng sự chết,' nghĩa là, bị đè nén dưới sự đui mù lâu dài của tội lổi và sự dốt nát... Người đã mang đến cho chúng ta ánh sáng thật của sự hiểu biết của Người và, khi trục xuất sự tối tăm do lầm lạc, Nguời đã chỉ cho chúng ta con đường chắc đến quê trời. Người đã hướng dẫn những bước đi hành động của chúng ta giúp chúng ta đi trong con đường chân lý Người đã chỉ cho chúng ta, và giúp chúng ta vào nhà bình an đời đời, Người đã hứa cho chúng ta."
5. Sau cùng rút ra từ những bản văn kinh thánh khác, Thánh Bêđa kết thúc như vầy, bằng cách tạ ơn vì những ân huệ lãnh nhận: "Biết rằng chúng ta đang chiếm hữu những ân huệ này của sự tốt lành đời đời, thưa anh em thân mến... chúng ta cũng phải chúc mừng Chúa luôn mãi (x. Tv 33:2), bởi vì 'người đã viếng thăm và cứu chuộc dân Nguời.' Ước chi miệng lưỡi chúng ta luôn ngợi khen Người, ước chi chúng ta năng nhớ đến Người và công bố nhân đức của Đấng đã 'gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền' (1 Pt 2:9). Chúng ta hãy liên lỉ xin Người giúp đỡ, ngỏ hầu chúng ta giữ được trong chúng ta ánh sáng của sự hiểu biết Người đã ban cho chúng ta, và dẫn chúng ta tới ngày trọn lành" {"Omelie sul Vangelo," [Những bài giảng về Tin Mừng Rome], 1990.pp.464-465).
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Sự giải thích của chúng ta về các Thánh vịnh và thánh ca rút từ Kinh Sáng kết thúc hôm nay với Thánh Ca Giacaria, thường gọi là kinh Benedictus. Đó là một thánh ca tiên tri, trong đó người cha của Gioan Tẩy Giả, chỉ rõ ba biến cố trong việc Chúa cứu rỗi dân Israel: giao ước với Abraham, giao ước với David, và giao ước mới với Chúa Kitô. Như "vần đông từ chốn cao vời," Chúa Kitô ban ánh sáng và hướng dẫn chúng ta vào đường nẻo bình an. Như Venerable Bede ghi chú: Chúa Kitô chỉ cho chúng ta"con đường chăc để đạt tới quê trời."
Tôi chào những khách thăm viếng nói tiếng Anh hiên diện hôm nay, cách riêng những khách đến từ England, Scotland, Ireland, Australia, Canada và Hoa Kỳ, Tôi vui mừng dâng một lời chào nồng ấm và bày tỏ sự quí trọng của tôi đối với các thành viên tổ chức Patrons of the Arts in the Vatican Museums, do Đức Hồng Y Szoka hướng dẫn. Tôi cầu xin ân sủng và bình an của Đức Giêsu Kitô, Chúa và là Đấng Cứu chuộc chúng ta, xuống trên tất cả anh chị em.
Ghi Chú: Thán Bêđa đáng kính, Ðan Sĩ là người anglo-saxon, sống tại Ðan Viện Jarrow (673-735). Ngài thụ phong Phó Tế vào năm 692, chịu chức Linh Mục vào năm 703, chuyên sống cuộc đời cầu nguyện, nghiên cứu và giảng dạỵ Sự thông thái trổi vượt của Ngài khiến Ngài trở thành một trong những nhân vật chính của Giáo Hội anglo-saxon vào đầu thế kỷ thứ VIII. Tác phẩm quan trọng của Ngài là cuốn “Lịch Sử Dân Tộc Anh”. Lễ kính vào ngày 25/5. Có lẽ Ðức Thánh Cha trưng ra lời Giáo Huấn của Thánh Bêđa để nhắc lại một lần nữa nguồn gốc căn cội Kitô Giáo tại Âu Châu mà Ðức Thánh Cha đã nhiều lần nhắc đến trong những lần ban bài huấn dụ trước khi đọc kinh Truyền Tin trong những tuần vừa qua, khi mà Hiến Pháp Liên Hiệp Âu Châu không muốn nhắc đến và nhìn nhận căn cội này
VATICAN (Zenit.org).-
Tuần trước vì bị đau bụng Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã không trở về Vatican trong buổi triều yết chung thứ Tư hàng tuần, tuần này Ðức Giáo Hoàng đã trở lại gặp gỡ khánh hành hương và đi trên xe Giáo Hoàng vòng quang quảng trường Thánh Phêrô. Vì sức khoẻ còn yếu, Ðức Giáo Hoàng đã không đọc hết cũng như có lúc Ngài đã mất giọng khi đang đọc bài huấn dụ. Ðang đọc giữa câu, Ðức Thánh Cha đã ngừng và lắc đầu, cả quảng trường đều im lặng và rất nhiều người cảm động đến rơi nước mắt. Ðức Thánh Cha cố gượng đọc tiếp tức thì cả quảng trường rất cảm kích và cùng vỗ tay vang dội. Mặc dầu Ðức Giáo Hoàng chỉ đọc chưa đầy 1/3 phần chính trong bài huấn dụ, thế nhưng Ðức Giáo Hoàng đã đọc hết những phần chuẩn bị cho khách hành hương bằng tiếng Pháp, Anh, Ðức, Tây Ban Nha, Bồ Ðào Nha và tiếng Ba Lan.
Ðánh dấu ngày đầu tiên trong Tháng Mân Côi, trong phần nói tiếng Ba Lan, Ðức Thánh Cha đã nói với khách hành hương “nếu đẹp lòng Chúa”, Ngài sẽ tới Ðền Ðức Mẹ Maria Mân Côi tại Pompeli- Italia vào ngày Thứ Ba 7/10 tới đây bế mạc Năm Mân Côi, “để cảm tạ Thiến Chúa vì những công việc cao cả của những tấm lòng thánh hiến đã liên tục thực hiện, cảm tạ cho những kinh nguyện tuyệt diệu này”.
Sau đây là toàn văn bài huấn đức của Đức Gioan Phaolô II trong buổi triều yết chung Thứ Tư hàng tuần 1/10, Ngài suy tư về Thánh Ca Giacaria (Lc.1:68-79).
* * *
1. Cuối cuộc hành trình của chúng ta qua các Thánh vịnh và thánh ca Phụng vụ Kinh Sáng, chúng ta muốn suy tư về một kinh nguyện xuất hiện mỗi sáng trong lúc ca ngợi. Đó là kinh Benedictus, thánh ca do Giacaria xướng hát, ông là cha của Gioan Tẩy Giả, khi ngày sinh nhật của con ông thay đổi sự sống của ông, cất nỗi hồ nghi đã làm cho ông bị câm, một hình phạt có ý nghĩa vì ông thiếu lòng tin và ca ngợi Chúa.
Bây giờ, Giacaria có thể ngợi khen Thiên Chúa Đấng cứu chuộc, và ông làm như vậy với thánh ca này, được thánh tác giả tin mừng Luca ghi chép lại theo một cách mà nó chắc chắn phản ảnh lên việc xử dụng phụng vụ thánh ca trong cộng đồng Kitô hữu đầu tiên (x. Lc 1: 68-79). Cũng một thánh tác giả tin mừng định nghĩa nó như môt bài ca tiên trị, được linh hứng bởi hơi thở của Chúa Thánh Thần (x. 1:67). Trên thực tế, chúng ta đứng trước một sự chúc mừng cao rao những việc làm cứu độ và sự giải phóng Chúa ban cho dân Người. Thật sự đó là một bài đọc "tiên tri" về lịch sử, nghĩa là sự khám phá ý nghĩa thân mật và sâu xa của tất cả thăng trầm của con nguời, được hướng dẫn bởi bàn tay kín đáo và hiệu nghiệm của Chúa, quấn lấy bàn tay yếu đuối và bấp bênh của con người.
2. Bản văn có tính cách long trọng và trong nguyên bản Hy lạp chỉ gồm có hai câu (x. cc.68-75,76-79). Sau phần nhập đề, là một lời chúc mừng ngợi khen, chúng ta có thể nhận ra trong toàn thể bài thánh ca thực sự qua ba đoạn thơ, tán dương nhiều chủ đề, với mục đích đánh dấu toàn thể lịch sử cứu rỗi: giáo ước với David (x.cc 68-71), giáo ước với Abraham (x. cc.72-75), vị Tẩy Giả đưa chúng ta tới giao ước mới trong Chúa Kitô (x. cc. &6-79). Toàn thể kinh nguyện hướng về mục đích mà David và Abraham chỉ rõ với sự hiện diện của các Ngài.
Đỉnh cao nhất được tóm tắt trong câu kết :"Vần đông tự chốn cao vời viếng thăm ta" (c.78). Kiểu nói mới xem ra nghịch lý trong sự nối kết "trời cao" với"vần đông" nhưng trên thực tế thật ý nghĩa. 3. Thật vậy, trong bản gốc Hy lập "mặt trời mọc" là "anatole," một tiếng có nghĩa là ánh sáng mặt trời chiếu soi trên hành tinh chúng ta, hay là chồi non nẩy mầm. Cả hai hình ảnh có một giá trị cứu thế trong truyền thống kinh thánh.
Một đàng, khi nói về đấng Emmanuel, tiên tri Isaiah nhắc chúng ta nhớ rằng "dân đang lần bước giữa tối tăm đã thấy một ánh sáng huy hoàng; Đám người sống trong vùng bóng tối nay được ánh sáng bừng lên chiếu rọi" (9:1). Đàng khác, khi lại qui chiếu tới vua Emmanuel, ông mô tả Ngài như "một chồi non mọc ra từ góc Jesse," nghĩa là, từ triều đại David, một chồi non được Thần Khí Chúa bao bọc (x.Isaiah 11:1-2).
Do đó, với Chúa Kitô, xuất hiện ánh sáng chiếu soi mọi tạo vật (x. Ga 1:9) và sự sống phát triển, như tác giả tin mừng Gioan sẽ nói một càch chính xác kết nối hai thực tại này: "ở nơi Người là sự sống, và sự sống là ánh sáng cho nhân loại" (1:4).
4. Nhân loại, ngồi "nơi tăm tối và trong bóng tử thần" được chiếu sáng nhờ sự sáng của mạc khải (x. Lc 1: 79). Như tiên tri Malachi đã loan báo, "đối với các người là những kẻ kính sợ danh Ta, mặt trời công chính sẽ mọc lên, mang theo các tia sáng chữa lành bệnh" (3:20). Mặt trời này sẽ "dẫn ta bước vào đường nẻo bình an" (Lc 1: 79).
Bây giờ chúng ta đi có ánh sáng này như điểm qui chiếu của chúng ta, và dẫu trong ban ngày thường đi trong tối tăm và trên những con đường trơn trượt, những bước chân không chắc chắn của chúng ta được nâng đỡ bởi sự sáng của chân lý mà Chúa Kitô đổ xuống trên thế giới và trên lịch sử. Tới đây chúng ta nên nhường lời cho một thầy của Giáo hội, một trong những Tiến sĩ của Giáo hội là Thánh Beđa đáng kính người Anh (những thế kỷ thứ 7 tơi thứ 8), trong bài giảng của Ngài về lễ Sinh Nhật Thánh Gioan Tẩy Giả, Ngài đã bình luận như về Thánh ca Giacaria như sau: "Chuá... đã viếng thăm chúng ta như một bác sĩ thăm viếng bịnh nhân của mình, bởi vì muốn chữa lành căn bịnh kinh niên kiêu ngạo của chúng ta, Người đã cống hiến chúng ta gương mới khiêm nhượng của Người; Người đã cứu chuộc dân Người, bởi vì đã giải phóng chúng ta là những kẻ làm tôi tớ tội lổi và làm nô lệ của tên cựu thù, với giá máu của Người--
Chúa Kitô đã gặp chúng ta đang nằm "trong sự tối tăm và trong bóng sự chết,' nghĩa là, bị đè nén dưới sự đui mù lâu dài của tội lổi và sự dốt nát... Người đã mang đến cho chúng ta ánh sáng thật của sự hiểu biết của Người và, khi trục xuất sự tối tăm do lầm lạc, Nguời đã chỉ cho chúng ta con đường chắc đến quê trời. Người đã hướng dẫn những bước đi hành động của chúng ta giúp chúng ta đi trong con đường chân lý Người đã chỉ cho chúng ta, và giúp chúng ta vào nhà bình an đời đời, Người đã hứa cho chúng ta."
5. Sau cùng rút ra từ những bản văn kinh thánh khác, Thánh Bêđa kết thúc như vầy, bằng cách tạ ơn vì những ân huệ lãnh nhận: "Biết rằng chúng ta đang chiếm hữu những ân huệ này của sự tốt lành đời đời, thưa anh em thân mến... chúng ta cũng phải chúc mừng Chúa luôn mãi (x. Tv 33:2), bởi vì 'người đã viếng thăm và cứu chuộc dân Nguời.' Ước chi miệng lưỡi chúng ta luôn ngợi khen Người, ước chi chúng ta năng nhớ đến Người và công bố nhân đức của Đấng đã 'gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền' (1 Pt 2:9). Chúng ta hãy liên lỉ xin Người giúp đỡ, ngỏ hầu chúng ta giữ được trong chúng ta ánh sáng của sự hiểu biết Người đã ban cho chúng ta, và dẫn chúng ta tới ngày trọn lành" {"Omelie sul Vangelo," [Những bài giảng về Tin Mừng Rome], 1990.pp.464-465).
Cuối buổi triều yết, Đức Thánh Cha nói tóm bằng tiếng Anh:
Anh chị em thân mến,
Sự giải thích của chúng ta về các Thánh vịnh và thánh ca rút từ Kinh Sáng kết thúc hôm nay với Thánh Ca Giacaria, thường gọi là kinh Benedictus. Đó là một thánh ca tiên tri, trong đó người cha của Gioan Tẩy Giả, chỉ rõ ba biến cố trong việc Chúa cứu rỗi dân Israel: giao ước với Abraham, giao ước với David, và giao ước mới với Chúa Kitô. Như "vần đông từ chốn cao vời," Chúa Kitô ban ánh sáng và hướng dẫn chúng ta vào đường nẻo bình an. Như Venerable Bede ghi chú: Chúa Kitô chỉ cho chúng ta"con đường chăc để đạt tới quê trời." Tôi chào những khách thăm viếng nói tiếng Anh hiên diện hôm nay, cách riêng những khách đến từ England, Scotland, Ireland, Australia, Canada và Hoa Kỳ, Tôi vui mừng dâng một lời chào nồng ấm và bày tỏ sự quí trọng của tôi đối với các thành viên tổ chức Patrons of the Arts in the Vatican Museums, do Đức Hồng Y Szoka hướng dẫn. Tôi cầu xin ân sủng và bình an của Đức Giêsu Kitô, Chúa và là Đấng Cứu chuộc chúng ta, xuống trên tất cả anh chị em.
Ghi Chú: Thán Bêđa đáng kính, Ðan Sĩ là người anglo-saxon, sống tại Ðan Viện Jarrow (673-735). Ngài thụ phong Phó Tế vào năm 692, chịu chức Linh Mục vào năm 703, chuyên sống cuộc đời cầu nguyện, nghiên cứu và giảng dạỵ Sự thông thái trổi vượt của Ngài khiến Ngài trở thành một trong những nhân vật chính của Giáo Hội anglo-saxon vào đầu thế kỷ thứ VIII. Tác phẩm quan trọng của Ngài là cuốn “Lịch Sử Dân Tộc Anh”. Lễ kính vào ngày 25/5. Có lẽ Ðức Thánh Cha trưng ra lời Giáo Huấn của Thánh Bêđa để nhắc lại một lần nữa nguồn gốc căn cội Kitô Giáo tại Âu Châu mà Ðức Thánh Cha đã nhiều lần nhắc đến trong những lần ban bài huấn dụ trước khi đọc kinh Truyền Tin trong những tuần vừa qua, khi mà Hiến Pháp Liên Hiệp Âu Châu không muốn nhắc đến và nhìn nhận căn cội này