Tại sao ở Hoa Kỳ, có rất nhiều nhà thờ bị đóng cửa?
Việc đóng cửa các nhà thờ đó, cũng giống thể như có một điều tang tóc gì đó đang xãy ra trong gia đình vậy.
LTS: Vẫn thường khi hay tin các nhà thờ Công Giáo tại Hoa Kỳ bị đóng cửa, chúng ta thường cho rằng, đó là lý do của chuyện lạm dụng tín dục của một số linh mục, thế nhưng, nguyên do chính yếu không phải vậy. Bài viết “Why are so many parishes closing?” của ký giả Peter Feuerherd bằng tiếng Anh, được đăng từ trang 32-38 trong tạp chí Catholic Digest số ra tháng 04/2005. Là bài viết hay và đáng để suy nghĩ, xin được phép trích dịch lại, để Quý vị độc giả VietCatholic cùng suy nghĩ.
Các giáo xứ thì nhiều hơn cả các tòa nhà lớn. Chúng chính là nơi chất chứa rất nhiều kỷ niệm, là nơi mà những sự kiện quan trọng như: ngày chào đời, ngày đám tang, đám cưới vân vân được nghi lễ hóa và cử hành. Ở một vài thành phố, người Công Giáo đã không còn nhận dạng ra nhau theo lối của hàng xóm nữa. Thay vào đó, họ vẫn thường hay nói với nhau rằng: “Tôi đến từ giáo xứ Thánh Patrick,” tức họ pha trộn hàng xóm láng giềng của họ vào ngay chính giáo xứ mà họ vẫn thường hay tham dự. Đối với nhiều người Công Giáo, các giáo xứ chính là đá tảng, là cội nguồn, là nơi mà nhân dạng về tôn giáo và văn hóa của họ được tạo ra.
Chính vì thế khi các giáo xứ bị đóng cửa hay bị hợp lại (consolidate), thì thật dể hiểu lý do tai sao việc đó lại gây ra sự hoang mang, buồn rầu, và đôi lúc giận dữ. Nó giống thể như phải chịu/đội một cái tang lớn trong gia đình vậy.
David Schwartz, phụ tá giám đốc nghiên cứu của Tổng Giáo Phận Chicago, là thành phố mà những người Công Giáo thường hay có truyền thống nhận ra nhau bằng chính tên gọi của giáo xứ mà họ thuộc vào, nói: “Phải mất một thời gian, mọi chuyện mới có thể được khuây khỏa. Thành phố Chicago cũng là nơi mà trong suốt thời gian quản lý mục vụ của Đức cố Hồng Y Joseph Bernadin, đã có đến 80 giáo xứ phải đóng cửa, sát nhập hay bị hợp lại. Cùng thời gian đó, lại có đến trên 25 giáo xứ mới được thành lập ra ở Chicago và những khu ngoại thành.”
Con số những người Công Giáo cứ mỗi thế tăng lên ở các vùng ngoại ô, kể cả các vùng ở phía Tây, lẫn phía Nam của thành phố. Tại đó, có một nhu cầu lớn về cấu trúc hạ tầng Công Giáo, cụ thể là việc xây dựng lên những ngôi nhà thờ và trường học Công Giáo.
Thế nhưng rất nhiều các giáo xứ ở nội thành, chẳng hạn như một giáo xứ vừa mới bị đóng cửa là giáo sứ Thánh Tôma Tông Đồ ở khu Harlem của thành phố Nữu Ước, là một giáo xứ đồ sộ, rộng lớn, được trang trí hết sức công phu, và lộng lẫy, nhưng lại chỉ có vỏn vẹn vài giáo dân. Những nhà thờ còn sót lại, thì lại thường không có đủ nguồn lực để duy trì và bảo tồn một cấu trúc tổng thể, nguy nga và tráng lệ.
Mary Gautier, phụ tá nghiên cứu cao cấp của Trung Tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng Tông Đồ (Center for Applied Research in the Apostolate, hay viết tắt là: CARA), một công ty nghiên cứu có trụ sở chính ở Washington nói: “Mọi người đều có sự gắn bó tình cảm với các giáo xứ đó, vì lẽ, cha ông của họ đã từng ngạch đẻo, và trạm chổ ra những viên đá tảng, góc tường. Thế nhưng các tòa nhà thì lại không sống được lâu tại chính nơi mà con người đã và đang sống.”
Trước khi xảy ra việc đóng cửa các nhà thờ tại thành phố Chicago, thì tại thành phố Detroit (ở tiểu bang Michigan) cũng đã từng đóng cửa hơn 12 giáo xứ trong suốt giai đoạn đau đớn nhất vào cuối những năm 1980 và đầu 1990. Giờ, thì lại đến lượt thành phố Boston (thuộc tiểu bang Massachusetts), một Tổng Giáo Phận vẫn còn bị lung lay rất nặng sau thảm kịch lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên, là nơi mà vị Tổng Giám Mục mới, Đức Cha Sean O’Malley, đã phải ra quyết định đóng cửa cứ khoảng 6 giáo xứ trực thuộc Tổng Địa Phận, thì 1 giáo xứ sẽ phải bị đóng cửa.
Lý do đóng cửa những giáo xứ đó thì đã quá rõ ràng, vì lẽ, càng ngày càng có ít đi con số các linh mục. Những người Công Giáo trong nội thành đã phải di tản ra các vùng trung tâm ngoại thành. Xét về mặt lịch sử mà nói, đã có thời các giáo xứ được xây dựng ra khi mọi người đi bộ tới nhà thờ. Đôi lúc, các nhóm sắc tộc thiểu số đã thành lập ra một giáo xứ nào đó, thì nay họ lại quyết định dời đi chổ khác. Con số những người tín hữu Công Giáo ở các vùng nội thành ngày càng bị thu nhỏ lại và họ đã không còn đủ khả năng tài chánh để bảo tồn giáo xứ của riêng họ nữa. Dẫu rằng, những lý do đó rất là chính đáng, nhưng nếu xét về mặt tình cảm, thì rất khó để bắt họ phải đầu hàng với những gì mà họ hay cha ông tổ tông của họ đã phải cất công sức, tài năng và của cải để xây dựng nên.
Phó tế vĩnh viễn Candido Torres ở thành phố Chicago nhận xét rằng: việc mất đi giáo xứ đã nhắc nhở mọi người, về một chuyện đau buồn, giống y hệt việc mất đi người thân trong chính gia đình của họ vậy. Các giáo dân tại giáo xứ Thánh Anna thuộc vùng phía Nam của thành phố, đã nêu ra câu hỏi: “Tại sao lại phải xảy ra trong tình trạng như vậy?” khi họ khám phá ra 12 năm trước đây rằng: cộng đồng đức tin của họ sẽ không bao lâu bị cầm cố.
Cách đó khoảng 1 khu chính là giáo xứ Thánh Giuse/Thánh Annê, được xây dựng theo kiến trúc của Pháp và Ái Nhĩ Lan cách đây nhiều năm, và hàng xóm láng giềng của giáo xứ chính là cộng đồng gốc Ái Nhĩ Lan. Tuy nhiên, qua những năm dài tháng lại, cái không khí xưa của của Pháp và Ái Nhĩ Lan trong khu xóm đã bị xua tan đi. Rất nhiều di dân mới trong khu xóm, như Phó tế Torres chẳng hạn, một di dân đến từ nước Mêhicô, cùng các di dân khác từ các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh, ồ ạt đến. Tổng Giáo Phận, sau một thời gian dài tham vấn với tất cả mọi giáo dân, đã quyết định hợp và thành lập ra một giáo xứ mới, mà bây giờ được gọi là Giáo Xứ Đức Mẹ Fatima (Our Lady of Fatima), tọa lạc trên vùng đất củ của Giáo Xứ Thánh Giuse/Thánh Annê.
Giáo xứ đó giờ đây có 3 thánh lễ bằng tiếng Tây Ban Nha mỗi tuần, và Phó tế Torres, là người giảng trong các thánh lễ đó vào mỗi cuối tuần. Trong khi đang cố gắng giúp cộng đồng Thánh Annê hội nhập vào giáo xứ mới, thì có vẽ như các vết sẹo đó khó mà có thể được chữa lành. Phó tế Torres đã nhìn nhận rằng: “Cảm giác của tôi vẫn không thể nào được khuây khỏa.” Là người được truyền trao chức phó tế của Giáo Hội, Phó tế Torres được mời gọi để hướng dẫn cộng đoàn cầu nguyện, ngay cả khi chính bản thân của Ông cũng còn cảm thấy bị vỡ mộng như chính cộng đoàn của Ông vậy. Vào khởi đầu, Phó tế Torres kể lại, những người giáo dân củ của giáo xứ Thánh Anna có cảm giác như họ chính là những người xâm nhập vào trong giáo xứ mới của họ.
“Thì tôi mới khuyến khích họ cầu nguyện. Tôi cố gắng giảng giải để giúp cho họ hiểu rằng các tòa nhà ấy, không làm nên được chính Giáo Hội,” Phó tế Torres nói, “vì lẽ, chính Phúc Âm mới làm nên Giáo Hội.” Trước khi đóng cửa nhà thờ củ, các giáo dân của giáo xứ Thánh Anna rước kiệu xuống giáo xứ mới của họ. Các buổi canh thức cầu nguyện và những thánh lễ phụng vụ đặc biệt được cử hành để giúp mọi người được chữa lành. Và Phó tế Torres cho biết, không một giáo dân nào của giáo xứ Thánh Anna đã bỏ đạo, hay rời bỏ Giáo Hội vì chuyện nhà thờ của họ bị đóng cửa.
Một bản báo cáo mới đây từ hội nghị chuyên về việc Hoạch Định Mục Vụ (Conference for Pastoral Planning) đã ám chỉ ra rằng “những nghi thức chuyển giao thích hợp” thì rất cần thiết trong việc giúp các giáo dân vơi đi những mất mát có liên quan tới giáo xứ củ của họ.
Trong khi Phó tế Torres ở thành phố Chicago hướng dẫn cộng đoàn giáo xứ của Ông hướng về một tình huống, và hoàn cảnh mới, thì một người lãnh đạo giáo dân khác là Cô Mary Rickwalt thì lại không bao giờ chấp nhận việc Tổng Giáo Phận Detroit quyết định đóng cửa giáo xứ của Cô, là giáo xứ Thánh Inhaxiô thành Antioch, tọa lạc tại một khu xóm nghèo khổ và nguy hiểm nhất của thành phố. Và giáo xứ đó đã chính thức đóng cửa vào năm 1989, nhưng cộng đồng ở đó vẫn còn tồn tại. Khoảng 100 giáo dân của giáo xứ Thánh Inhaxiô thành Antioch đã tự khôi phục lại một cửa tiệm bán kẹo củ ở gần phía trước nhà thờ, để trở thành nơi mà một linh mục hằng tuần, vẫn đến đó để dâng Thánh Lễ cho khu xóm.
Rickwalt nói lời lý giải bất thường ấy đối với việc nhà thờ trong khu xóm bị đóng cửa, chính là vì giáo xứ được bao quanh bởi một khu tệ nạn ở thành phố Detroit, và hầu hết những giáo xứ khác thuộc phạm vi nội thành cũng đều bị đóng cửa cả vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Cô nói: “Thoạt đầu, khi nhà thờ bị đóng cửa, chúng tôi có cảm tưởng như là chúng tôi đã bị Giáo Hội bỏ rơi.” Nhà thờ lúc đó chính là một cộng đồng đang vận hành, với những chương trình giúp đỡ những người nghèo trong khu xóm.
Một số người nhận thấy câu trả lời cho việc đóng cửa nhà thờ Thánh Inhaxiô là quá đáng, và tiêu cực, nhưng đối với Rickwalt, đó chính là lời đáp trả cho những giáo xứ nằm trong khu vực nội thành. Rickwalt nói tiếp: “Khi Tổng Giáo Phận rời bỏ những khu xóm nghèo, và tệ nạn, thì tất cả các siêu thị, các cửa hàng, các tiệm tạp hóa và rau quả cứ thế rồi cũng bỏ đi luôn. Giờ đây, những cửa hàng nhỏ, độc lập của tư nhân đã chiếm chỗ những thương vụ kinh doanh lớn của những công ty đại gia. Điều tương tự đó cũng đã xảy ra với các giáo xứ tại Detroit. Rất nhiều cộng đồng nhỏ độc lập đã được thành lập ra trong suốt vài thập kỷ qua bằng việc sử dụng những tàn dư còn xót lại của những tòa nhà giáo xứ củ. Nếu như có quá nhiều tiệm K-Mart trong vùng chỉ có rộng khoảng 5 dặm, thì một điều gì đó chắc chắn phải được cho đi. Nhưng đối với một nhà thờ, thì điều đó lại khác, vì lẽ, đó chính là một cộng đồng.”
Có lẽ ý thức được những bài học kể trên, Tổng Giáo Phận Boston giờ đây đang xử lý tình huống theo một chiều hướng khác so với các Tổng Giáo Phận tại thành phố Detroit và Chicago. Đức Tổng Giám Mục O’Malley đã tuyên bố rằng Ngài hy vọng có thể sẽ chia được nỗi đau của việc đóng cửa các giáo xứ. Thế nhưng, con số những giáo xứ đang phải bị đóng cửa, chính là những giáo xứ đang ở trong tình trạng khủng khoảng tài chánh, dẫu con số giáo dân có đông gấp kể. Ở Chicago và Detroit, hầu hết những giáo xứ bị đóng cửa, chính là những giáo xứ nằm trong khu vực tội phạm ở vùng nội thành.
Mary Gautier của CARA nói sự nghi ngờ về tính lãnh đạo thường vẫn hay xãy ra cứ sau những lần các nhà thờ bị đóng cửa. Cô nói rằng: “Nỗi đau về việc giáo xứ bị đóng cửa có thể được làm vơi đi bởi một vị lãnh đạo có lòng trắc ẩn biết tiếp xúc và đối thaọi với giáo dân.” Việc truyền thông, giao tiếp, theo Cô, là rất quan trọng. Không nên để việc đóng cửa một giáo xứ nào đó gây ra sự ngạc nhiên cho các giáo dân. Tiến trình đó phải cần có một thời gian dài và kiên nhẫn qua việc đối thoại và chia sẽ, để “giúp mọi người hiểu được sự cần thiết cho những nhu cầu như vậy.”
Cũng giống như những gì đã làm tại giáo xứ của Phó tế Torres ở thành phố Chicago, khi một quyết định được đưa ra là phải đóng cửa một giáo xứ, thì giáo xứ cần phải nghi lễ hóa (ritualize) sự kiện đó. Ở rất nhiều nơi, các giáo xứ có những buổi rước kiệu để cho phép các giáo dân có dịp nói lời tạm biệt với ngôi nhà thờ củ của họ, để có họ thể được đón chào vào một giáo xứ mới. Đối với những người giáo dân khi phải diện đối với những thay đổi như vậy, thì Cô Gautier có một vài lời khuyên như sau: “Chắc chắn việc đó sẽ là rất đau đớn,” Cô đã thú nhận như vậy. Nhưng các giáo dân cũng cần phải biết mở rộng đôi mắt của họ để hướng về một bức tranh rộng lớn hơn: “Họ cần phải nhìn vào những điểm tốt đẹp chung cho toàn thể cộng đoàn.”
Trong khi một số người Công Giáo xem họ là trung thành với một giáo xứ cụ thể nào đó, thì xét về mặt thần học mà nói những người Công Giáo đó, hết thảy, là những thành phần trong một địa phận rộng lớn hơn. Nếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của các vị Giám Mục tại những địa phận đó, thì những người giáo dân Công Giáo cũng cần phải có những điều chỉnh để ứng thích với những thay đổi đó, thậm chí ngay cả khi họ có cảm giác rằng việc nhà thờ của họ bị đóng cửa cũng chẳng khác nào việc phải đội một cái tang lớn của một người thân trong gia đình của họ vậy.
Tóm Tắt Tình Hình Thống Kê về Các Giáo Xứ - Một Con Số Đáng Buồn
Riêng ở tại Hoa Kỳ, trong năm 1985 có tới 19, 244 giáo xứ. Mười năm sau, tức vào năm 1995, con số các giáo xứ tổng cộng là 19, 331 giáo xứ. Vào năm 2000, đã giảm xuống còn 19, 236 giáo xứ, và vào năm 2004, con số lại thụt giảm xuống còn: 19, 0226 giáo xứ.
Các giáo xứ tại Hoa Kỳ, không có một vị linh mục thường trú, được thống kê như sau:
Trong năm 1985 có tới 1, 051 giáo xứ không có linh mục. Mười năm sau, tức vào năm 1995, con số lại tăng lên là 2, 161 giáo xứ. Vào năm 2000, con số các giáo xứ không có linh mục, lại tiếp tục tăng lên là 2, 843 giáo xứ, và vào năm 2004, con số tăng lên kỷ lục là 3,157 giáo xứ không có linh mục.
Dự kiến vào năm 2010, có khoảng trên 3, 805 giáo xứ không có linh mục, và vào năm 2020, thì con số giáo xứ không có linh mục sẽ là 4, 815 giáo xứ.
Tổng số trung bình tại một giáo xứ ở Hoa Kỳ: vào năm 1985, một giáo xứ trung bình có khoảng 2, 718 thành viên. Vào năm 2004, con số giáo dân tăng lên là 3, 380 người. Dự kiến vào năm 2010, con số giáo dân trung bình tại một giáo xứ ở Hoa Kỳ sẽ tăng lên là: 3, 500 thành viên.
(Thông tin trên là do CARA cung cấp, và được liệt kê chính thức trong Quyển Danh Bạ Công Giáo.)
Về Việc Đóng Cửa Các Giáo Xứ tại Tổng Giáo Phận (TGP) Boston thuộc tiểu ban Massachusette
Theo Tờ Báo Địa Cầu Boston (The Boston Globe), vào ngày 25 tháng 5 năm 2004, Đức Tổng Giám Mục Sean O’Malley (người kế nhiệm Đức Hồng Y Bernard Law, từ chức sau vụ tai tiếng tình dục của một số linh mục trong TGP) đã công bố đóng cửa khoảng 65 giáo xứ (tức hơn 1/6) các giáo xứ trực thuộc TGP Công Giáo Boston, và Ngài gọi việc đóng cửa các nhà thờ đó “là một chuyện đáng buồn” của TGP.
Giáo dân Công Giáo đã phải di chuyển ra vùng ngoại ô và con số tham dự Thánh Lễ thì càng ngày càng sút giảm. Những khó khăn về tài chánh, tình trạng nghèo nàn, và èo uột của các tòa nhà giáo xứ, và việc thiếu vắng linh mục, là những lý do chính dẫn đến việc phải đóng cửa các nhà thờ. Theo ĐTGM O’Malley, hơn 1/3 các giáo xứ phải hoạt động trong tình trạng thiếu hụt ngân sách, trong khi đó có 130 trong tổng số các linh mục chánh xứ trong toàn TGP đã trên 70 tuổi.
Những giáo xứ bị đóng cửa phần lớn là vì các số các giáo dân tham dự quá ít hay rất ít người đăng ký cho con em họ vào học giáo lý, hay chỉ vì đơn giản là nhà thờ này lại quá gần với những nhà thờ khác. TGP đã bảo về phần lớn các giáo xứ có trường học Công Giáo, thế nhưng, có tới 3 trường học, đã phải đóng cửa, nâng tổng số chung lên là 9 trường học Công Giáo trong TGP đã phải bị đóng cửa. Các linh mục chánh xứ tại những giáo xứ không bị đóng cửa nhận được những lá thư yêu cầu các Ngài phải biết mở rộng tay đến với những vị linh mục mà giáo xứ của các Ngài đã bị đóng cửa.
Việc đóng cửa các nhà thờ đó, cũng giống thể như có một điều tang tóc gì đó đang xãy ra trong gia đình vậy.
LTS: Vẫn thường khi hay tin các nhà thờ Công Giáo tại Hoa Kỳ bị đóng cửa, chúng ta thường cho rằng, đó là lý do của chuyện lạm dụng tín dục của một số linh mục, thế nhưng, nguyên do chính yếu không phải vậy. Bài viết “Why are so many parishes closing?” của ký giả Peter Feuerherd bằng tiếng Anh, được đăng từ trang 32-38 trong tạp chí Catholic Digest số ra tháng 04/2005. Là bài viết hay và đáng để suy nghĩ, xin được phép trích dịch lại, để Quý vị độc giả VietCatholic cùng suy nghĩ.
Các giáo xứ thì nhiều hơn cả các tòa nhà lớn. Chúng chính là nơi chất chứa rất nhiều kỷ niệm, là nơi mà những sự kiện quan trọng như: ngày chào đời, ngày đám tang, đám cưới vân vân được nghi lễ hóa và cử hành. Ở một vài thành phố, người Công Giáo đã không còn nhận dạng ra nhau theo lối của hàng xóm nữa. Thay vào đó, họ vẫn thường hay nói với nhau rằng: “Tôi đến từ giáo xứ Thánh Patrick,” tức họ pha trộn hàng xóm láng giềng của họ vào ngay chính giáo xứ mà họ vẫn thường hay tham dự. Đối với nhiều người Công Giáo, các giáo xứ chính là đá tảng, là cội nguồn, là nơi mà nhân dạng về tôn giáo và văn hóa của họ được tạo ra.
Chính vì thế khi các giáo xứ bị đóng cửa hay bị hợp lại (consolidate), thì thật dể hiểu lý do tai sao việc đó lại gây ra sự hoang mang, buồn rầu, và đôi lúc giận dữ. Nó giống thể như phải chịu/đội một cái tang lớn trong gia đình vậy.
David Schwartz, phụ tá giám đốc nghiên cứu của Tổng Giáo Phận Chicago, là thành phố mà những người Công Giáo thường hay có truyền thống nhận ra nhau bằng chính tên gọi của giáo xứ mà họ thuộc vào, nói: “Phải mất một thời gian, mọi chuyện mới có thể được khuây khỏa. Thành phố Chicago cũng là nơi mà trong suốt thời gian quản lý mục vụ của Đức cố Hồng Y Joseph Bernadin, đã có đến 80 giáo xứ phải đóng cửa, sát nhập hay bị hợp lại. Cùng thời gian đó, lại có đến trên 25 giáo xứ mới được thành lập ra ở Chicago và những khu ngoại thành.”
Con số những người Công Giáo cứ mỗi thế tăng lên ở các vùng ngoại ô, kể cả các vùng ở phía Tây, lẫn phía Nam của thành phố. Tại đó, có một nhu cầu lớn về cấu trúc hạ tầng Công Giáo, cụ thể là việc xây dựng lên những ngôi nhà thờ và trường học Công Giáo.
Thế nhưng rất nhiều các giáo xứ ở nội thành, chẳng hạn như một giáo xứ vừa mới bị đóng cửa là giáo sứ Thánh Tôma Tông Đồ ở khu Harlem của thành phố Nữu Ước, là một giáo xứ đồ sộ, rộng lớn, được trang trí hết sức công phu, và lộng lẫy, nhưng lại chỉ có vỏn vẹn vài giáo dân. Những nhà thờ còn sót lại, thì lại thường không có đủ nguồn lực để duy trì và bảo tồn một cấu trúc tổng thể, nguy nga và tráng lệ.
Mary Gautier, phụ tá nghiên cứu cao cấp của Trung Tâm Nghiên Cứu Ứng Dụng Tông Đồ (Center for Applied Research in the Apostolate, hay viết tắt là: CARA), một công ty nghiên cứu có trụ sở chính ở Washington nói: “Mọi người đều có sự gắn bó tình cảm với các giáo xứ đó, vì lẽ, cha ông của họ đã từng ngạch đẻo, và trạm chổ ra những viên đá tảng, góc tường. Thế nhưng các tòa nhà thì lại không sống được lâu tại chính nơi mà con người đã và đang sống.”
Trước khi xảy ra việc đóng cửa các nhà thờ tại thành phố Chicago, thì tại thành phố Detroit (ở tiểu bang Michigan) cũng đã từng đóng cửa hơn 12 giáo xứ trong suốt giai đoạn đau đớn nhất vào cuối những năm 1980 và đầu 1990. Giờ, thì lại đến lượt thành phố Boston (thuộc tiểu bang Massachusetts), một Tổng Giáo Phận vẫn còn bị lung lay rất nặng sau thảm kịch lạm dụng tính dục trẻ vị thành niên, là nơi mà vị Tổng Giám Mục mới, Đức Cha Sean O’Malley, đã phải ra quyết định đóng cửa cứ khoảng 6 giáo xứ trực thuộc Tổng Địa Phận, thì 1 giáo xứ sẽ phải bị đóng cửa.
Lý do đóng cửa những giáo xứ đó thì đã quá rõ ràng, vì lẽ, càng ngày càng có ít đi con số các linh mục. Những người Công Giáo trong nội thành đã phải di tản ra các vùng trung tâm ngoại thành. Xét về mặt lịch sử mà nói, đã có thời các giáo xứ được xây dựng ra khi mọi người đi bộ tới nhà thờ. Đôi lúc, các nhóm sắc tộc thiểu số đã thành lập ra một giáo xứ nào đó, thì nay họ lại quyết định dời đi chổ khác. Con số những người tín hữu Công Giáo ở các vùng nội thành ngày càng bị thu nhỏ lại và họ đã không còn đủ khả năng tài chánh để bảo tồn giáo xứ của riêng họ nữa. Dẫu rằng, những lý do đó rất là chính đáng, nhưng nếu xét về mặt tình cảm, thì rất khó để bắt họ phải đầu hàng với những gì mà họ hay cha ông tổ tông của họ đã phải cất công sức, tài năng và của cải để xây dựng nên.
Phó tế vĩnh viễn Candido Torres ở thành phố Chicago nhận xét rằng: việc mất đi giáo xứ đã nhắc nhở mọi người, về một chuyện đau buồn, giống y hệt việc mất đi người thân trong chính gia đình của họ vậy. Các giáo dân tại giáo xứ Thánh Anna thuộc vùng phía Nam của thành phố, đã nêu ra câu hỏi: “Tại sao lại phải xảy ra trong tình trạng như vậy?” khi họ khám phá ra 12 năm trước đây rằng: cộng đồng đức tin của họ sẽ không bao lâu bị cầm cố.
Cách đó khoảng 1 khu chính là giáo xứ Thánh Giuse/Thánh Annê, được xây dựng theo kiến trúc của Pháp và Ái Nhĩ Lan cách đây nhiều năm, và hàng xóm láng giềng của giáo xứ chính là cộng đồng gốc Ái Nhĩ Lan. Tuy nhiên, qua những năm dài tháng lại, cái không khí xưa của của Pháp và Ái Nhĩ Lan trong khu xóm đã bị xua tan đi. Rất nhiều di dân mới trong khu xóm, như Phó tế Torres chẳng hạn, một di dân đến từ nước Mêhicô, cùng các di dân khác từ các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh, ồ ạt đến. Tổng Giáo Phận, sau một thời gian dài tham vấn với tất cả mọi giáo dân, đã quyết định hợp và thành lập ra một giáo xứ mới, mà bây giờ được gọi là Giáo Xứ Đức Mẹ Fatima (Our Lady of Fatima), tọa lạc trên vùng đất củ của Giáo Xứ Thánh Giuse/Thánh Annê.
Giáo xứ đó giờ đây có 3 thánh lễ bằng tiếng Tây Ban Nha mỗi tuần, và Phó tế Torres, là người giảng trong các thánh lễ đó vào mỗi cuối tuần. Trong khi đang cố gắng giúp cộng đồng Thánh Annê hội nhập vào giáo xứ mới, thì có vẽ như các vết sẹo đó khó mà có thể được chữa lành. Phó tế Torres đã nhìn nhận rằng: “Cảm giác của tôi vẫn không thể nào được khuây khỏa.” Là người được truyền trao chức phó tế của Giáo Hội, Phó tế Torres được mời gọi để hướng dẫn cộng đoàn cầu nguyện, ngay cả khi chính bản thân của Ông cũng còn cảm thấy bị vỡ mộng như chính cộng đoàn của Ông vậy. Vào khởi đầu, Phó tế Torres kể lại, những người giáo dân củ của giáo xứ Thánh Anna có cảm giác như họ chính là những người xâm nhập vào trong giáo xứ mới của họ.
“Thì tôi mới khuyến khích họ cầu nguyện. Tôi cố gắng giảng giải để giúp cho họ hiểu rằng các tòa nhà ấy, không làm nên được chính Giáo Hội,” Phó tế Torres nói, “vì lẽ, chính Phúc Âm mới làm nên Giáo Hội.” Trước khi đóng cửa nhà thờ củ, các giáo dân của giáo xứ Thánh Anna rước kiệu xuống giáo xứ mới của họ. Các buổi canh thức cầu nguyện và những thánh lễ phụng vụ đặc biệt được cử hành để giúp mọi người được chữa lành. Và Phó tế Torres cho biết, không một giáo dân nào của giáo xứ Thánh Anna đã bỏ đạo, hay rời bỏ Giáo Hội vì chuyện nhà thờ của họ bị đóng cửa.
Một bản báo cáo mới đây từ hội nghị chuyên về việc Hoạch Định Mục Vụ (Conference for Pastoral Planning) đã ám chỉ ra rằng “những nghi thức chuyển giao thích hợp” thì rất cần thiết trong việc giúp các giáo dân vơi đi những mất mát có liên quan tới giáo xứ củ của họ.
Trong khi Phó tế Torres ở thành phố Chicago hướng dẫn cộng đoàn giáo xứ của Ông hướng về một tình huống, và hoàn cảnh mới, thì một người lãnh đạo giáo dân khác là Cô Mary Rickwalt thì lại không bao giờ chấp nhận việc Tổng Giáo Phận Detroit quyết định đóng cửa giáo xứ của Cô, là giáo xứ Thánh Inhaxiô thành Antioch, tọa lạc tại một khu xóm nghèo khổ và nguy hiểm nhất của thành phố. Và giáo xứ đó đã chính thức đóng cửa vào năm 1989, nhưng cộng đồng ở đó vẫn còn tồn tại. Khoảng 100 giáo dân của giáo xứ Thánh Inhaxiô thành Antioch đã tự khôi phục lại một cửa tiệm bán kẹo củ ở gần phía trước nhà thờ, để trở thành nơi mà một linh mục hằng tuần, vẫn đến đó để dâng Thánh Lễ cho khu xóm.
Rickwalt nói lời lý giải bất thường ấy đối với việc nhà thờ trong khu xóm bị đóng cửa, chính là vì giáo xứ được bao quanh bởi một khu tệ nạn ở thành phố Detroit, và hầu hết những giáo xứ khác thuộc phạm vi nội thành cũng đều bị đóng cửa cả vào cuối những năm 1980 và đầu những năm 1990. Cô nói: “Thoạt đầu, khi nhà thờ bị đóng cửa, chúng tôi có cảm tưởng như là chúng tôi đã bị Giáo Hội bỏ rơi.” Nhà thờ lúc đó chính là một cộng đồng đang vận hành, với những chương trình giúp đỡ những người nghèo trong khu xóm.
Một số người nhận thấy câu trả lời cho việc đóng cửa nhà thờ Thánh Inhaxiô là quá đáng, và tiêu cực, nhưng đối với Rickwalt, đó chính là lời đáp trả cho những giáo xứ nằm trong khu vực nội thành. Rickwalt nói tiếp: “Khi Tổng Giáo Phận rời bỏ những khu xóm nghèo, và tệ nạn, thì tất cả các siêu thị, các cửa hàng, các tiệm tạp hóa và rau quả cứ thế rồi cũng bỏ đi luôn. Giờ đây, những cửa hàng nhỏ, độc lập của tư nhân đã chiếm chỗ những thương vụ kinh doanh lớn của những công ty đại gia. Điều tương tự đó cũng đã xảy ra với các giáo xứ tại Detroit. Rất nhiều cộng đồng nhỏ độc lập đã được thành lập ra trong suốt vài thập kỷ qua bằng việc sử dụng những tàn dư còn xót lại của những tòa nhà giáo xứ củ. Nếu như có quá nhiều tiệm K-Mart trong vùng chỉ có rộng khoảng 5 dặm, thì một điều gì đó chắc chắn phải được cho đi. Nhưng đối với một nhà thờ, thì điều đó lại khác, vì lẽ, đó chính là một cộng đồng.”
Có lẽ ý thức được những bài học kể trên, Tổng Giáo Phận Boston giờ đây đang xử lý tình huống theo một chiều hướng khác so với các Tổng Giáo Phận tại thành phố Detroit và Chicago. Đức Tổng Giám Mục O’Malley đã tuyên bố rằng Ngài hy vọng có thể sẽ chia được nỗi đau của việc đóng cửa các giáo xứ. Thế nhưng, con số những giáo xứ đang phải bị đóng cửa, chính là những giáo xứ đang ở trong tình trạng khủng khoảng tài chánh, dẫu con số giáo dân có đông gấp kể. Ở Chicago và Detroit, hầu hết những giáo xứ bị đóng cửa, chính là những giáo xứ nằm trong khu vực tội phạm ở vùng nội thành.
Mary Gautier của CARA nói sự nghi ngờ về tính lãnh đạo thường vẫn hay xãy ra cứ sau những lần các nhà thờ bị đóng cửa. Cô nói rằng: “Nỗi đau về việc giáo xứ bị đóng cửa có thể được làm vơi đi bởi một vị lãnh đạo có lòng trắc ẩn biết tiếp xúc và đối thaọi với giáo dân.” Việc truyền thông, giao tiếp, theo Cô, là rất quan trọng. Không nên để việc đóng cửa một giáo xứ nào đó gây ra sự ngạc nhiên cho các giáo dân. Tiến trình đó phải cần có một thời gian dài và kiên nhẫn qua việc đối thoại và chia sẽ, để “giúp mọi người hiểu được sự cần thiết cho những nhu cầu như vậy.”
Cũng giống như những gì đã làm tại giáo xứ của Phó tế Torres ở thành phố Chicago, khi một quyết định được đưa ra là phải đóng cửa một giáo xứ, thì giáo xứ cần phải nghi lễ hóa (ritualize) sự kiện đó. Ở rất nhiều nơi, các giáo xứ có những buổi rước kiệu để cho phép các giáo dân có dịp nói lời tạm biệt với ngôi nhà thờ củ của họ, để có họ thể được đón chào vào một giáo xứ mới. Đối với những người giáo dân khi phải diện đối với những thay đổi như vậy, thì Cô Gautier có một vài lời khuyên như sau: “Chắc chắn việc đó sẽ là rất đau đớn,” Cô đã thú nhận như vậy. Nhưng các giáo dân cũng cần phải biết mở rộng đôi mắt của họ để hướng về một bức tranh rộng lớn hơn: “Họ cần phải nhìn vào những điểm tốt đẹp chung cho toàn thể cộng đoàn.”
Trong khi một số người Công Giáo xem họ là trung thành với một giáo xứ cụ thể nào đó, thì xét về mặt thần học mà nói những người Công Giáo đó, hết thảy, là những thành phần trong một địa phận rộng lớn hơn. Nếu tin tưởng vào sự lãnh đạo của các vị Giám Mục tại những địa phận đó, thì những người giáo dân Công Giáo cũng cần phải có những điều chỉnh để ứng thích với những thay đổi đó, thậm chí ngay cả khi họ có cảm giác rằng việc nhà thờ của họ bị đóng cửa cũng chẳng khác nào việc phải đội một cái tang lớn của một người thân trong gia đình của họ vậy.
Tóm Tắt Tình Hình Thống Kê về Các Giáo Xứ - Một Con Số Đáng Buồn
Riêng ở tại Hoa Kỳ, trong năm 1985 có tới 19, 244 giáo xứ. Mười năm sau, tức vào năm 1995, con số các giáo xứ tổng cộng là 19, 331 giáo xứ. Vào năm 2000, đã giảm xuống còn 19, 236 giáo xứ, và vào năm 2004, con số lại thụt giảm xuống còn: 19, 0226 giáo xứ.
Các giáo xứ tại Hoa Kỳ, không có một vị linh mục thường trú, được thống kê như sau:
Trong năm 1985 có tới 1, 051 giáo xứ không có linh mục. Mười năm sau, tức vào năm 1995, con số lại tăng lên là 2, 161 giáo xứ. Vào năm 2000, con số các giáo xứ không có linh mục, lại tiếp tục tăng lên là 2, 843 giáo xứ, và vào năm 2004, con số tăng lên kỷ lục là 3,157 giáo xứ không có linh mục.
Dự kiến vào năm 2010, có khoảng trên 3, 805 giáo xứ không có linh mục, và vào năm 2020, thì con số giáo xứ không có linh mục sẽ là 4, 815 giáo xứ.
Tổng số trung bình tại một giáo xứ ở Hoa Kỳ: vào năm 1985, một giáo xứ trung bình có khoảng 2, 718 thành viên. Vào năm 2004, con số giáo dân tăng lên là 3, 380 người. Dự kiến vào năm 2010, con số giáo dân trung bình tại một giáo xứ ở Hoa Kỳ sẽ tăng lên là: 3, 500 thành viên.
(Thông tin trên là do CARA cung cấp, và được liệt kê chính thức trong Quyển Danh Bạ Công Giáo.)
Về Việc Đóng Cửa Các Giáo Xứ tại Tổng Giáo Phận (TGP) Boston thuộc tiểu ban Massachusette
Theo Tờ Báo Địa Cầu Boston (The Boston Globe), vào ngày 25 tháng 5 năm 2004, Đức Tổng Giám Mục Sean O’Malley (người kế nhiệm Đức Hồng Y Bernard Law, từ chức sau vụ tai tiếng tình dục của một số linh mục trong TGP) đã công bố đóng cửa khoảng 65 giáo xứ (tức hơn 1/6) các giáo xứ trực thuộc TGP Công Giáo Boston, và Ngài gọi việc đóng cửa các nhà thờ đó “là một chuyện đáng buồn” của TGP.
Giáo dân Công Giáo đã phải di chuyển ra vùng ngoại ô và con số tham dự Thánh Lễ thì càng ngày càng sút giảm. Những khó khăn về tài chánh, tình trạng nghèo nàn, và èo uột của các tòa nhà giáo xứ, và việc thiếu vắng linh mục, là những lý do chính dẫn đến việc phải đóng cửa các nhà thờ. Theo ĐTGM O’Malley, hơn 1/3 các giáo xứ phải hoạt động trong tình trạng thiếu hụt ngân sách, trong khi đó có 130 trong tổng số các linh mục chánh xứ trong toàn TGP đã trên 70 tuổi.
Những giáo xứ bị đóng cửa phần lớn là vì các số các giáo dân tham dự quá ít hay rất ít người đăng ký cho con em họ vào học giáo lý, hay chỉ vì đơn giản là nhà thờ này lại quá gần với những nhà thờ khác. TGP đã bảo về phần lớn các giáo xứ có trường học Công Giáo, thế nhưng, có tới 3 trường học, đã phải đóng cửa, nâng tổng số chung lên là 9 trường học Công Giáo trong TGP đã phải bị đóng cửa. Các linh mục chánh xứ tại những giáo xứ không bị đóng cửa nhận được những lá thư yêu cầu các Ngài phải biết mở rộng tay đến với những vị linh mục mà giáo xứ của các Ngài đã bị đóng cửa.