"Tôi tin mọi lời Con Đức Chúa Trời đã dạy"

VATICAN (Zenit.org).- Bài giảng thứ 2 mùa Vọng, do Cha Raniero Cantalamessa Dòng Capuchin, Linh Mục đã giảng trong Phủ Giáo Hoàng vào sáng Thứ Sáu 10/12 với sự hiện diện của Đức Thánh Cha và các viên chức trong Giáo Triều Roma.

Với những bài giảng này trong nhà nguyện Redemptoris Mater thuộc Dinh Tông tòa, Cha Cantalamessa cống hiến một loạt những suy tư Thánh Thể trong ánh sáng kinh "Adoro Te Devote."

* * *

Bài giảng thứ hai

"Con tin mọi lời Con Đức Chúa Trời đã dạy"

Một đại học giả về những văn bản Trung Cổ đã viết rằng kinh Adoro te Devote là "một trong những sáng tác hài hoà và suất sắc, rất phong phú và đơn gản, đã giúp ích, hơn nhiều quyển sách, đào tạo lòng sốt sắng Thánh Thể Công giáo." [1] Lịch sử thánh thi này hơi khác lạ. Thường thường ngưới ta gán cho Thánh Thomas Aquinas, nhưng những chứng minh đầu tiên này không quá 50 năm sau cái chết của Tiến Sĩ Thiên Thần, xảy ra vào năm 1274. Nhưng, dầu cương vị văn chương vẫn mang tính giả thuyết ( như về phần còn lại, các thánh thi Thánh Thể khác lấy tên ngài) điều chắc là thánh thi theo chiều hướng tư tưởng và linh đạo của ngài.

Bản văn gần như không được biết trong hai thế kỷ nữa, và có lẽ nó sẽ tiếp tục xảy ra nếu như Thánh Piô V không đưa vào giữa những kinh chuẩn bị Thánh Lễ và cám ơn được in trong sách lễ vào năm 1570. Từ đó thánh thi được thiết lập trong Giáo Hội phổ quát như một trong những kinh Thánh Thể được hàng giáo sĩ và dân Kitô ưa chuộng nhất. Nó được đưa vào trong quyển Nghi thức Roma, được Đức Giáo Hoàng Phaolô VI phổ biến, sau cuộc cải tổ phụng vụ với bản văn phê phán do Wilmart thiết lập [2]

Sự bỏ tiếng Latinh ngày nay có nguy cơ đưa thánh thi này vào trong quên lãng mà Thánh Piô V đưa vào. Do đó, phải hy vọng rằng Năm Thánh thể sẽ góp phần tôn vinh thánh thi này lại. Có những bản dịch theo vần thơ của kinh này trong các ngôn ngữ chính, môt bản dịch ra tiếng Anh là công trình lớn của cha Dòng Tên Gerard Manley Hopkins.

Cầu nguyện với những lời kinh Adoro Te Devote đối với chúng ta ngày nay có nghĩa là được đưa vào trong giòng ấm áp của sự sốt sắng Thánh Thể của các thế hệ đi trươc chúng ta, của rất nhiều vị thánh đã hát kinh đó. Có lẽ, điều đó có nghĩa là làm sống lại những cảm xúc và những ký ức chính mà chúng ta đã cảm nghiệm khi hát kinh này trong những lúc tràn đầy ân sủng trong cuộc đời chúng ta.

1. Lời và Thần Khí trong khi Truyền Phép.
Người ta có thể nói về mầu nhiệm Thánh Thể như Đức Hồng Y Danneels đã viết--"trong ngôn ngữ chính xác và rõ ràng của các nhà chú giãi và các nhà thần học, mà Giáo Hội không bao giờ có thể bỏ qua. Nhưng người ta cũng có thể dùng ngôn ngữ của con tim, của sự khâm phục, và của tình yêu.. .; ngôn ngữ của Chúa Thánh Thần, là chính hơi thở của Giáo Hội, ngôn ngữ của sự chiêm ngắm." [3] Tôi thiết nghĩ đến sự kiện vẻ đẹp không thể vượt qua được của kinh Adoro te Devote là kinh đó mang chung trong mình, cả hai ngôn ngữ này; trong đó nền thần học sáng sủa nhất đi đôi với môt cái đập không ngưng của con tim.

Nếu dịch cách trung thực hết sức, đoạn thơ thứ hai kinh Adoro Te Devote nói:

Tay cầm, miệng nếm, mắt xem, Ba điều ấy dầu có ngại;

Song việc tai nghe đã phải, Một nầy tin vững lòng con:

Con tin mọi lời Con Đức Chúa Trời đã dạy,

Không lời gì khác, hẳn bằng lời chân thật này.

Nhận xét duy nhất về bản văn phê bình đoạn thơ này liên hệ với câu cuối cùng. Như trong thực tại, dầu khi hát hay đọc, người ta bị bắt buộc bởi những vần thơ cắt tiếng "veritatis" trở thành hai (veri-tatis), vì lẽ này câu biến thể xem ra đáng chuộng hơn vì nó thay đổi thứ tự tiếng và đọc "Nil hoc veritatis verbo verius--Không lời gì khác, hẳn bằng lời chân thật này." [4]

Không phải những giác quan thấy, cầm và nếm có thể bị sai lầm về những hình Thánh thể, nhưng chúng ta có thể làm cho mình sai lầm trong sự giải thích những điều nói cho chúng ta. Các giác quan không sai lầm, bởi vì những hình bên ngoài là đối tượng riêng biệt của chúng--cái gì được thấy, được cầm và đuợc nếm-- và những hình thật sự là những hình bánh và rượu "Thánh Thomas viết, "Trong Bí tích này, không có sai lầm. Trên thực tế, những tùy thể do giác quan cảm nghiệm, hiện hữu thật sự, đang khi trí tuệ mà đối tượng là bản chất sự việc, đuợc đức tin giữ khỏi sai lầm." (5) Chỉ sau này, theo triết học Descartes, có những nhà thần học gợi ý một sự giải thích khác, cho rằng những hình Thánh thể không có tính nhất quán khách quan, nhưng đó chỉ là những biến đổi do Chúa hay do chính mình Chúa Kitô phát sinh trong giác quan chúng ta. Trong trường họp này giác quan chúng ta chắc có thể làm chúng ta sai lầm, nhưng không thể sai lầm trong thần học Thomas.

Câu "song việc tai nghe đã phải, Một này tin vững lòng con,'auditu solo tuto creditur,' "qui chiếu về khẳng định của thư gửi tín hữu Roma 10:17 mà trong bản Vulgate đọc: "Fides ex auditu- Đức tin bởi sự nghe."Nhưng ở đây, không phải nói về sự nghe lời Chúa một cách chung chung, nhưng về sự nghe một lời chính xác Chúa nói, Người chính là Chân Lý. Vì lẽ này tôi cho là quan trọng việc giữ lại tĩnh từ chỉ định "lời này" ("hoc verbo"} trong câu cuối cùng.

Điều rõ ràng là phải qui chiếu về lời nào: lời truyền phép mà linh mục lập lại trong Thánh Lễ: "Này là Mình Thầy" ("Hoc est corpuis meum"); "Này là chén Máu Thày" (:Hic est calix sanguinis mei"}. Điều đó được củng cố bởi một đoạn trong Tổng Luận của Thánh Thomas, mà thánh thi của chúng ta xem ra chỉ đổi thành thơ: "Mình và Máu thật của Chúa Kitô hiện diện trong bí tích này, đó là điều không thể cảm nhận hoặc bằng giác quan hay bằng trí tuệ, nhưng chỉ bằng đức tin, đựa trên uy quyền Chúa. Vì lẽ này, khi giải thích về đoạn trong Thánh Luca 22: 19: "nầy là Mình Thầy sẽ bị nộp vì các con,' Thánh Cyril nói: Đừng hồ nghi về chân lý này, nhưng đúng hơn hãy chấp nhận với đức tin những lời của Đấng Cứu Thế: vì Người là Chân Lý, Người không thể nói dối." [6]

Giáo Hội dựa trên lời này của Chúa Kitô trong sự giải thích Thánh Thể; đó là nền tảng đức tin chúng ta trong sự hiện diện thật sự. "Dầu giác quan gợi ý cho anh em sự trái ngược," cũng như Thánh Cyril thành Jerusalem nói, "đức tin phải làm cho anh vững chắc. Trong trường hợp này, anh em không nên phán đoán theo sự nếm, nhưng hãy để anh em được hướng dẫn bởi đức tin mà thôi." [7]

Trong số các Giáo Phụ Latinh, chính Thánh Ambroisiô đã viết những sự sâu sắc nhất về bản tính của lời Chúa Kitô: "Khi tới lúc phải thực hiện bí tích đáng tôn kính, thì linh mục không còn dùng lời của mình nữa, nhưng lời của Chúa Kitô. Do đo, chính lời thực hiện ('conficit') bí tích. . . . Đức Chúa khiến và các tầng trời được tạo thánh.. . ,Người ra lệnh và moi sự bắt dầu hiện hữu. Hãy xem lời nói của Chúa Kitô hiệu nghiệm ('operatorius') dường nào. Trước lúc truyền phép, không có Mình Chúa, nhưng sau truyền phép, tôi nói với anh em rằng bầy giờ có Mình Chúa Kitô. Người nói và điều đó được thực hiện, Người ra lệnh và điếu đó được tạo thành (x. Tv 11:9)." [8]

Vị Thánh Tiến Sĩ nói rằng lời "Này là mình Thầy" là một lời "có tác dụng," hiệu nghiệm. Sự khác biệt giữa một định đề tư biện hay lý thuyết (ví dụ, "con người là môt con vật có trí khôn) và một định đề có tác dụng hay thực hành (ví dụ: "hãy có ánh sáng," thì có ánh sáng) là định đề thứ nhất chiêm ngắm sự đã hiện hữu, đang khi định đề thứ hai khiến nó có, kêu gọi nó vào sự hiện hữu.

Nếu có gì phải thêm cho sự giải thích của Thánh Ambroisiô và cho những lời của thánh thi chúng ta, đó là "sức mạnh tác động" do lời Chúa Kitô thực hiện là bởi Chúa Thánh Thần. Chính Chúa Thánh Thần ban sức mạnh cho những lời Chúa Giêsu nói khi còn sống, như chính Người đã công bố trong một dịp với các kẻ thù (x. Mt 12:28). Chính trong Chúa Thánh Thần mà trong sự Thương Khó của Người, Người "đã hiến dâng mình cho Chúa: ( x.Dt 9: 14) và chính cũng trong Thần Khí này mà Người tái diễn sự hiến dâng của Người cách bí tích trong mỗi Thánh Lễ.

Trong toàn thể Kinh Thánh người ta ghi chú một sự đồng dụng lạ lùng giữa lời Chúa "dabar," và hơi thở, "ruah," làm sinh sống và mang sức sống. "Một lời Chúa phán làm ra chín tầng trời, một hơi Chúa thở tạo thành muôn tinh tú (Tv 33;6); "Lời Người nói là cây roi đánh vào kẻ bạo tàn, hơi miệng thở ra giết chết kẻ gian tà" (Is. 11: 4).Làm sao người ta có thể tưởng rằng sự thâm nhập hỗ tương này bị cắt đứt chính trong lúc cao điểm của lịch sử cứu rỗi?

"Lúc đầu, dó là một xác quyết chung, của các Giáo phụ Latinh cũng như Hy Lạp. Khẳng định của Thánh Gregory thành Nyssa--"chính sự thánh hoá của Chúa Thánh Thần ban cho bánh và chén lễ năng lực làm cho hai thứ đó trở thành Mình và Máu Chúa Kitô"[9]-- được dội lại tại phương Tây do Thánh Augustinô: "Tặng phẩm được thánh hoá để trở thành bí tích lớn này nhờ tác động của Thần Khí Chúa" [10]

Chính sự suy giảm những quan hệ giữa hai Giáo Hội đã đưa mỗi bên tới chỗ bám cứng vào lập trường của mình và cũng làm cho sự này thành môt điểm tranh cãi. Đễ chống đối, những người cho rằng "chỉ nhờ Chúa Thánh Thần mà bánh trở nên mình Chúa Kitô," các người Latinh dựa trên uy quyền của thánh Ambroisiô, kết thúc bằng cách nhấn mạnh về những lòi truyền phép mà thôi [11].

Từ lúc bỏ đi sự cố gắng không đáng để ấn định "lúc chính xác" sự biến đổi của những hình xảy ra, và đúng hơn là có sự cân nhắc về toàn thể nghi thức và ý nguyện của Giáo Hội trong việc thực hiện sự này, thì có sự xích gần lại giữa Chính Thống Giáo và Giáo Hội Công Giáo. Về điểm này, mỗi một bên cũng công nhận tính thành sự Thánh thể của bên kia. Những lời thiết lập và những kinh cầu Thần Khí, cùng chung thực hiện điều kỳ diệu

--- --- ---

[1] A. Wilmart, "La tradition littraire et textuelle de 'l'Adoro te devote," in Recherches de Thologie ancienne et mdivale, 1, 1929, pp. 21-40.

[2] "Rituale Romanum. De sacra communione et de cultu Mysterii Eucharistici extra Missam," Typis Polyglottis Vaticanis 1973, pp. 61.s.

[3] Cardinal G. Dannneels, "Ouverture Eucharistia. Encyclpdie de l'Eucharistie," ed. M. Brouard, Paris, le Cerf, 2002, p. 11.

[4] Wilmart, art. cit., p. 159, legge "nichil veritatis verbo verius"; I think that, with the majority of manuscripts, the adjective "this" ("hoc verbo") is maintained, for reasons I shall explain further on.

[5] S. Th. III, q. 75, a. 5, ad 2.

[6] S. Th., IIIa, q. 75, a. 1.

[7] St. Cyril of Jerusalem, "Catechesi mistagogiche," IV, 2.6.

[8] St. Ambrose, "De sacramentis," IV, 14-15.

[9] St. Gregory of Nyssa, (PG 33, 1113. 1124).

[10] St. Augustine, "De Trinitate," III, 4,10 (PL, 42, 874).

[11] Cf. St. Thomas Aquinas, S.Th, III, q. LXXVIII, a.4: the phrase is attributed to Damascene.