Bài giảng Chúa nhật I Mùa Vọng của cha Giảng cho Phủ Giáo Hoàng
VATICAN (Zenit.org).-Bài giảng Chúa nhât I mùa Vọng của cha Capuchin Raniero Cantalamessa, người giảng cho Phủ Giáo hoàng, đã giảng sáng thứ Sáu 3/12 với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng và các viên chức trong Giáo Triều Roma.
Với bài giảng này, Cha Cantalamessa đã bắt đầu trong nhà nguyện
Redemptoris Mater thuộc Dinh Tông tòa, Cha đưa ra những suy tư Thánh Thể dưới ánh sáng thánh thi Adoro Te Devote.
* * *
Bài giảng I -Adoro Te devote
Để đáp ứng ý muốn và những ý nguyện của Đức Thánh Cha dành năm này cho Thánh Thể, bài giảng về mùa Vọng này và nếu Chúa muốn trong mùa Chay tới, sẽ có một sự giải thích theo từng đoạn thơ của kinh Adoro Te Devote.
Với thông điệp của Đức Giáo Hoàng "Ecclesia de Eucharistia," Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II nói ngài có ý nhắc lại "sư lạ Thánh Thể" trong Gáo Hội,[1] và kinh Adoro Te Devote giúp cách ký diệu để hoàn thành chủ đích này. Kinh đó có thể giúp ban sự linh hứng thiêng liêng và con tim cho tất cả những gì sẽ được làm trong năm kính Thánh Thể này.
Một cách nói nào đó về Thánh Thể, đầy sự ngọt ngào và sốt sắng cũng như đầy giáo lý sâu sắc, bị loại trừ bởi sự xuất hiện nền thần học gọi là khoa học, (cách nói đó) được giữ lại trong những thánh thi Thánh thể và ở đây chúng ta phải nhìn tới điều đó hôm nay, nếu chúng ta muốn vượt qua môt thuyết khái niệm khô khan nào đó đã ảnh hưởng Bí Tích nơi Bàn Thánh theo sau rất nhiều bàn cãi xung quanh Bí tích này.
Nhưng, chúng ta sẽ không suy tư về kinh Adoro Te Devote, nhưng về Bí Tích Thánh Thể! Thánh thi ví như bản đồ cho phép chúng ta khám phá vùng đất, hướng dẫn chúng ta tới công trình nghệ thuật.
1. Một sự hiện diện ẩn giấu
Trong bài suy niệm này chúng ta suy tư về đoạn thơ thứ nhất thánh thi. Đoạn thơ đó nói:
Con kính lạy Đức Chúa Giêsu,
Thật ẩn trong hình bánh rượu
Lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem,
Thấy Chúa rụng rời.
Có những cố gắng thiết lập bản văn phê bình thánh thi dựa trên một số bản viết tay hiện hữu trước lúc in. Những thay đổi chúng tôi biết về bản văn thì không nhiều. Trên thực tế, thay đổi chính liên hệ đến hai câu đầu đoạn thơ này mà, theo Wilmart, bắt đầu như sau: "Adoro devote latens veritas / Te qui sub his formis vere latitas," ở đó "veritas" thay cho con người Chúa Kitô và "formis" tương đương với "figuris."
Nhưng ngoài sự kiện cách đọc này là hoàn toàn không chắc, [2] có một lý do khác thúc đẩy chúng ta giữ theo bản văn truyền thống. Thánh thi này, cũng như các thánh thi phụng vụ Latinh đáng kính khác trong quá khứ, thuộc cộng đồng các tín hữu đã hát qua bao thế kỷ, đã coi nó như của mình và gần như tái tạo nó, không thua kém gì tác giả đã soạn ra nó, nhưng thường giữ nặc danh. Bản văn bình dân không phải kém giá hơn bản văn phê phán và trên thực tế chính bản thánh thi đó tiếp tục được biết và đuợc hát trong toàn thể Giáo Hội.
Trong mỗi đoạn thơ kinh Adoro Te Devote có một khẳng định thần học và một lời kêu cầu, tức là lời đáp trả có tính cầu nguyện của linh hồn đối với mầu nhiệm. Chân lý thần học được nhắc tới trong đoạn thơ thứ nhất qui chiếu tới cách hiện diện Chúa Kitô trong những hình Thánh Thể. Kiểu nói Latin "vere latitas" đầy ý nghĩa, có nghĩa là: Người ẩn mình, nhưng thực sự Người ở đó (nơi trọng âm ở trong tiếng "vere," thực tại của sự hiện diện mà thôi) và cũng có nghĩa: Người thực sự ở đó, nhưng ẩn mình (nơi trọng âm là ở trong tiếng "latitas," trong đặc tính bí tích của sự hiện diện này.
Muôn hiểu cách nói này về Thánh Thể, cần phải ghi nhớ sự "thay đổi lớn" đuợc xác minh về Thánh Thể trong đoạn thần học biểu trưng của các Giáo phụ và trong biện chứng pháp của hệ thống triết học kinh viện.
Điều đó bắt đầu đã lâu trong thế kỷ thứ 9 với Pascasio Radberto và Ratramno thành Corbie: người thứ nhất bênh vực sự hiện diện thể lý và vật chất của Chúa Kitô trong bánh và rượu; người thứ hai bênh vực Bí Tích một sự hiện diện đúng và thật nhưng không phải thể lý; điều đó xuất hiện rõ ràng, nhưng chỉ sau này, với Berengarius thành Tours (H 1088), là người nhấn mạnh đặc tính biểu trưng và bí tích của Chúa Kitô trong Thánh Thể, đến nỗi gây hại đức tin trong thực tại khách quan của một sự hiện diện thể ấy
Vì thoạt đầu như đã được nói rằng Chúa Kitô hiên diện cách bí tích trong Thánh Thể, hay một cách mầu nhiều theo những người phương Đông, nhưng giờ đây một ngôn ngữ vay mượn từ Aristotle, có thể nói lên rằng Người hiện diện về thực chất, hay là theo thực chất. "Figura" không còn ám chỉ như bí tích, tổng thể những dấu mà sự hiện diện của Chúa Kitô được thực hiện, nhưng đơn thuần chỉ đến "species hay appearances" (các hình) của bánh và rượu, nói theo ngôn ngữ kỹ thuật những accidents.(tùy thể) [3]
Thánh thi chúng ta được đặt rõ ràng về phía được thay đổi, cho dầu nó tránh dùng những từ mới triết học, không thich hợp lắm trong văn bản thi thơ. Trong câu "quae sub his figuris vere latitas," từ "figura" chỉ hình bánh và rượu theo mức các hình đó che đậy những gì chúng chứa đựng và chứa đựng những gì chúng giấu [4]
2. Trong sự thờ lạy sốt mến
Tôi nhắc lại rằng trong mỗi đoạn thơ của thánh thi, chúng ta gặp một sự khẳng định thần học tiếp theo là một lời cầu xin qua đó người cầu nguyện đáp ứng khẳng định và chiếm đoạt chân lý được gợi lên. Dầu ẩn giấu với sự khẳng định về sự hiện diện thật của Chúa kitô trong bánh và rượu cho người cầu nguyện đáp trả bằng cách nói tan biến trong sự cầu nguyện sốt sắng và mang theo mình, trong cũng một cử dộng, vô số linh hồn mà hơn nữa ngàn năm đã cầu nguyện với những lời nguyện này.
"Adoro-Con kính lạy" :lời này, mở đầu thánh thi, tự nó là một việc xưng đức tin về căn tính giữa thân xác Thánh Thể và thân xác lịch sử của Chúa Kitô, "sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, và đã thật sự chịu đau khổ và đã bị hiến tế trên thánh giá vì người ta." Thực vậy chính nhờ căn tính này, và nhờ sự Ngôi hiệp trong Chúa Kitô giữa nhân tính và thần tính của Người, mà chúng ta có thể thờ lạy trước Bánh đã được truyền phép mà không phạm tội thờ ngẫu tượng. Thánh Augustinô đã nói: "Trong thịt này (Chúa) đã bước đi ở đây và cũng chính thịt này Người đã cho chúng ta ăn để được cứu rỗi, và không ai ăn thịt này mà không thờ lạy thị đó trước.. . Chúng ta không mắc tội vì thờ lạy thịt đó, nhưng đúng hơn chúng ta mắc tội nếu chúng ta không thờ lạy thịt đó." [5]
Nhưng, chính xác sự thờ phương gồm có cái gì và nó được bày tỏ cách nào? Sư thờ phượng có thể được chuẩn bị bởi sự suy tư lâu dài, nhưng nó kết thúc với một trực giác và như tất cả trực giác, nó không kéo dài. Nó như một làn chớp sáng trong đêm. Nhưng là một thứ sáng đặc biệt: không hẳn là ánh sáng chân lý, nhưng là ánh sáng của thực tại. Đó là sự nhận thức về tính cao cả, uy nghi và vẻ đẹp của Thiên Chúa, cùng với sự tốt lành và hiện diện của Người làm cho người ta ngưng thở. Đó là một sự chìm đắm trong đại dương không bờ bến và không thể dò thấu sự uy nghi Thiên Chúa.
Một hình thức thờ lạy, hiệu nghiệm hơn bất cứ lời nào, là sự thinh lặng. Việc thờ lạy theo cách diễn tả kỳ diệu của Thánh Gregory Nazianzen, có nghĩa là một "thánh thi yên lặng" dâng lên Chúa. Có một thời khi muốn đi vào một bầu khí thờ lạy trước Bí Tích Rất Thánh, tôi chỉ cần lập lại những lời đầu tiên một thánh thi của nhà huyền bí Đức là Gerhard Tersteegen, thế kỷ 17, ngày nay còn hát trong các nhà thờ Tin lành và Công Giáo tại nước Đức.
"Chúa hiện diện ở đây, chúng ta hãy đến thờ lạy Người!
Với sự tôn sùng thánh, chúng ta hãy vào trước nhan Người.
Chúa ở đây giữa chúng ta: mọi sự đều yên lặng trong chúng ta
Và hữu thể thâm sâu nhất của chúng ta sấp mình trước sự hiện diện của Người." (6)
Có lẽ vì những lời của một ngoại ngữ ít bị hao mòn hơn bởi viêc xử dụng và sự tầm thường hoá, môt sự kiện là những lời này gây cho tôi trong mọi lúc một xúc động nội tại. "Gottist gegenwartig, Chúa hiện diện,Chúa ở đây!"-- những lời sớm tan biến, duy chỉ chân lý tồn tại chân lý mà những lời đó truyền sang, là "cảm giác sống động về sự hiện diện" của Thiên Chúa.
Ý nghĩa sự thờ phương được tăng cường, trong thánh thi chúng ta, bởi ý nghĩa sự sùng kính: "Con kính lạy Đức Chúa Giêsu." Thời Trung Cổ, lời này một ý nghĩa mới trong mối quan hệ với thời cố xưa ngoại giáo và cả Kitô giáo. Lời này ngay lúc đầu, chỉ rõ sự gắn bó của một người, sự gắn bó được diễn tả trong sự phục vụ trung thành và theo tập quán Kitô hữu, trong mọi hình thức phục vụ Chúa, cách riêng việc phục vụ phung vụ của sự đọc các thánh vịnh và những kinh cầu.
Trong những tác giả thiêng liêng lớn thời Trung Cổ, lời được nội tâm hóa, không còn chỉ những thực hành bên ngoài nữa, nhưng những khuynh hướng sâu xa của tâm hồn. Đối với Thánh Bernard lời chỉ "sự sốt sắng bên trong của linh hồn được nung đốt bởi lửa yêu mến.." [7] Với Thánh Bonaventura và trường phái của ngài, con người Chúa kitô trở nên chủ đích trung tâm của sự sùng kính, được hiểu như cảm giác biết ơn và yêu mến vĩ đại do sự nhớ những ơn lành gây nên. Tiến sĩ thiên thần dành tất cả hai doạn trong sách Summa cho sự sùng kính, điều mà ngài coi là hành vi thứ nhất và quan trọng hơn hết của nhơn đức tôn giáo. [8] Đối với ngài hành vi đó gòm có sư sẵn sàng và khuynh hướng của sự muốn dâng mình cho Chúa được diễn tả trong một việc phục vụ không dè dặt và đầy sốt sắng.
Nội dung phong phú và sâu sắc vô phúc bị đánh mất tới phạm vi lớn sau này, khi quan niệm "sư sùng kính" bị đặt ngang với quan niệm "những sự sùng kính," nghĩa là của những thực hành bên ngoài và đặc biệt, không những chỉ về Chúa, mà thường hơn chỉ về các thánh hay những nơi, những mục đích và những ảnh riêng biệt. Có một sự trở lại trong thực hành về ý nghĩa xưa của từ ngữ.
Trong thánh thi chúng ta trạng tự devote giữ nguyên sức mạnh thần học và
thiêng liêng mà chính tác giả (nếu đó là Thomas Aquinas) đã góp phần tặng cho từ đó. Sự giải nghĩa tốt nhất của điều được hiểu ở đây là "sự sùng kính" nằm trong những lời sau đây, trong phần hai của đoạn thơ: "Tibi se cor meum totum subjicit" : lòng con khâm ngưỡng nhìn xem. Sự sẵn sàng toàn diện và đầy yêu thương làm theo ý muốn của Chúa.
3. Sự chầu Thánh Thể
Điều còn phải được suy nghĩ, là ngọn lửa cao nhất phát ra từ hai câu cuối cùng của đoạn thơ này: "Quia te contemplans totum deficit": Lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem thấy Chúa rụng rời. Đặc điểm của những thánh thi phụng vụ latinh đáng tôn kính, như Adoro Te Devote, Veni Creator và những thánh thi khác, đó là sự tập trung kỳ diệu của ý nghĩa trong mỗi lời. Mỗi lời tự nó "có ý nghĩa".
Muốn hiểu đầy đủ ý nghĩa của câu này, như của toàn thánh thi, cần phải lưu ý tới môi trường và bối cảnh sinh ra nó. Tôi đã nói, chúng ta đang ở phía có sự thay đổi lớn trong thần học Thánh Thể, thay đổi phát sinh do sự phản ứng với những lý thuyết của Berengarius thành Tours. Vấn đề mà suy tư Kitô hữu tập trung gần như riêng biệt, là vấn đề hiện diện thật sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể, sự hiện diện đó thỉnh thoảng vươt quá trong sự khẳng định về sự hiện diện thể lý và gần như vật chất, [9] Từ Bỉ nẩy lên làn sóng lớn sùng kính Thánh Thể đã sớm lan tràn tới toàn thể Kitô Giáo, và trong năm 1264 đưa tới việc thành lập lễ Mình Thánh Chúa do Đức Giáo Hoàng Urban IV.
Cảm giác tôn kính Thánh Thể tăng trưởng và kèm song song cũng tăng trưởng cảm giác bất xứng đối với người tín hữu tới gần Thánh Thể, cũng vì những điều kiện được đặt ra cho việc rước lễ không thể thực hiện được (ăn chay, sám hối, xưng tội, kiêng cữ những quan hệ vợ chồng). Sự rước lễ của tín hữu trở thành một biến cố họa hiếm đến nỗi Công đồng Lateran thứ Bốn trong năm 1215 phải ra luật buộc đi Rước Lễ tối thiểu trong mùa Phục Sinh. Nhưng Thánh Thể tiếp tục lôi cuốn các linh hồn quá mạnh và như sự thiếu tiếp xúc ăn uống qua sự rước lễ được bù lại bằng cách phát triển sự tiếp xúc khả kiến của sự chiêm ngắm. (Chúng tôi ghi nhận rằng trong phương Đông, vì cũng những lý do tương tự, giáo dân cũng bị từ chối sự tiếp xúc hữu hình, bởi vì nghi thức trung tâm Thánh Lễ diễn tiến sau một bức màn mà sau này trở thành bức tường của sự đả phá ảnh tượng.)
Việc dâng cao bánh thánh và chén lễ lúc truyền phép, trước kia chưa được biết (chứng từ viết cho biết cử chỉ này được thiết lập năm 1196), đã trở thành cho nguời giáo dân thời điểm quan trọng nhất của Thánh Lễ, lúc đó những cảm giác sùng kính của họ tuôn ra và họ hy vọng nhận lãnh những ân sủng. Lúc đó rung chuông để thông báo cho những người vắng mặt, và có người chạy từ Thánh Lễ này đến Thánh Lễ khác để tham dự lúc truyền phép. Nhiều thánh thi ThánhThể, trong số đó có Ave verum, được sáng tác để kèm theo thởi điểm này; đó là những thánh thi dành cho việc dâng cao Mình Thánh Chúa. Adoro Te Devote cũng thuộc vào số thánh thi này. Từ đầu cho chí cuối, ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ của sự thấy, sự chiêm ngắm: "te contemplans, non intueor, nunc aspicio, visu sim beatus- chiêm ngưỡng Chúa, con không nhìn xem, bây giờ xem thấy, con ước hưởng hạnh phúc."
Chúng ta không còn có cùng một ý niệm về thánh Thể bởi đã lâu sự rước lễ đã trở thành một phần nguyên vẹn cho việc tham dự Thánh Lễ, những hoàn thành về thần học (phong trào kinh thánh, phung vụ, đại kết) cùng xuất hiện hoàntoàn trong Công Đồng Vatican Hai và cùng với đức tin trong sư hiện diện thật, cải tổ phung vụ đã có giá trị lại đến những phương diện khác của Thánh Thể là bữa tiệc, hy lễ, sự kính nhớ, chiều kích cộng đồng và giáo hôi.
Có thể nghĩ rằng trong bầu khí mới này không còn chỗ cho Adoro te Devote và cho những thực hành Thánh Thể phát sinh trong thời buổi này. Ngược lại ngay bây giờ những thực hành đó vẫn hữu ích và cần thiết cho chúng ta, nên không để mất, vì những thực hiện ngày nay là những thực hiện của hôm qua. Chúng ta không thể hạn chế Thánh Thể duy chỉ vào sự chiêm ngắm sự hiện diện thật trong Bánh Thánh đã truyền phép, nhưng cũng là một mất mát nghiêm trọng nếu để mất sự chiêm ngắm đó.
Đức Giáo Hoàng không ngừng khuyên nhủ điều đó từ thư thứ nhất của ngài Mầu Nhiệm và Phụng Tự Bí Tích Thánh Thể được công bố ngày Thứ Năm Tuần Thánh trong năm 1980: "Sự thờ lạy Chúa Kitô trong bí tích tình yêu này phải gặp được diễn tả trong những hình thức khác nhau của sự sùng kính Thánh Thể: cầu nguyện riêng trước Bí Tích Chí Thánh, những giờ chầu, đặt Mình Thánh Chúa ngắn hạn, dài hạn, hằng năm.. . Chúa Giêsu chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Chúng ta đừng để mất một giờ nào để đi tìm Người, lòng đầy đức tin, trong sự thờ lạy và chiêm ngắm."
Những anh em Chính thống giáo của chúng ta không chia sẻ phương diện sùng kính Công giáo này, một số trong họ ghi nhận cách tử tế rằng bánh được làm ra để ăn, chớ không để xem. Những người khác, trong số cũng có người Công giáo, nhận xét rằng việc thực hành đó được phát triển chính lúc đời sống phụng vụ và bí tích bị lu mờ trầm trọng.
Nhưng không có những giải thích thần học hay lý thuyết ủng hộ tính tuyệt hảo của sự chiêm ngắm Thánh Thể, nhưng có chứng minh ấn tượng của những sự kiện, nói một cách nôm na là "một đám mây chứng minh." Một chứng minh mới là chứng minh của Charles de Foucauld, Cha lấy việc chầu Thánh Thể làm một trong những linh đạo mạnh mẽ của cha và của các đồ đệ của ngài. Vô số linh hồn đạt tới sự thánh thiện bằng cách thực hành linh đạo đó và đã chứng tỏ sự đóng góp quyết định do linh đạo đó mang lại cho kinh nghiệm huyền bí. [10] Thánh Thể, trong và ngoài Thánh Lễ, đối với Giáo Hội Công Giáo là điều mà lò sưởi ấm gia đình đã và còn là trong gia đình vào mùa đông: một nơi mà xung quanh đó gia đình tái khám phá sự hiệp nhất và sự thân mật của mình, là trung tâm thật sư của mọi sự.
Điều này không có nghĩa là cũng không có những lý lẽ thần học làm nền tảng cho sự chiêm ngắm Thánh Thể. Lý lẽ thứ nhất đến từ lời của Chúa Kitô: "Anh em hãy làm sự này mà nhớ đến Thầy." Trong ý niệm của sự kính nhớ có một sự kính nhớ khách quan và bí tích, hệ tại sự lập lại nghi thức Chúa Kitô đã hoàn thành, nghi thức đó nhắc nhớ và hiện diện hóa hy lễ của Người. Nhưng cũng có một phương diện chủ quan và hiện sinh, hệ tại sự trau dồi ký ức về Chúa Kitô, "trong sự luôn có trong tư tưởng những ý nghĩ liên quan tới Chúa Kitô và tình yêu của Người." [11] "Ký ức ngọt ngào về Chúa Giêsu" {Jesu dulcis memoria"} không hạn chế theo thời gian người ta ở trước nhà tạm, điều đó có thể được trau dồi với những phương tiện khác, như nhìn xem các ảnh tượng, nhưng thật sự việc thờ lạy trước Bí Tích Chí Thánh là một phương thế ưu tiên.
Hai phương diện của sự nhớ --cử hành và chiêm ngắm Thánh Thể không loại trừ nhau, nhưng hội nhập với nhau. Trên thực tế, sự chiêm ngắm là phương tiện nhờ đó chúng ta "nhận lãnh," theo nghĩa mạnh, các mầu nhiệm, qua đó chúng ta nội tâm hóa các mầu nhiệm và mở lòng chúng ta cho hành động của những mầu nhiệm đó; đó là sự tương đương của những mầu nhiệm trên bình diện hiện sinh và chủ quan; đó là một cách thức để cho ân sủng, nhận lãnh trong các bí tích, uốn nắn thế giới nội tại chúng ta, nghĩa là những tư tưởng, những tình yêu, ý chí, ký ức.
Có một mối quan hệ lớn giữa Thánh Thể và mầu nhiệm Nhập Thể. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, thánh Augustinô nói, "Đức Maria đã mang thai Ngôi Lời trước hết với lòng trí hơn là với thân xác của ngài" ["Prius concepit mente quam corpore"). Thánh nhân nói thêm, trên thực tế, việc mang Chúa Kitô trong lòng thì không có giá trị gì đối với ngài, nếu ngài đã không mang Người với tình yêu trong con tim ngài [12] Người Kitô hữu cũng phải nhận lãnh Chúa Kitô trong lòng trí mình, trước khi nhận lãnh và sau khi nhận lãnh Người trong thân xác mình. Và nhận lãnh Chúa Kitô trong lòng trí có nghĩa là, cách cụ thể, nghĩ đến Người, nhìn đến Người, nhớ đến Người, chiêm ngắm dấu hiệu chính Nguời đã chọn để ở giữa chúng ta.
4. Quên tất cả mọi sự
"Te contemplans -Thánh thi nói lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem Chúa. Đại danh từ "you" (Chúa) bao gồm cái gì? Chắc là bao hàm Chúa Kitô hiện diện trong Bánh thánh, nhưng không phải một sự hiện diện tĩnh và bất động, sự hiện diện này chỉ toàn diện mầu nhiệm Chúa Kitô, bản thân và công trình của Người; đó là yên lặng nghe lại Tin Mừng hay là một câu trong sự hiện diện của chính tác giả Tin Mừng, đấng ban cho Lời một sức mạnh và sự gần gũi đặc biệt.
Nhưng điều đó chưa phải là chóp đỉnh sự chiêm ngắm. Các vị giáo huấn tinh thần vĩ đại định nghĩa sự chiêm ngắm như: "Một cái nhìn thấu suốt và bất động" (Hugh of Saint Victor), hay là "Một cái nhìn yêu thương ngắm nhìn lên Thiên Chúa" ( St Bonaventure). Bấy giờ dấn thân trong sự chiêm ngắm Thánh Thể một cách cụ thể có nghĩa là thiết lập một sự tiếp xúc gần gũi với Chúa Giêsu hiện diện thật sự trong Bánh Thánh và nhờ Người,được nâng lên tới Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Trong sự suy gẫm, chú trọng tới sự tìm chân lý, ngược lại trong sự chiêm ngắm đó là sự hưởng thụ Chân Lý đã tìm được. Sự chiêm ngắm luôn hướng về con người, về sự toàn vẹn chớ không về những thành phần. Sự chiêm ngắm Thánh Thể là nhìn xem Đấng đang nhìn tôi.
Giai đoạn chiêm ngắm là giai đoạn được diễn tả bởi tác giả thánh thi Adoro Te Devote khi ngài khẳng định: "te contemplans totum deficit--lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem thấy Chúa rụng rời." Đó là những lời chắc chắn phát sinh từ kinh nghiệm. "Mọi sự đều rụng rời," nghĩa là cái gì rụng rời? Không những thế giới bên ngoài, những người, những sự, mà còn cả thế giới bên trong bao gồm những tư tưởng, hình ảnh, phiền muộn. "Sự quên mọi sự ngoài Chúa," Pascal đã viết khi diễn tả một kinh nghiệm tương tự. Và thánh Phanxico thành Assisi đã khuyên bảo anh em ngài: "Có thể là một sự khốn khổ lớn, và là một sự dữ thảm khốc nếu có Người hiện diện mà anh em chăm chú tới một việc gì khác trong toàn thể vũ trụ!" [13].
Xung quanh cũng một niên hiệu mà thánh thi được sáng tác, tức là cuối thế kỷ 13, Roger Bacon, một người hết sức yêu mến Thánh Thể, đã viết những lời này, những lời xem ra như một sự chú giải đoạn thơ thứ nhất thánh thi Adoro Te Devote và như một khẳng định về kinh nghiệm chói sáng qua đó: "Nếu sự uy nghi Thiên Chúa tự tỏ mình cách hữu hình, chúng ta không sức chịu đựng và chúng ta sẽ rụng rời {'deficeremus!' hoàn toàn trong sự cung kính, sốt sắng và kinh ngạc.. . Kinh nghiệm chứng minh điều đó. Những người tập mình sống đức tin và tình yêu bí tích này không chịu nổi sự sốt sắng phát sinh từ một đức tin thuần tinh ròng, mà lại không chảy nước mắt đằm đìa và xuất hồn, vì hồn xuất khỏi mình, hoà với bởi sự dịu ngọt của lòng sốt sắng, đến độ không còn biết mình đang ở đâu hay tại sao ở đây."
[14].
Sự chiêm ngắm Thánh Thể thì hoàn toàn khác với việc đắm mình trong tĩnh mịch. Người ta đã ghi nhận rằng con người phản ảnh trong chính mình , thỉnh thoảng cách thể lý, điều họ chiêm ngắm. Người ta không phơi nắng lâu mà không thấy những vết trên mặt mình. Ở lâu và với đức tin, không cần với sự sốt sắng bên ngoài, trước Bí Tích Chí Thánh, thì chúng ta hấp thụ những tư tưởng và những cảm giác của Chúa Kitô, không phải một cách mạch lạc nhưng trực giác, gần như "ex opere operto-hiệu quả do sự."
Điều xảy ra như trong quá trình sự quang hợp (photosynthesis) của cây cối. Trong mùa xuân, lá xanh xuất hiện trên cành; chúng hút từ khí quyển một số yếu tố mà dưới tác động ánh sáng mặt trời, được "giữ lại" và chuyển thành thức ăn cho cây. Chúng ta phải giống những lá xanh này! Chúng là sự biểu trưng của những linh hồn Thánh Thể, khi chiêm ngắm "mặt trời công chính" là Chúa Kitô, những linh hồn đó "bám vào" chất dinh dưỡng là chính Chúa thánh Thần, vì lợi ích của toàn cây lớn tức là Giáo Hội. Nói cách khác, đó là điều mà Thánh Phaolô nói: "Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy chúng ta được biến đổi nên giống cùng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí" (2 Cor 3:18).
Nhưng nếu bây giờ, từ những tia sáng này mà tác giả thánh thi đã làm cho chúng ta thấy, chúng ta quay về trong trí khôn tới thực tại của chúng ta và tới thế giới nghèo nàn của chúng ta sau khi hiện diện trước Thánh thể, chúng ta có nguy cơ chán nản và ngã lòng. Điều đó cũng hoàn toàn sai. Đó đã là một sự khích lệ và một điều an ủi vì biết rằng những kinh nghiệm này có thể xảy ra; vì biết rằng điều chúng ta có lẽ đã kinh nghiệm trong những lúc sốt sắng trong đời chúng ta và đã mất, có thể được đốt sáng lại, cũng nhờ Năm thánh Thể, năm được ban cho chúng ta để sống.
Điều duy nhất Chúa Thánh Thần xin chúng ta là chúng ta dành cho Người thời gian của chúng ta, dầu lúc đầu xem ra đó là thời gian đã mất. Tôi sẽ không bao giờ quên bài học mà một ngày kia đã ban cho tôi về phương diện này. Tôi đã thưa với Chúa: "Lạy Chúa, xin ban cho con lòng sốt sắng và con sẽ cho Chúa tất cả thời gian Chúa muốn trong sự cầu nguyện." Tôi cảm thấy câu trả lời trong lòng tôi: "Raniero, con hãy cho Cha thời giờ của con và Cha sẽ ban cho con tất cả sự sốt sắng con muốn trong khi cầu nguyện." Tôi nhắc lại điều này, trong trường hợp mà nó có thể giúp một người nào đó bên cạnh tôi.
--- --- ---
[1] Encyclical "Ecclesia de Eucharistia," 6.
[2] The expression "latens veritas" is found in Isidore of Seville, Sent. III, col. 688, l. 22, but it is not referred to Christ. In favor of "latens Deitas" is the parallel with "latens humanitas" of the third stanza and also the possible allusion to Isaiah 45:15: "vere tu es Deus absconditus."
[3] Cfr. de Lubac, op. cit., p. 287.
[4] Cfr. St. Thomas Aquinas, "Commento al vangelo di Giovanni," VI, lez. 6, n. 954: "The manna only prefigured, while this bread contains what it represents" ("continet quod figurat").
[5] St. Augustine, In Ps. 98,9 (PL 37, 1264).
[6] G. Tersteegen, Geistliches Blumengrtlein 11, Stuttgart 1969, p.340 s.:
"Gott ist gegenwrtig; laßet uns anbeten,
Und in Ehrfurcht vor ihn treten!
Gott ist in der Mitte; alles in uns schweige
Und sich innigst vor ihm beuge!"
[7] Cfr. J. Charillon, art. Devotio, in Dict. Spir. 3, col. 715.
[8] St. Thomas, S. Th. II, IIae, q.82 a.1-2, cf. J.W. Curran, art. "Dvotion, Fondement thologique," in Dict. Spir. III, coll. 716 ss.
[9] The first formula of faith articulated to support Berengarius asserted that, in Communion, the body and blood of Christ were present on the altar "sensibly and were really touched, and broken by the hands of the priest and chewed by the teeth of the faithful": Denzinger, Enchiridion symbolorum, 690. St. Thomas Aquinas corrects this affirmation, saying that the body of Christ "is not broken, shattered or divided by the one who receives it": cfr. S. Th. III, q. LXXVII, a.7.
[10] Cfr. E. Longpr, "Eucharistie et exprience mystique," in Dict. Spir. IV, coll. 1586-
1621.
[11] N. Cabasilas, "Vita in Cristo," VI,4 (PG 150,653)
[12] Cf. Augustine, "Sulla santa verginit," 3 (PL 40, 398).
[13] St. Francis, "Lettera a tutti I frati," 2 (FF 220)
[14] Roger Bacon, "De sacramento altaris, in Moralis philosophia," ed. E. Massa, Zurich 1953, pp. 231 s.
VATICAN (Zenit.org).-Bài giảng Chúa nhât I mùa Vọng của cha Capuchin Raniero Cantalamessa, người giảng cho Phủ Giáo hoàng, đã giảng sáng thứ Sáu 3/12 với sự hiện diện của Đức Giáo hoàng và các viên chức trong Giáo Triều Roma.
Với bài giảng này, Cha Cantalamessa đã bắt đầu trong nhà nguyện
Redemptoris Mater thuộc Dinh Tông tòa, Cha đưa ra những suy tư Thánh Thể dưới ánh sáng thánh thi Adoro Te Devote.
* * *
Bài giảng I -Adoro Te devote
Để đáp ứng ý muốn và những ý nguyện của Đức Thánh Cha dành năm này cho Thánh Thể, bài giảng về mùa Vọng này và nếu Chúa muốn trong mùa Chay tới, sẽ có một sự giải thích theo từng đoạn thơ của kinh Adoro Te Devote.
Với thông điệp của Đức Giáo Hoàng "Ecclesia de Eucharistia," Đức Thánh Cha Gioan Phaolo II nói ngài có ý nhắc lại "sư lạ Thánh Thể" trong Gáo Hội,[1] và kinh Adoro Te Devote giúp cách ký diệu để hoàn thành chủ đích này. Kinh đó có thể giúp ban sự linh hứng thiêng liêng và con tim cho tất cả những gì sẽ được làm trong năm kính Thánh Thể này.
Một cách nói nào đó về Thánh Thể, đầy sự ngọt ngào và sốt sắng cũng như đầy giáo lý sâu sắc, bị loại trừ bởi sự xuất hiện nền thần học gọi là khoa học, (cách nói đó) được giữ lại trong những thánh thi Thánh thể và ở đây chúng ta phải nhìn tới điều đó hôm nay, nếu chúng ta muốn vượt qua môt thuyết khái niệm khô khan nào đó đã ảnh hưởng Bí Tích nơi Bàn Thánh theo sau rất nhiều bàn cãi xung quanh Bí tích này.
Nhưng, chúng ta sẽ không suy tư về kinh Adoro Te Devote, nhưng về Bí Tích Thánh Thể! Thánh thi ví như bản đồ cho phép chúng ta khám phá vùng đất, hướng dẫn chúng ta tới công trình nghệ thuật.
1. Một sự hiện diện ẩn giấu
Trong bài suy niệm này chúng ta suy tư về đoạn thơ thứ nhất thánh thi. Đoạn thơ đó nói:
Con kính lạy Đức Chúa Giêsu,
Thật ẩn trong hình bánh rượu
Lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem,
Thấy Chúa rụng rời.
Có những cố gắng thiết lập bản văn phê bình thánh thi dựa trên một số bản viết tay hiện hữu trước lúc in. Những thay đổi chúng tôi biết về bản văn thì không nhiều. Trên thực tế, thay đổi chính liên hệ đến hai câu đầu đoạn thơ này mà, theo Wilmart, bắt đầu như sau: "Adoro devote latens veritas / Te qui sub his formis vere latitas," ở đó "veritas" thay cho con người Chúa Kitô và "formis" tương đương với "figuris."
Nhưng ngoài sự kiện cách đọc này là hoàn toàn không chắc, [2] có một lý do khác thúc đẩy chúng ta giữ theo bản văn truyền thống. Thánh thi này, cũng như các thánh thi phụng vụ Latinh đáng kính khác trong quá khứ, thuộc cộng đồng các tín hữu đã hát qua bao thế kỷ, đã coi nó như của mình và gần như tái tạo nó, không thua kém gì tác giả đã soạn ra nó, nhưng thường giữ nặc danh. Bản văn bình dân không phải kém giá hơn bản văn phê phán và trên thực tế chính bản thánh thi đó tiếp tục được biết và đuợc hát trong toàn thể Giáo Hội.
Trong mỗi đoạn thơ kinh Adoro Te Devote có một khẳng định thần học và một lời kêu cầu, tức là lời đáp trả có tính cầu nguyện của linh hồn đối với mầu nhiệm. Chân lý thần học được nhắc tới trong đoạn thơ thứ nhất qui chiếu tới cách hiện diện Chúa Kitô trong những hình Thánh Thể. Kiểu nói Latin "vere latitas" đầy ý nghĩa, có nghĩa là: Người ẩn mình, nhưng thực sự Người ở đó (nơi trọng âm ở trong tiếng "vere," thực tại của sự hiện diện mà thôi) và cũng có nghĩa: Người thực sự ở đó, nhưng ẩn mình (nơi trọng âm là ở trong tiếng "latitas," trong đặc tính bí tích của sự hiện diện này.
Muôn hiểu cách nói này về Thánh Thể, cần phải ghi nhớ sự "thay đổi lớn" đuợc xác minh về Thánh Thể trong đoạn thần học biểu trưng của các Giáo phụ và trong biện chứng pháp của hệ thống triết học kinh viện.
Điều đó bắt đầu đã lâu trong thế kỷ thứ 9 với Pascasio Radberto và Ratramno thành Corbie: người thứ nhất bênh vực sự hiện diện thể lý và vật chất của Chúa Kitô trong bánh và rượu; người thứ hai bênh vực Bí Tích một sự hiện diện đúng và thật nhưng không phải thể lý; điều đó xuất hiện rõ ràng, nhưng chỉ sau này, với Berengarius thành Tours (H 1088), là người nhấn mạnh đặc tính biểu trưng và bí tích của Chúa Kitô trong Thánh Thể, đến nỗi gây hại đức tin trong thực tại khách quan của một sự hiện diện thể ấy
Vì thoạt đầu như đã được nói rằng Chúa Kitô hiên diện cách bí tích trong Thánh Thể, hay một cách mầu nhiều theo những người phương Đông, nhưng giờ đây một ngôn ngữ vay mượn từ Aristotle, có thể nói lên rằng Người hiện diện về thực chất, hay là theo thực chất. "Figura" không còn ám chỉ như bí tích, tổng thể những dấu mà sự hiện diện của Chúa Kitô được thực hiện, nhưng đơn thuần chỉ đến "species hay appearances" (các hình) của bánh và rượu, nói theo ngôn ngữ kỹ thuật những accidents.(tùy thể) [3]
Thánh thi chúng ta được đặt rõ ràng về phía được thay đổi, cho dầu nó tránh dùng những từ mới triết học, không thich hợp lắm trong văn bản thi thơ. Trong câu "quae sub his figuris vere latitas," từ "figura" chỉ hình bánh và rượu theo mức các hình đó che đậy những gì chúng chứa đựng và chứa đựng những gì chúng giấu [4]
2. Trong sự thờ lạy sốt mến
Tôi nhắc lại rằng trong mỗi đoạn thơ của thánh thi, chúng ta gặp một sự khẳng định thần học tiếp theo là một lời cầu xin qua đó người cầu nguyện đáp ứng khẳng định và chiếm đoạt chân lý được gợi lên. Dầu ẩn giấu với sự khẳng định về sự hiện diện thật của Chúa kitô trong bánh và rượu cho người cầu nguyện đáp trả bằng cách nói tan biến trong sự cầu nguyện sốt sắng và mang theo mình, trong cũng một cử dộng, vô số linh hồn mà hơn nữa ngàn năm đã cầu nguyện với những lời nguyện này.
"Adoro-Con kính lạy" :lời này, mở đầu thánh thi, tự nó là một việc xưng đức tin về căn tính giữa thân xác Thánh Thể và thân xác lịch sử của Chúa Kitô, "sinh bởi Đức Trinh Nữ Maria, và đã thật sự chịu đau khổ và đã bị hiến tế trên thánh giá vì người ta." Thực vậy chính nhờ căn tính này, và nhờ sự Ngôi hiệp trong Chúa Kitô giữa nhân tính và thần tính của Người, mà chúng ta có thể thờ lạy trước Bánh đã được truyền phép mà không phạm tội thờ ngẫu tượng. Thánh Augustinô đã nói: "Trong thịt này (Chúa) đã bước đi ở đây và cũng chính thịt này Người đã cho chúng ta ăn để được cứu rỗi, và không ai ăn thịt này mà không thờ lạy thị đó trước.. . Chúng ta không mắc tội vì thờ lạy thịt đó, nhưng đúng hơn chúng ta mắc tội nếu chúng ta không thờ lạy thịt đó." [5]
Nhưng, chính xác sự thờ phương gồm có cái gì và nó được bày tỏ cách nào? Sư thờ phượng có thể được chuẩn bị bởi sự suy tư lâu dài, nhưng nó kết thúc với một trực giác và như tất cả trực giác, nó không kéo dài. Nó như một làn chớp sáng trong đêm. Nhưng là một thứ sáng đặc biệt: không hẳn là ánh sáng chân lý, nhưng là ánh sáng của thực tại. Đó là sự nhận thức về tính cao cả, uy nghi và vẻ đẹp của Thiên Chúa, cùng với sự tốt lành và hiện diện của Người làm cho người ta ngưng thở. Đó là một sự chìm đắm trong đại dương không bờ bến và không thể dò thấu sự uy nghi Thiên Chúa.
Một hình thức thờ lạy, hiệu nghiệm hơn bất cứ lời nào, là sự thinh lặng. Việc thờ lạy theo cách diễn tả kỳ diệu của Thánh Gregory Nazianzen, có nghĩa là một "thánh thi yên lặng" dâng lên Chúa. Có một thời khi muốn đi vào một bầu khí thờ lạy trước Bí Tích Rất Thánh, tôi chỉ cần lập lại những lời đầu tiên một thánh thi của nhà huyền bí Đức là Gerhard Tersteegen, thế kỷ 17, ngày nay còn hát trong các nhà thờ Tin lành và Công Giáo tại nước Đức.
"Chúa hiện diện ở đây, chúng ta hãy đến thờ lạy Người!
Với sự tôn sùng thánh, chúng ta hãy vào trước nhan Người.
Chúa ở đây giữa chúng ta: mọi sự đều yên lặng trong chúng ta
Và hữu thể thâm sâu nhất của chúng ta sấp mình trước sự hiện diện của Người." (6)
Có lẽ vì những lời của một ngoại ngữ ít bị hao mòn hơn bởi viêc xử dụng và sự tầm thường hoá, môt sự kiện là những lời này gây cho tôi trong mọi lúc một xúc động nội tại. "Gottist gegenwartig, Chúa hiện diện,Chúa ở đây!"-- những lời sớm tan biến, duy chỉ chân lý tồn tại chân lý mà những lời đó truyền sang, là "cảm giác sống động về sự hiện diện" của Thiên Chúa.
Ý nghĩa sự thờ phương được tăng cường, trong thánh thi chúng ta, bởi ý nghĩa sự sùng kính: "Con kính lạy Đức Chúa Giêsu." Thời Trung Cổ, lời này một ý nghĩa mới trong mối quan hệ với thời cố xưa ngoại giáo và cả Kitô giáo. Lời này ngay lúc đầu, chỉ rõ sự gắn bó của một người, sự gắn bó được diễn tả trong sự phục vụ trung thành và theo tập quán Kitô hữu, trong mọi hình thức phục vụ Chúa, cách riêng việc phục vụ phung vụ của sự đọc các thánh vịnh và những kinh cầu.
Trong những tác giả thiêng liêng lớn thời Trung Cổ, lời được nội tâm hóa, không còn chỉ những thực hành bên ngoài nữa, nhưng những khuynh hướng sâu xa của tâm hồn. Đối với Thánh Bernard lời chỉ "sự sốt sắng bên trong của linh hồn được nung đốt bởi lửa yêu mến.." [7] Với Thánh Bonaventura và trường phái của ngài, con người Chúa kitô trở nên chủ đích trung tâm của sự sùng kính, được hiểu như cảm giác biết ơn và yêu mến vĩ đại do sự nhớ những ơn lành gây nên. Tiến sĩ thiên thần dành tất cả hai doạn trong sách Summa cho sự sùng kính, điều mà ngài coi là hành vi thứ nhất và quan trọng hơn hết của nhơn đức tôn giáo. [8] Đối với ngài hành vi đó gòm có sư sẵn sàng và khuynh hướng của sự muốn dâng mình cho Chúa được diễn tả trong một việc phục vụ không dè dặt và đầy sốt sắng.
Nội dung phong phú và sâu sắc vô phúc bị đánh mất tới phạm vi lớn sau này, khi quan niệm "sư sùng kính" bị đặt ngang với quan niệm "những sự sùng kính," nghĩa là của những thực hành bên ngoài và đặc biệt, không những chỉ về Chúa, mà thường hơn chỉ về các thánh hay những nơi, những mục đích và những ảnh riêng biệt. Có một sự trở lại trong thực hành về ý nghĩa xưa của từ ngữ.
Trong thánh thi chúng ta trạng tự devote giữ nguyên sức mạnh thần học và
thiêng liêng mà chính tác giả (nếu đó là Thomas Aquinas) đã góp phần tặng cho từ đó. Sự giải nghĩa tốt nhất của điều được hiểu ở đây là "sự sùng kính" nằm trong những lời sau đây, trong phần hai của đoạn thơ: "Tibi se cor meum totum subjicit" : lòng con khâm ngưỡng nhìn xem. Sự sẵn sàng toàn diện và đầy yêu thương làm theo ý muốn của Chúa.
3. Sự chầu Thánh Thể
Điều còn phải được suy nghĩ, là ngọn lửa cao nhất phát ra từ hai câu cuối cùng của đoạn thơ này: "Quia te contemplans totum deficit": Lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem thấy Chúa rụng rời. Đặc điểm của những thánh thi phụng vụ latinh đáng tôn kính, như Adoro Te Devote, Veni Creator và những thánh thi khác, đó là sự tập trung kỳ diệu của ý nghĩa trong mỗi lời. Mỗi lời tự nó "có ý nghĩa".
Muốn hiểu đầy đủ ý nghĩa của câu này, như của toàn thánh thi, cần phải lưu ý tới môi trường và bối cảnh sinh ra nó. Tôi đã nói, chúng ta đang ở phía có sự thay đổi lớn trong thần học Thánh Thể, thay đổi phát sinh do sự phản ứng với những lý thuyết của Berengarius thành Tours. Vấn đề mà suy tư Kitô hữu tập trung gần như riêng biệt, là vấn đề hiện diện thật sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể, sự hiện diện đó thỉnh thoảng vươt quá trong sự khẳng định về sự hiện diện thể lý và gần như vật chất, [9] Từ Bỉ nẩy lên làn sóng lớn sùng kính Thánh Thể đã sớm lan tràn tới toàn thể Kitô Giáo, và trong năm 1264 đưa tới việc thành lập lễ Mình Thánh Chúa do Đức Giáo Hoàng Urban IV.
Cảm giác tôn kính Thánh Thể tăng trưởng và kèm song song cũng tăng trưởng cảm giác bất xứng đối với người tín hữu tới gần Thánh Thể, cũng vì những điều kiện được đặt ra cho việc rước lễ không thể thực hiện được (ăn chay, sám hối, xưng tội, kiêng cữ những quan hệ vợ chồng). Sự rước lễ của tín hữu trở thành một biến cố họa hiếm đến nỗi Công đồng Lateran thứ Bốn trong năm 1215 phải ra luật buộc đi Rước Lễ tối thiểu trong mùa Phục Sinh. Nhưng Thánh Thể tiếp tục lôi cuốn các linh hồn quá mạnh và như sự thiếu tiếp xúc ăn uống qua sự rước lễ được bù lại bằng cách phát triển sự tiếp xúc khả kiến của sự chiêm ngắm. (Chúng tôi ghi nhận rằng trong phương Đông, vì cũng những lý do tương tự, giáo dân cũng bị từ chối sự tiếp xúc hữu hình, bởi vì nghi thức trung tâm Thánh Lễ diễn tiến sau một bức màn mà sau này trở thành bức tường của sự đả phá ảnh tượng.)
Việc dâng cao bánh thánh và chén lễ lúc truyền phép, trước kia chưa được biết (chứng từ viết cho biết cử chỉ này được thiết lập năm 1196), đã trở thành cho nguời giáo dân thời điểm quan trọng nhất của Thánh Lễ, lúc đó những cảm giác sùng kính của họ tuôn ra và họ hy vọng nhận lãnh những ân sủng. Lúc đó rung chuông để thông báo cho những người vắng mặt, và có người chạy từ Thánh Lễ này đến Thánh Lễ khác để tham dự lúc truyền phép. Nhiều thánh thi ThánhThể, trong số đó có Ave verum, được sáng tác để kèm theo thởi điểm này; đó là những thánh thi dành cho việc dâng cao Mình Thánh Chúa. Adoro Te Devote cũng thuộc vào số thánh thi này. Từ đầu cho chí cuối, ngôn ngữ của nó là ngôn ngữ của sự thấy, sự chiêm ngắm: "te contemplans, non intueor, nunc aspicio, visu sim beatus- chiêm ngưỡng Chúa, con không nhìn xem, bây giờ xem thấy, con ước hưởng hạnh phúc."
Chúng ta không còn có cùng một ý niệm về thánh Thể bởi đã lâu sự rước lễ đã trở thành một phần nguyên vẹn cho việc tham dự Thánh Lễ, những hoàn thành về thần học (phong trào kinh thánh, phung vụ, đại kết) cùng xuất hiện hoàntoàn trong Công Đồng Vatican Hai và cùng với đức tin trong sư hiện diện thật, cải tổ phung vụ đã có giá trị lại đến những phương diện khác của Thánh Thể là bữa tiệc, hy lễ, sự kính nhớ, chiều kích cộng đồng và giáo hôi.
Có thể nghĩ rằng trong bầu khí mới này không còn chỗ cho Adoro te Devote và cho những thực hành Thánh Thể phát sinh trong thời buổi này. Ngược lại ngay bây giờ những thực hành đó vẫn hữu ích và cần thiết cho chúng ta, nên không để mất, vì những thực hiện ngày nay là những thực hiện của hôm qua. Chúng ta không thể hạn chế Thánh Thể duy chỉ vào sự chiêm ngắm sự hiện diện thật trong Bánh Thánh đã truyền phép, nhưng cũng là một mất mát nghiêm trọng nếu để mất sự chiêm ngắm đó.
Đức Giáo Hoàng không ngừng khuyên nhủ điều đó từ thư thứ nhất của ngài Mầu Nhiệm và Phụng Tự Bí Tích Thánh Thể được công bố ngày Thứ Năm Tuần Thánh trong năm 1980: "Sự thờ lạy Chúa Kitô trong bí tích tình yêu này phải gặp được diễn tả trong những hình thức khác nhau của sự sùng kính Thánh Thể: cầu nguyện riêng trước Bí Tích Chí Thánh, những giờ chầu, đặt Mình Thánh Chúa ngắn hạn, dài hạn, hằng năm.. . Chúa Giêsu chờ đợi chúng ta trong bí tích tình yêu này. Chúng ta đừng để mất một giờ nào để đi tìm Người, lòng đầy đức tin, trong sự thờ lạy và chiêm ngắm."
Những anh em Chính thống giáo của chúng ta không chia sẻ phương diện sùng kính Công giáo này, một số trong họ ghi nhận cách tử tế rằng bánh được làm ra để ăn, chớ không để xem. Những người khác, trong số cũng có người Công giáo, nhận xét rằng việc thực hành đó được phát triển chính lúc đời sống phụng vụ và bí tích bị lu mờ trầm trọng.
Nhưng không có những giải thích thần học hay lý thuyết ủng hộ tính tuyệt hảo của sự chiêm ngắm Thánh Thể, nhưng có chứng minh ấn tượng của những sự kiện, nói một cách nôm na là "một đám mây chứng minh." Một chứng minh mới là chứng minh của Charles de Foucauld, Cha lấy việc chầu Thánh Thể làm một trong những linh đạo mạnh mẽ của cha và của các đồ đệ của ngài. Vô số linh hồn đạt tới sự thánh thiện bằng cách thực hành linh đạo đó và đã chứng tỏ sự đóng góp quyết định do linh đạo đó mang lại cho kinh nghiệm huyền bí. [10] Thánh Thể, trong và ngoài Thánh Lễ, đối với Giáo Hội Công Giáo là điều mà lò sưởi ấm gia đình đã và còn là trong gia đình vào mùa đông: một nơi mà xung quanh đó gia đình tái khám phá sự hiệp nhất và sự thân mật của mình, là trung tâm thật sư của mọi sự.
Điều này không có nghĩa là cũng không có những lý lẽ thần học làm nền tảng cho sự chiêm ngắm Thánh Thể. Lý lẽ thứ nhất đến từ lời của Chúa Kitô: "Anh em hãy làm sự này mà nhớ đến Thầy." Trong ý niệm của sự kính nhớ có một sự kính nhớ khách quan và bí tích, hệ tại sự lập lại nghi thức Chúa Kitô đã hoàn thành, nghi thức đó nhắc nhớ và hiện diện hóa hy lễ của Người. Nhưng cũng có một phương diện chủ quan và hiện sinh, hệ tại sự trau dồi ký ức về Chúa Kitô, "trong sự luôn có trong tư tưởng những ý nghĩ liên quan tới Chúa Kitô và tình yêu của Người." [11] "Ký ức ngọt ngào về Chúa Giêsu" {Jesu dulcis memoria"} không hạn chế theo thời gian người ta ở trước nhà tạm, điều đó có thể được trau dồi với những phương tiện khác, như nhìn xem các ảnh tượng, nhưng thật sự việc thờ lạy trước Bí Tích Chí Thánh là một phương thế ưu tiên.
Hai phương diện của sự nhớ --cử hành và chiêm ngắm Thánh Thể không loại trừ nhau, nhưng hội nhập với nhau. Trên thực tế, sự chiêm ngắm là phương tiện nhờ đó chúng ta "nhận lãnh," theo nghĩa mạnh, các mầu nhiệm, qua đó chúng ta nội tâm hóa các mầu nhiệm và mở lòng chúng ta cho hành động của những mầu nhiệm đó; đó là sự tương đương của những mầu nhiệm trên bình diện hiện sinh và chủ quan; đó là một cách thức để cho ân sủng, nhận lãnh trong các bí tích, uốn nắn thế giới nội tại chúng ta, nghĩa là những tư tưởng, những tình yêu, ý chí, ký ức.
Có một mối quan hệ lớn giữa Thánh Thể và mầu nhiệm Nhập Thể. Trong mầu nhiệm Nhập Thể, thánh Augustinô nói, "Đức Maria đã mang thai Ngôi Lời trước hết với lòng trí hơn là với thân xác của ngài" ["Prius concepit mente quam corpore"). Thánh nhân nói thêm, trên thực tế, việc mang Chúa Kitô trong lòng thì không có giá trị gì đối với ngài, nếu ngài đã không mang Người với tình yêu trong con tim ngài [12] Người Kitô hữu cũng phải nhận lãnh Chúa Kitô trong lòng trí mình, trước khi nhận lãnh và sau khi nhận lãnh Người trong thân xác mình. Và nhận lãnh Chúa Kitô trong lòng trí có nghĩa là, cách cụ thể, nghĩ đến Người, nhìn đến Người, nhớ đến Người, chiêm ngắm dấu hiệu chính Nguời đã chọn để ở giữa chúng ta.
4. Quên tất cả mọi sự
"Te contemplans -Thánh thi nói lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem Chúa. Đại danh từ "you" (Chúa) bao gồm cái gì? Chắc là bao hàm Chúa Kitô hiện diện trong Bánh thánh, nhưng không phải một sự hiện diện tĩnh và bất động, sự hiện diện này chỉ toàn diện mầu nhiệm Chúa Kitô, bản thân và công trình của Người; đó là yên lặng nghe lại Tin Mừng hay là một câu trong sự hiện diện của chính tác giả Tin Mừng, đấng ban cho Lời một sức mạnh và sự gần gũi đặc biệt.
Nhưng điều đó chưa phải là chóp đỉnh sự chiêm ngắm. Các vị giáo huấn tinh thần vĩ đại định nghĩa sự chiêm ngắm như: "Một cái nhìn thấu suốt và bất động" (Hugh of Saint Victor), hay là "Một cái nhìn yêu thương ngắm nhìn lên Thiên Chúa" ( St Bonaventure). Bấy giờ dấn thân trong sự chiêm ngắm Thánh Thể một cách cụ thể có nghĩa là thiết lập một sự tiếp xúc gần gũi với Chúa Giêsu hiện diện thật sự trong Bánh Thánh và nhờ Người,được nâng lên tới Chúa Cha trong Chúa Thánh Thần. Trong sự suy gẫm, chú trọng tới sự tìm chân lý, ngược lại trong sự chiêm ngắm đó là sự hưởng thụ Chân Lý đã tìm được. Sự chiêm ngắm luôn hướng về con người, về sự toàn vẹn chớ không về những thành phần. Sự chiêm ngắm Thánh Thể là nhìn xem Đấng đang nhìn tôi.
Giai đoạn chiêm ngắm là giai đoạn được diễn tả bởi tác giả thánh thi Adoro Te Devote khi ngài khẳng định: "te contemplans totum deficit--lòng con chiêm ngưỡng nhìn xem thấy Chúa rụng rời." Đó là những lời chắc chắn phát sinh từ kinh nghiệm. "Mọi sự đều rụng rời," nghĩa là cái gì rụng rời? Không những thế giới bên ngoài, những người, những sự, mà còn cả thế giới bên trong bao gồm những tư tưởng, hình ảnh, phiền muộn. "Sự quên mọi sự ngoài Chúa," Pascal đã viết khi diễn tả một kinh nghiệm tương tự. Và thánh Phanxico thành Assisi đã khuyên bảo anh em ngài: "Có thể là một sự khốn khổ lớn, và là một sự dữ thảm khốc nếu có Người hiện diện mà anh em chăm chú tới một việc gì khác trong toàn thể vũ trụ!" [13].
Xung quanh cũng một niên hiệu mà thánh thi được sáng tác, tức là cuối thế kỷ 13, Roger Bacon, một người hết sức yêu mến Thánh Thể, đã viết những lời này, những lời xem ra như một sự chú giải đoạn thơ thứ nhất thánh thi Adoro Te Devote và như một khẳng định về kinh nghiệm chói sáng qua đó: "Nếu sự uy nghi Thiên Chúa tự tỏ mình cách hữu hình, chúng ta không sức chịu đựng và chúng ta sẽ rụng rời {'deficeremus!' hoàn toàn trong sự cung kính, sốt sắng và kinh ngạc.. . Kinh nghiệm chứng minh điều đó. Những người tập mình sống đức tin và tình yêu bí tích này không chịu nổi sự sốt sắng phát sinh từ một đức tin thuần tinh ròng, mà lại không chảy nước mắt đằm đìa và xuất hồn, vì hồn xuất khỏi mình, hoà với bởi sự dịu ngọt của lòng sốt sắng, đến độ không còn biết mình đang ở đâu hay tại sao ở đây."
[14].
Sự chiêm ngắm Thánh Thể thì hoàn toàn khác với việc đắm mình trong tĩnh mịch. Người ta đã ghi nhận rằng con người phản ảnh trong chính mình , thỉnh thoảng cách thể lý, điều họ chiêm ngắm. Người ta không phơi nắng lâu mà không thấy những vết trên mặt mình. Ở lâu và với đức tin, không cần với sự sốt sắng bên ngoài, trước Bí Tích Chí Thánh, thì chúng ta hấp thụ những tư tưởng và những cảm giác của Chúa Kitô, không phải một cách mạch lạc nhưng trực giác, gần như "ex opere operto-hiệu quả do sự."
Điều xảy ra như trong quá trình sự quang hợp (photosynthesis) của cây cối. Trong mùa xuân, lá xanh xuất hiện trên cành; chúng hút từ khí quyển một số yếu tố mà dưới tác động ánh sáng mặt trời, được "giữ lại" và chuyển thành thức ăn cho cây. Chúng ta phải giống những lá xanh này! Chúng là sự biểu trưng của những linh hồn Thánh Thể, khi chiêm ngắm "mặt trời công chính" là Chúa Kitô, những linh hồn đó "bám vào" chất dinh dưỡng là chính Chúa thánh Thần, vì lợi ích của toàn cây lớn tức là Giáo Hội. Nói cách khác, đó là điều mà Thánh Phaolô nói: "Tất cả chúng ta, mặt không che màn, chúng ta phản chiếu vinh quang của Chúa như một bức gương; như vậy chúng ta được biến đổi nên giống cùng một hình ảnh đó, ngày càng trở nên rực rỡ hơn, như do bởi tác động của Chúa là Thần Khí" (2 Cor 3:18).
Nhưng nếu bây giờ, từ những tia sáng này mà tác giả thánh thi đã làm cho chúng ta thấy, chúng ta quay về trong trí khôn tới thực tại của chúng ta và tới thế giới nghèo nàn của chúng ta sau khi hiện diện trước Thánh thể, chúng ta có nguy cơ chán nản và ngã lòng. Điều đó cũng hoàn toàn sai. Đó đã là một sự khích lệ và một điều an ủi vì biết rằng những kinh nghiệm này có thể xảy ra; vì biết rằng điều chúng ta có lẽ đã kinh nghiệm trong những lúc sốt sắng trong đời chúng ta và đã mất, có thể được đốt sáng lại, cũng nhờ Năm thánh Thể, năm được ban cho chúng ta để sống.
Điều duy nhất Chúa Thánh Thần xin chúng ta là chúng ta dành cho Người thời gian của chúng ta, dầu lúc đầu xem ra đó là thời gian đã mất. Tôi sẽ không bao giờ quên bài học mà một ngày kia đã ban cho tôi về phương diện này. Tôi đã thưa với Chúa: "Lạy Chúa, xin ban cho con lòng sốt sắng và con sẽ cho Chúa tất cả thời gian Chúa muốn trong sự cầu nguyện." Tôi cảm thấy câu trả lời trong lòng tôi: "Raniero, con hãy cho Cha thời giờ của con và Cha sẽ ban cho con tất cả sự sốt sắng con muốn trong khi cầu nguyện." Tôi nhắc lại điều này, trong trường hợp mà nó có thể giúp một người nào đó bên cạnh tôi.
--- --- ---
[1] Encyclical "Ecclesia de Eucharistia," 6.
[2] The expression "latens veritas" is found in Isidore of Seville, Sent. III, col. 688, l. 22, but it is not referred to Christ. In favor of "latens Deitas" is the parallel with "latens humanitas" of the third stanza and also the possible allusion to Isaiah 45:15: "vere tu es Deus absconditus."
[3] Cfr. de Lubac, op. cit., p. 287.
[4] Cfr. St. Thomas Aquinas, "Commento al vangelo di Giovanni," VI, lez. 6, n. 954: "The manna only prefigured, while this bread contains what it represents" ("continet quod figurat").
[5] St. Augustine, In Ps. 98,9 (PL 37, 1264).
[6] G. Tersteegen, Geistliches Blumengrtlein 11, Stuttgart 1969, p.340 s.:
"Gott ist gegenwrtig; laßet uns anbeten,
Und in Ehrfurcht vor ihn treten!
Gott ist in der Mitte; alles in uns schweige
Und sich innigst vor ihm beuge!"
[7] Cfr. J. Charillon, art. Devotio, in Dict. Spir. 3, col. 715.
[8] St. Thomas, S. Th. II, IIae, q.82 a.1-2, cf. J.W. Curran, art. "Dvotion, Fondement thologique," in Dict. Spir. III, coll. 716 ss.
[9] The first formula of faith articulated to support Berengarius asserted that, in Communion, the body and blood of Christ were present on the altar "sensibly and were really touched, and broken by the hands of the priest and chewed by the teeth of the faithful": Denzinger, Enchiridion symbolorum, 690. St. Thomas Aquinas corrects this affirmation, saying that the body of Christ "is not broken, shattered or divided by the one who receives it": cfr. S. Th. III, q. LXXVII, a.7.
[10] Cfr. E. Longpr, "Eucharistie et exprience mystique," in Dict. Spir. IV, coll. 1586-
1621.
[11] N. Cabasilas, "Vita in Cristo," VI,4 (PG 150,653)
[12] Cf. Augustine, "Sulla santa verginit," 3 (PL 40, 398).
[13] St. Francis, "Lettera a tutti I frati," 2 (FF 220)
[14] Roger Bacon, "De sacramento altaris, in Moralis philosophia," ed. E. Massa, Zurich 1953, pp. 231 s.