Vai trò thiết yếu của gia đình
Các tranh luận công khai về tư thế của gia đình và hôn nhân tiếp tục được nhiều người tham gia như thế nào, thì các phí tổn xã hội do việc tan vỡ hôn nhân cũng thế.
Nhật báo Người Quan Sát (Observer) ngày 25 tháng 1, 2009 tường trình rằng: một cuộc nghiên cứu mới đây tại Anh cho hay ly dị đem lại lợi ích kinh tế nhiều hơn cho người đàn ông và mang lại thiệt hại nhiều hơn cho người đàn bà. Cuộc nghiên cứu này được thực hiện bởi Stephen Jenkins, một trong các giám đốc tại Viện Nghiên Cứu Xã Hội và Kinh Tế (Institute for Social and Economic Research) và là chủ tịch Hội Đồng Các Hiệp Hội Quốc Tế Nghiên Cứu về Lợi Tức và Thịnh Vượng. Theo Jenkins, khi một cuộc hôn nhân tan vỡ, lợi tức để ra của người cha gia tăng khoảng một phần ba. Ngược lại, và bất kể có con hay không, lợi tức trung bình sau khi ly dị của người đàn bà giảm tới một phần năm và còn bị ảnh hưởng tai hại nhiều năm sau.
Theo tường trình của tờ Người Quan Sát, cuộc thăm dò của Jenkins là cuộc nghiên cứu đầu tiên có tính dài hạn về lợi tức và hôn nhân tan vỡ. Jenkins nhận thấy tỷ lệ nghèo khó nơi những người đàn bà ly dị là 27%, gần như ba lần cao hơn so với người phối ngẫu trước đây của họ.
Thiệt hại về kinh tế không phải là thất lợi duy nhất có liên hệ tới ly dị. Tờ Sydney Morning Herald ngày 10 tháng Bẩy tường trình rằng một cuộc nghiên cứu tại Úc Đại Lợi, công bố vào năm ngoái, cho thấy tác động về xúc cảm và xã hội do ly dị đem lại khiến người ta còn cảm thấy nó cả hàng thập kỷ sau đó. Một nhóm nghiên cứu do David de Vaus, thuộc trường đại học La Trobe ở Melbourne, đứng đầu, đã trình bày các kết luận của họ tại một hội nghị do Viện Nghiên Cứu Gia Đình Úc (Australian Institute of Family Studies) tổ chức. Nhóm này so sánh sinh phúc (well-being) của khoảng 2,200 người Úc tuổi từ 55 tới 74. Những người ly dị không những bị khủng hoảng trong các năm đầu sau khi hôn nhân tan vỡ, mà họ còn có nguy cơ dễ cảm thấy thiếu một ai đó để tâm sự và thấy mình kém thoải mái với gia đình và sức khoẻ.
Chủ yếu
Đức Bênêđíctô XVI gần đây khẳng định tầm quan trọng của gia đình đối với xã hội trong sứ điệp gửi cho các người tham dự đọc kinh mân côi tại cuộc gặp gỡ nhân Ngày Thế Giới Các Gia Đình lần thứ sáu tổ chức tại Mexico City.
Trong sứ điệp phát hình ngày 17 tháng 1, Đức Giáo Hoàng cho hay: gia đình là “tế bào chủ yếu của xã hội”. Ngài giải thích: “Vì vai trò chủ yếu của mình trong xã hội, gia đình có quyền đòi cho bản sắc riêng của mình được thừa nhận, chứ không bị lẫn lộn với các hình thức sống chung khác”.
Thành thử ra, Đức Bênêđíctô XVI yêu cầu rằng gia đình đặt căn bản trên một người đàn ông và một người đàn bà phải nhận được đủ mức hỗ trợ về luật lệ, tài chánh và xã hội. Tầm quan trọng về xã hội của đời sống gia đình không phải chỉ là điều được Giáo Hội khẳng định mà thôi. Jennifer Roback Morse, cựu chuyên viên nghiên cứu tại Viện Hoover của Đại Học Stanford và hiện là chuyên viên nghiên cứu tại Viện Acton Chuyên Nghiên Cứu Tôn Giáo và Tự Do, mới đây đã cho ấn hành ấn bản thứ hai cuốn “Tình Yêu và Khoa Kinh Tế Học” (Love and Economics) do nhà Ruth Institute Books in. Một trong các phần của Sách được đặt tựa là “Tại Sao Không Có Gì Thay Thế Được Gia Đình?” (Why There is No Substitute for the Family). Gia đình không thể thay thế được không những theo nghĩa cha mẹ đứa trẻ phải đóng một vai trò độc đáo trong đời em, mà còn vì chính định chế gia đình cũng không có gì thay thế được.
Morse quả quyết rằng vai trò hàng đầu của gia đình có tính tương quan. Rõ ràng có những gia đình thể hiện trách vụ đó tốt hơn các gia đình khác, nhưng không một định chế nào khác có thể thể hiện trách vụ ấy tốt hơn gia đình.
Không phải là nhiệm ý
Theo Morse, ta không nên dựa vào sự kiện có những gia đình thất bại mà vội kết luận rằng định chế gia đình chỉ có tính nhiệm ý (optional). Morse quả quyết rằng “Nếu ta có thể duy trì gia đình ở bình diện cá thể và bản thân, ta chả cần gì tới các kế sách vĩ đại nhằm thay thế nó ở bình diện xã hội”. Cô tóm lược các khám phá của nhiều cuộc nghiên cứu nhằm cung cấp tài liệu chứng tỏ các hậu quả tai hại đối với các trẻ em được nuôi dưỡng trong các gia đình chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ: nào là nghèo đói, nào là học hành kém và có nhiều vấn đề thuộc tác phong.
Morse cho rằng: trách vụ nuôi dưỡng con cái quá nặng nề đối với một người làm cha hoặc mẹ đơn lẻ. Đàng khác, các hình thức như sống chung hay cha ghẻ cũng không thể đem lại được cùng một phúc lợi như đối với một gia đình có cả hai cha mẹ máu mủ.
Theo Morse, vai trò của người cha không phải chỉ có tính cách kinh tế mà thôi. Sự đóng góp của ông vào việc phát triển tinh thần của con cái là điều phần đông đã bị xã hội không đếm xỉa tới. Cô bảo: “Vấn đề thực sự không phải là liệu người đàn ông và người đàn bà có khác nhau hay không nhưng là làm thế nào để sự khác nhau kia giúp mỗi người đóng gópđiều gì đó thật độc đáo vào việc phát triển tinh thần của con cái”.
Nhận định về các thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng trong qui phạm luân lý và tập quán tính dục của mấy thập niên qua, Morse nhận định rằng các thay đổi ồ ạt trong các thập niên 60 và 70 hứa hẹn sẽ đem lại hạnh phúc và thoả mãn trong tự do không hạn chế. Bây giờ kinh nghiệm nhìn lại, ta có thể kết luận rằng khả năng biết duy trì các cam kết mới là hồng phúc đem lại hạnh phúc và thoả mãn sâu xa. Cô kết luận: “Giờ đây, phần đông người trưởng thành sẵn sàng học tập lại bất cứ điều gì họ có thể học tập được về cuộc hôn nhân lâu dài, vì ích lợi bản thân và vì ích lợi của con cái họ nữa”. Theo Morse, tự do bao giờ cũng có giới hạn. Mọi thế hệ đều không được tự ý định nghĩa lại gia đình và các trói buộc của nó. Morse cho rằng ta không thể miễn chước được một số nhân đức và trói buộc.
Nền tảng
Một quan điểm như thế cũng đã được phát biểu bởi Đức Hồng Y Seán Brady, tổng giám mục Armagh và là giáo chủ của toàn thể Ái Nhĩ Lan, trong một bài diễn văn vào năm ngoái tại Hội Nghị Céifin ngày 4 tháng Mười Một. Chủ đề của bài diễn văn là: “Gia đình là nền tảng của xã hội”.
Theo Đức HY, gia đình xây dựng trên hôn nhân quả là nền tảng của xã hội. Chân lý đó do chính Thiên Chúa mạc khải trong Thánh Kinh, nhưng nó cũng là một trong những giá trị nhân bản quí giá nhất. Sinh phúc của hôn nhân và gia đình, do đó, là quan tâm công cộng và có tính hết sức nền tảng đối với ích chung. Nhà nước, vì thế, phải xem sét và chăm sóc hai định chế ấy một cách đặc biệt.
Đức HY giải thích thêm: “các mối liên hệ khác, dù có tính tính dục hay không, thẩy đều là hậu quả của quan tâm riêng. Chúng không có cùng một liên hệ nền tảng với lợi ích của xã hội và với việc dưỡng dục con cái như gia đình dựa trên hôn nhân”.
Khi yêu cầu cho gia đình dựa trên hôn nhân được nhà nước hỗ trợ, Đức HY muốn minh định rằng ý của ngài không phải là trừng phạt những người quyết định chọn sống các loại liên hệ khác. “Chúng tôi chỉ muốn duy trì nguyên tắc này là gia đình, đặt căn bản trên hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà, có liên hệ mật thiết với lợi ích của xã hội đến nỗi nó đáng được chăm sóc và bảo vệ cách đặc biệt”.
Cam kết
Đức Hồng Y Brady cũng nhấn mạnh rằng: “Mối nối kết giữa cam kết công khai đối với cuộc hôn nhân kéo dài suốt đời, và sự vững ổn của đơn vị gia đình, cũng như vai trò khác biệt của người và và của người mẹ trong việc sinh sản và giáo dục con cái, mang lại cho hôn nhân một mối liên hệ độc đáo và khác biệt về phẩm tính với xã hội hơn là bất cứ hình thức liên hệ nào”.
Đức Bênêđíctô XVI, trong sứ điệp nhân thánh lễ ngày 18 tháng 1 kết thúc Cuộc Gặp Mặt Thế Giới Các Gia Đình, đã quả quyết rằng gia đình là nền tảng không thể thiếu được của xã hội. Ngài giải thích: “Chúng ta đã tiếp nhận sự sống từ người khác, sự sống ấy đã được phát triển và trưởng thành nhờ các chân lý và giá trị học được trong mối tương quan và hiệp thông với người khác… Chính trong gia đình người ta học để sống thực, biết quí trọng sự sống và sức khỏe, tự do và hòa bình, công lý và sự thật, việc làm, hòa hợp và kính trọng”. Đó là một chân lý đúng cho mọi nền văn hóa và xã hội.
Theo Cha John Flynn LC, Zenit 8 tháng 2 năm 2009
Các tranh luận công khai về tư thế của gia đình và hôn nhân tiếp tục được nhiều người tham gia như thế nào, thì các phí tổn xã hội do việc tan vỡ hôn nhân cũng thế.
Nhật báo Người Quan Sát (Observer) ngày 25 tháng 1, 2009 tường trình rằng: một cuộc nghiên cứu mới đây tại Anh cho hay ly dị đem lại lợi ích kinh tế nhiều hơn cho người đàn ông và mang lại thiệt hại nhiều hơn cho người đàn bà. Cuộc nghiên cứu này được thực hiện bởi Stephen Jenkins, một trong các giám đốc tại Viện Nghiên Cứu Xã Hội và Kinh Tế (Institute for Social and Economic Research) và là chủ tịch Hội Đồng Các Hiệp Hội Quốc Tế Nghiên Cứu về Lợi Tức và Thịnh Vượng. Theo Jenkins, khi một cuộc hôn nhân tan vỡ, lợi tức để ra của người cha gia tăng khoảng một phần ba. Ngược lại, và bất kể có con hay không, lợi tức trung bình sau khi ly dị của người đàn bà giảm tới một phần năm và còn bị ảnh hưởng tai hại nhiều năm sau.
Theo tường trình của tờ Người Quan Sát, cuộc thăm dò của Jenkins là cuộc nghiên cứu đầu tiên có tính dài hạn về lợi tức và hôn nhân tan vỡ. Jenkins nhận thấy tỷ lệ nghèo khó nơi những người đàn bà ly dị là 27%, gần như ba lần cao hơn so với người phối ngẫu trước đây của họ.
Thiệt hại về kinh tế không phải là thất lợi duy nhất có liên hệ tới ly dị. Tờ Sydney Morning Herald ngày 10 tháng Bẩy tường trình rằng một cuộc nghiên cứu tại Úc Đại Lợi, công bố vào năm ngoái, cho thấy tác động về xúc cảm và xã hội do ly dị đem lại khiến người ta còn cảm thấy nó cả hàng thập kỷ sau đó. Một nhóm nghiên cứu do David de Vaus, thuộc trường đại học La Trobe ở Melbourne, đứng đầu, đã trình bày các kết luận của họ tại một hội nghị do Viện Nghiên Cứu Gia Đình Úc (Australian Institute of Family Studies) tổ chức. Nhóm này so sánh sinh phúc (well-being) của khoảng 2,200 người Úc tuổi từ 55 tới 74. Những người ly dị không những bị khủng hoảng trong các năm đầu sau khi hôn nhân tan vỡ, mà họ còn có nguy cơ dễ cảm thấy thiếu một ai đó để tâm sự và thấy mình kém thoải mái với gia đình và sức khoẻ.
Chủ yếu
Đức Bênêđíctô XVI gần đây khẳng định tầm quan trọng của gia đình đối với xã hội trong sứ điệp gửi cho các người tham dự đọc kinh mân côi tại cuộc gặp gỡ nhân Ngày Thế Giới Các Gia Đình lần thứ sáu tổ chức tại Mexico City.
Trong sứ điệp phát hình ngày 17 tháng 1, Đức Giáo Hoàng cho hay: gia đình là “tế bào chủ yếu của xã hội”. Ngài giải thích: “Vì vai trò chủ yếu của mình trong xã hội, gia đình có quyền đòi cho bản sắc riêng của mình được thừa nhận, chứ không bị lẫn lộn với các hình thức sống chung khác”.
Thành thử ra, Đức Bênêđíctô XVI yêu cầu rằng gia đình đặt căn bản trên một người đàn ông và một người đàn bà phải nhận được đủ mức hỗ trợ về luật lệ, tài chánh và xã hội. Tầm quan trọng về xã hội của đời sống gia đình không phải chỉ là điều được Giáo Hội khẳng định mà thôi. Jennifer Roback Morse, cựu chuyên viên nghiên cứu tại Viện Hoover của Đại Học Stanford và hiện là chuyên viên nghiên cứu tại Viện Acton Chuyên Nghiên Cứu Tôn Giáo và Tự Do, mới đây đã cho ấn hành ấn bản thứ hai cuốn “Tình Yêu và Khoa Kinh Tế Học” (Love and Economics) do nhà Ruth Institute Books in. Một trong các phần của Sách được đặt tựa là “Tại Sao Không Có Gì Thay Thế Được Gia Đình?” (Why There is No Substitute for the Family). Gia đình không thể thay thế được không những theo nghĩa cha mẹ đứa trẻ phải đóng một vai trò độc đáo trong đời em, mà còn vì chính định chế gia đình cũng không có gì thay thế được.
Morse quả quyết rằng vai trò hàng đầu của gia đình có tính tương quan. Rõ ràng có những gia đình thể hiện trách vụ đó tốt hơn các gia đình khác, nhưng không một định chế nào khác có thể thể hiện trách vụ ấy tốt hơn gia đình.
Không phải là nhiệm ý
Theo Morse, ta không nên dựa vào sự kiện có những gia đình thất bại mà vội kết luận rằng định chế gia đình chỉ có tính nhiệm ý (optional). Morse quả quyết rằng “Nếu ta có thể duy trì gia đình ở bình diện cá thể và bản thân, ta chả cần gì tới các kế sách vĩ đại nhằm thay thế nó ở bình diện xã hội”. Cô tóm lược các khám phá của nhiều cuộc nghiên cứu nhằm cung cấp tài liệu chứng tỏ các hậu quả tai hại đối với các trẻ em được nuôi dưỡng trong các gia đình chỉ có cha hoặc chỉ có mẹ: nào là nghèo đói, nào là học hành kém và có nhiều vấn đề thuộc tác phong.
Morse cho rằng: trách vụ nuôi dưỡng con cái quá nặng nề đối với một người làm cha hoặc mẹ đơn lẻ. Đàng khác, các hình thức như sống chung hay cha ghẻ cũng không thể đem lại được cùng một phúc lợi như đối với một gia đình có cả hai cha mẹ máu mủ.
Theo Morse, vai trò của người cha không phải chỉ có tính cách kinh tế mà thôi. Sự đóng góp của ông vào việc phát triển tinh thần của con cái là điều phần đông đã bị xã hội không đếm xỉa tới. Cô bảo: “Vấn đề thực sự không phải là liệu người đàn ông và người đàn bà có khác nhau hay không nhưng là làm thế nào để sự khác nhau kia giúp mỗi người đóng gópđiều gì đó thật độc đáo vào việc phát triển tinh thần của con cái”.
Nhận định về các thay đổi có ảnh hưởng sâu rộng trong qui phạm luân lý và tập quán tính dục của mấy thập niên qua, Morse nhận định rằng các thay đổi ồ ạt trong các thập niên 60 và 70 hứa hẹn sẽ đem lại hạnh phúc và thoả mãn trong tự do không hạn chế. Bây giờ kinh nghiệm nhìn lại, ta có thể kết luận rằng khả năng biết duy trì các cam kết mới là hồng phúc đem lại hạnh phúc và thoả mãn sâu xa. Cô kết luận: “Giờ đây, phần đông người trưởng thành sẵn sàng học tập lại bất cứ điều gì họ có thể học tập được về cuộc hôn nhân lâu dài, vì ích lợi bản thân và vì ích lợi của con cái họ nữa”. Theo Morse, tự do bao giờ cũng có giới hạn. Mọi thế hệ đều không được tự ý định nghĩa lại gia đình và các trói buộc của nó. Morse cho rằng ta không thể miễn chước được một số nhân đức và trói buộc.
Nền tảng
Một quan điểm như thế cũng đã được phát biểu bởi Đức Hồng Y Seán Brady, tổng giám mục Armagh và là giáo chủ của toàn thể Ái Nhĩ Lan, trong một bài diễn văn vào năm ngoái tại Hội Nghị Céifin ngày 4 tháng Mười Một. Chủ đề của bài diễn văn là: “Gia đình là nền tảng của xã hội”.
Theo Đức HY, gia đình xây dựng trên hôn nhân quả là nền tảng của xã hội. Chân lý đó do chính Thiên Chúa mạc khải trong Thánh Kinh, nhưng nó cũng là một trong những giá trị nhân bản quí giá nhất. Sinh phúc của hôn nhân và gia đình, do đó, là quan tâm công cộng và có tính hết sức nền tảng đối với ích chung. Nhà nước, vì thế, phải xem sét và chăm sóc hai định chế ấy một cách đặc biệt.
Đức HY giải thích thêm: “các mối liên hệ khác, dù có tính tính dục hay không, thẩy đều là hậu quả của quan tâm riêng. Chúng không có cùng một liên hệ nền tảng với lợi ích của xã hội và với việc dưỡng dục con cái như gia đình dựa trên hôn nhân”.
Khi yêu cầu cho gia đình dựa trên hôn nhân được nhà nước hỗ trợ, Đức HY muốn minh định rằng ý của ngài không phải là trừng phạt những người quyết định chọn sống các loại liên hệ khác. “Chúng tôi chỉ muốn duy trì nguyên tắc này là gia đình, đặt căn bản trên hôn nhân giữa một người đàn ông và một người đàn bà, có liên hệ mật thiết với lợi ích của xã hội đến nỗi nó đáng được chăm sóc và bảo vệ cách đặc biệt”.
Cam kết
Đức Hồng Y Brady cũng nhấn mạnh rằng: “Mối nối kết giữa cam kết công khai đối với cuộc hôn nhân kéo dài suốt đời, và sự vững ổn của đơn vị gia đình, cũng như vai trò khác biệt của người và và của người mẹ trong việc sinh sản và giáo dục con cái, mang lại cho hôn nhân một mối liên hệ độc đáo và khác biệt về phẩm tính với xã hội hơn là bất cứ hình thức liên hệ nào”.
Đức Bênêđíctô XVI, trong sứ điệp nhân thánh lễ ngày 18 tháng 1 kết thúc Cuộc Gặp Mặt Thế Giới Các Gia Đình, đã quả quyết rằng gia đình là nền tảng không thể thiếu được của xã hội. Ngài giải thích: “Chúng ta đã tiếp nhận sự sống từ người khác, sự sống ấy đã được phát triển và trưởng thành nhờ các chân lý và giá trị học được trong mối tương quan và hiệp thông với người khác… Chính trong gia đình người ta học để sống thực, biết quí trọng sự sống và sức khỏe, tự do và hòa bình, công lý và sự thật, việc làm, hòa hợp và kính trọng”. Đó là một chân lý đúng cho mọi nền văn hóa và xã hội.
Theo Cha John Flynn LC, Zenit 8 tháng 2 năm 2009