ST. PAUL, Minnesota, -- Một giáo sư giảng dạy hàng đầu và quản trị viên của trường Đại Học Giáo Hoàng nói rằng, “Tôi rất lấy làm hài lòng về những gì tôi thấy tại các trường Đại Học Công Giáo ở Hoa Kỳ.”
Đức Ông Livio Melina, Phó Chủ Tịch và Giáo Sư bộ môn Thần Học Luân Lý tại Học Viện Gioan Phaolô Đệ Nhị Chuyên Nghiên Cứu về Hôn Nhân và Gia Đình của trường Đại Học Lateran ở Rôma, Ngài vừa mới viếng thăm Học Viện Gioan Phaolô Đệ Nhị ở vùng thủ đô Washington, DC và Trung Tâm Học Hỏi về Công Giáo tại trường Đại Học Thánh Tôma nơi đây.
Ngài nói với Hãng Thông Tấn Zenit vào ngày 18-3 về những thế mạnh mà Ngài nhận thấy được qua các chương trình giảng dạy tại Hoa Kỳ và mong muốn làm sao có thể duy trì và đẩy mạnh những chương trình giảng dạy tương tự ở bậc sau đại học cho các trường Đại Học Công Giáo ở Ý và Châu Âu. Đây là Phần 1 của Cuộc Phỏng Vấn. Phần 2 sẽ được thực hiện vào ngày thứ sáu tới này.
Hỏi (H): Thưa Đức Ông, tình hình đào tạo ở bậc sau Đại Học tại các trường Đại Học Công Giáo ở Ý và Châu Âu như thế nào?
Đức Ông Melina (T): Nhìn chung mà nói, chúng ta có một truyền thống giáo dục Công Giáo rất tốt ở Châu Âu này, nó vốn được cắm rễ rất sau trong lịch sử nhân loại. Thường thì hệ thống giáo dục tại Ý và tại Châu Âu phần lớn mang nặng tính nhân bản và có tầm vóc rộng lớn hơn là tại Hoa Kỳ. Thế nhưng, chính tại Hoa Kỳ, nó có nhiều ưu điểm hơn. Người học có thể cùng một lúc lĩnh hội rất nhiều đề tài chuyên biệt trong cùng một hệ thống. Thay vì, như ở tại Âu Châu, chúng ta chú trọng quá nhiều đến các bài giảng của các giáo sư tại các lớp học. Có một điểm mới trong nền văn hóa của chúng ta là-những vấn nạn tại Ý và Châu Âu thì vẫn còn hiện hữu trong hệ thống giáo dục của chúng ta. Tôi nghĩ nguyên do chính và xác thực dẫn đến tình trạng này có thể được mô tả qua hai điểm chính sau.
Điểm thứ nhất đó là, hệ thống giáo dục của chúng ta có một sự tách biệt giữa việc giảng dạy và việc giáo dục. Điều đó có nghĩa là dần dần, chúng ta sẽ mất hẳn đi một truyền thống vẽ vang, lâu đời, để thay thế những mối quan tâm của chúng ta về con người trong vũ trụ quan bằng việc chỉ chú tâm vào việc đưa ra những thông tin cụ thể mà thôi. Hệ quả của nó sẽ dẫn đến nguyên do thứ hai mà tôi muốn nhấn mạnh đến đó là một sự rạn nứt về văn hóa.
Rạn nứt ở đây có nghĩa là, chúng ta quá say mê và chú tâm vào những vấn đề cụ thể, riêng biệt mà không hề để ý tới một viễn cảnh chung và toàn thể của hiện thực. Có quá nhiều sự chú tâm vào khoa học thực chứng, và qua thời gian, những ngành khoa học thực chứng này chỉ chú tâm vào có một lãnh vực cụ thể mà thôi. Khi đó, chúng ta đã mất đi một cái nhìn bao quát và rộng lớn hơn của kiến thức mà thực chất ra chính khoa học cũng có một sự đóng góp tích cực vào những điều kiện về nhân bản.
(H): Thế tại sao chúng ta cho rằng việc tiếp tục đầu tư và ủng hộ giáo dục Công Giáo ở bậc sau đại học là một nhiệm vụ quan trọng của Giáo Hội, thưa Đức Ông?
(T): Ở tại Ý, có một vị linh mục đã tận hiến suốt cả cuộc đời của Ngài cho việc giáo dục tại các trường học của thanh thiếu niên và các trường Đại Học. Tên của Ngài thì ở tại Hoa Kỳ ai cũng đều biết đến - Đó là Đức Ông Linh Mục Luigi Giussani (Đấng Sáng lập Ra Phong Trào Thần Học Giải Phóng).
Vị linh mục ấy đã từng nói, Giáo Hội có thể mất đi tất cả mọi thứ, nhưng Giáo Hội không thể mất đi nghĩa vụ và sứ vụ của mình qua việc giáo dục con người, bởi vì đối với Giáo Hội, yếu tố con người mang một ý nghĩa hết sức quan trọng. Đào tạo người trẻ luôn là sự quan tâm hàng đầu của Giáo Hội bởi vì qua chính việc đào tạo đó, Giáo Hội đưa ra cho thế giới một tài tử mới trong lịch sử của nó.
Tôi đồng ý với nhận định trên của Đức Ông Giussani, rằng bổn phận giáo dục người trẻ gắn kết mật thiết với sứ vụ của Giáo Hội, là rao giảng Phúc Âm, giảng dạy Giáo Lý, nghĩa là Giáo Hội phải coi sứ vụ đào tạo như là một nhiệm vụ căn bản, chính yếu và nền tảng.
(H): Thế thưa Đức Ông, Đức Ông đã học hỏi được những điều gì qua chuyến viếng thăm các trường Đại Học Công Giáo tại Hoa Kỳ?
(T): Tôi chỉ biết đến Trung Tâm về Học Hỏi và Nghiên Cứu Công Giáo tại trường Đại Học Thánh Tôma và có ghế đến thăm sơ qua mà thôi. Nhưng qua những cuộc tiếp xúc của tôi với giám đốc trung tâm, và cả với các sinh viên ở bậc sau Đại Học và ở bậc Đại Học, thì tôi rất lấy làm biết ơn về ý tưởng của trung tâm trong việc đề ra một chương trình giảng dạy cho người trẻ trên một bình diện rộng hơn là chỉ chú trọng vào khía cạnh nhân bản của con người.
Tôi rất thích chương trình giảng dạy về những môn học chính yếu như thơ ca và văn chương, và rất lấy làm khâm phục mọi nổ lực của trung tâm trong việc hội nhập những khía cạnh về tính lý vào các chương trình giảng dạy cho các sinh viên. Và tôi nghĩ những chương trình giảng dạy như thế rất là quan trọng trong việc giúp khắc phục những nhược điểm mà tôi đã đề cập trên đây-đó là sự tách rời giữa việc giảng dạy và giáo dục, và sự rạn nứt về kiến thức. Kết hợp hai điều đó lại sẽ rất quan trọng cho các sinh viên. Tôi nghĩ giáo dục luôn luôn là một sự kiếm tìm về tự do, và về con tim. Nó tạo ra một mối quan hệ vững chắc giữa từng sinh viên với nhà sự phạm. Chúng ta đào tạo ra những nhân chứng tốt về niềm tin và sự hội nhập của nó bằng cách biểu lộ niềm tin qua lý tưởng sống Kitô giáo, không chỉ đơn thuần về mặt thiêng liêng không thôi, mà còn cả về mặt văn hóa nữa, vì đó chính là cách cho thấy niềm tin đã được bén rể nơi một người sinh viên. Chúng ta đã có được một mối quan hệ cụ thể giữa người môn đệ và người thầy dạy, vì đó là hai thái cực chính của việc giáo dục.
(H): Thế thì làm sao Đức Ông có thể đưa ra một số thay đổi trong hệ thống giáo dục của Ý để giúp nó trở nên ngày một hội nhập hơn?
(T): Tôi nghĩ rằng lợi thế chính yếu mà chúng tôi có được tại Học Viện Gioan Phaolô Đệ Nhị Chuyên Nghiên Cứu về Hôn Nhân và Gia Đình của trường Đại Học Lateran ở Rôma là nội trong số các giáo sư giảng dạy không thôi, đã thật sự có được một sự hiệp thông giữa họ với nhau không những bắt nguồn từ sự đa cảm, mà còn bắt nguồn từ việc cùng nhau chia sẽ chung về viẽn ảnh của cuộc sống và một cách thức chung trong việc so sánh nội dung của Sự Khải Huyền Kitô giáo với kinh nghiệm nhân loại.
Và tôi nghĩ với phương pháp hình thành này, thì sự so sánh liên tục giữa nội dung của Sự Khải Huyền Kitô giáo với kinh nghiệm nhân loại là điều kiện thiết yếu cho một nền văn hóa Kitô giáo theo đúng nghĩa của nó. Khía cạnh văn hóa sẽ bộc lộ ra khi cuộc sống của con người giao tác với Sự Mạc Khải, để từ đó, một ánh sáng và một hình thức sống mới được hình thành nên qua cuộc giao tác này.
Tôi hy vọng từ sự giao tác này, tình hữu nghị và sự giao tiếp qua lại giữa các sinh viên và giáo sư giữa hai trung tâm sẽ được sinh hoa kết trái, vì lẽ, mỗi bên đều có một sứ vụ riêng của mình trong Giáo Hội.
(H): Thế tại sao, việc có những cơ sở như: Các Học Viện Về Hôn Nhân và Gia Đình hay những Trung Tâm Nghiên Cứu Học Hỏi Công Giáo tại Ý Đại Lợi và một số quốc gia khác tại Châu Âu là rất quan trọng, đặc biệt khi nó phải diện đối với sự gia tăng về việc trần tục hóa, thưa Đức Ông?
(T): Khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị thành lập ra Học Viện Chuyên Nghiên Cứu về Hôn Nhân và Gia Đình, thì lúc đó Ngài lo lắng và quan tâm rất nhiều đến tình trạng của hôn nhân và gia đình tại xã hội Phương Tây. Ngài đã thấy trước được một sự khủng hoảng về luân lý Kitô giáo vốn tiềm ẩn qua hôn nhân và sự khủng hoảng của các gia đình.
Lúc đó, Ngài mới hiểu ra rằng, để khắc phục những cuộc khủng hoảng như vậy, việc lập đi lập lại những quy phạm luân lý không thôi, thì cũng vẫn chưa đủ. Và điều cần thiết hơn cả đó chính là nền tảng của cuộc sống Kitô giáo, vì đó là cách để đào sâu thêm khía cạnh thần học của nhân loại. 23 năm sau khi Học Viện được thành lập, chúng ta có thể nói rằng những sự khủng hoảng mà Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị tiên liệu khi thành lập Học Viện, là ngày càng trở nên hiện thực và sống còn hơn, bởi vì những thách đố của nó càng ngày càng rộng lớn hơn. Giờ đây chúng ta không những có sự khủng hoảng về những quy phạm luân lý hay sự khủng hoảng của hôn nhân và các gia đình, mà thậm chí là chúng ta đang mất dần đi ý nghĩa của sự khác biệt về phái tính bởi vì tầm quan trọng của sự khác biệt về giới tính, chính là cách duy nhất để nhận dạng ra nhân tính của mỗi con người.
[Phần 2 Của Buổi Phỏng Đức Ông Nói Về “Tương Lai của Thần Học về Luân Lý”]
Đức Ông Livio Melina, Phó Chủ Tịch và Giáo Sư bộ môn Thần Học Luân Lý tại Học Viện Gioan Phaolô Đệ Nhị Chuyên Nghiên Cứu về Hôn Nhân và Gia Đình của trường Đại Học Lateran ở Rôma, Ngài vừa mới viếng thăm Học Viện Gioan Phaolô Đệ Nhị ở vùng thủ đô Washington, DC và Trung Tâm Học Hỏi về Công Giáo tại trường Đại Học Thánh Tôma nơi đây.
Ngài nói với Hãng Thông Tấn Zenit vào ngày 18-3 về những thế mạnh mà Ngài nhận thấy được qua các chương trình giảng dạy tại Hoa Kỳ và mong muốn làm sao có thể duy trì và đẩy mạnh những chương trình giảng dạy tương tự ở bậc sau đại học cho các trường Đại Học Công Giáo ở Ý và Châu Âu. Đây là Phần 1 của Cuộc Phỏng Vấn. Phần 2 sẽ được thực hiện vào ngày thứ sáu tới này.
Hỏi (H): Thưa Đức Ông, tình hình đào tạo ở bậc sau Đại Học tại các trường Đại Học Công Giáo ở Ý và Châu Âu như thế nào?
Đức Ông Melina (T): Nhìn chung mà nói, chúng ta có một truyền thống giáo dục Công Giáo rất tốt ở Châu Âu này, nó vốn được cắm rễ rất sau trong lịch sử nhân loại. Thường thì hệ thống giáo dục tại Ý và tại Châu Âu phần lớn mang nặng tính nhân bản và có tầm vóc rộng lớn hơn là tại Hoa Kỳ. Thế nhưng, chính tại Hoa Kỳ, nó có nhiều ưu điểm hơn. Người học có thể cùng một lúc lĩnh hội rất nhiều đề tài chuyên biệt trong cùng một hệ thống. Thay vì, như ở tại Âu Châu, chúng ta chú trọng quá nhiều đến các bài giảng của các giáo sư tại các lớp học. Có một điểm mới trong nền văn hóa của chúng ta là-những vấn nạn tại Ý và Châu Âu thì vẫn còn hiện hữu trong hệ thống giáo dục của chúng ta. Tôi nghĩ nguyên do chính và xác thực dẫn đến tình trạng này có thể được mô tả qua hai điểm chính sau.
Điểm thứ nhất đó là, hệ thống giáo dục của chúng ta có một sự tách biệt giữa việc giảng dạy và việc giáo dục. Điều đó có nghĩa là dần dần, chúng ta sẽ mất hẳn đi một truyền thống vẽ vang, lâu đời, để thay thế những mối quan tâm của chúng ta về con người trong vũ trụ quan bằng việc chỉ chú tâm vào việc đưa ra những thông tin cụ thể mà thôi. Hệ quả của nó sẽ dẫn đến nguyên do thứ hai mà tôi muốn nhấn mạnh đến đó là một sự rạn nứt về văn hóa.
Rạn nứt ở đây có nghĩa là, chúng ta quá say mê và chú tâm vào những vấn đề cụ thể, riêng biệt mà không hề để ý tới một viễn cảnh chung và toàn thể của hiện thực. Có quá nhiều sự chú tâm vào khoa học thực chứng, và qua thời gian, những ngành khoa học thực chứng này chỉ chú tâm vào có một lãnh vực cụ thể mà thôi. Khi đó, chúng ta đã mất đi một cái nhìn bao quát và rộng lớn hơn của kiến thức mà thực chất ra chính khoa học cũng có một sự đóng góp tích cực vào những điều kiện về nhân bản.
(H): Thế tại sao chúng ta cho rằng việc tiếp tục đầu tư và ủng hộ giáo dục Công Giáo ở bậc sau đại học là một nhiệm vụ quan trọng của Giáo Hội, thưa Đức Ông?
(T): Ở tại Ý, có một vị linh mục đã tận hiến suốt cả cuộc đời của Ngài cho việc giáo dục tại các trường học của thanh thiếu niên và các trường Đại Học. Tên của Ngài thì ở tại Hoa Kỳ ai cũng đều biết đến - Đó là Đức Ông Linh Mục Luigi Giussani (Đấng Sáng lập Ra Phong Trào Thần Học Giải Phóng).
Vị linh mục ấy đã từng nói, Giáo Hội có thể mất đi tất cả mọi thứ, nhưng Giáo Hội không thể mất đi nghĩa vụ và sứ vụ của mình qua việc giáo dục con người, bởi vì đối với Giáo Hội, yếu tố con người mang một ý nghĩa hết sức quan trọng. Đào tạo người trẻ luôn là sự quan tâm hàng đầu của Giáo Hội bởi vì qua chính việc đào tạo đó, Giáo Hội đưa ra cho thế giới một tài tử mới trong lịch sử của nó.
Tôi đồng ý với nhận định trên của Đức Ông Giussani, rằng bổn phận giáo dục người trẻ gắn kết mật thiết với sứ vụ của Giáo Hội, là rao giảng Phúc Âm, giảng dạy Giáo Lý, nghĩa là Giáo Hội phải coi sứ vụ đào tạo như là một nhiệm vụ căn bản, chính yếu và nền tảng.
(H): Thế thưa Đức Ông, Đức Ông đã học hỏi được những điều gì qua chuyến viếng thăm các trường Đại Học Công Giáo tại Hoa Kỳ?
(T): Tôi chỉ biết đến Trung Tâm về Học Hỏi và Nghiên Cứu Công Giáo tại trường Đại Học Thánh Tôma và có ghế đến thăm sơ qua mà thôi. Nhưng qua những cuộc tiếp xúc của tôi với giám đốc trung tâm, và cả với các sinh viên ở bậc sau Đại Học và ở bậc Đại Học, thì tôi rất lấy làm biết ơn về ý tưởng của trung tâm trong việc đề ra một chương trình giảng dạy cho người trẻ trên một bình diện rộng hơn là chỉ chú trọng vào khía cạnh nhân bản của con người.
Tôi rất thích chương trình giảng dạy về những môn học chính yếu như thơ ca và văn chương, và rất lấy làm khâm phục mọi nổ lực của trung tâm trong việc hội nhập những khía cạnh về tính lý vào các chương trình giảng dạy cho các sinh viên. Và tôi nghĩ những chương trình giảng dạy như thế rất là quan trọng trong việc giúp khắc phục những nhược điểm mà tôi đã đề cập trên đây-đó là sự tách rời giữa việc giảng dạy và giáo dục, và sự rạn nứt về kiến thức. Kết hợp hai điều đó lại sẽ rất quan trọng cho các sinh viên. Tôi nghĩ giáo dục luôn luôn là một sự kiếm tìm về tự do, và về con tim. Nó tạo ra một mối quan hệ vững chắc giữa từng sinh viên với nhà sự phạm. Chúng ta đào tạo ra những nhân chứng tốt về niềm tin và sự hội nhập của nó bằng cách biểu lộ niềm tin qua lý tưởng sống Kitô giáo, không chỉ đơn thuần về mặt thiêng liêng không thôi, mà còn cả về mặt văn hóa nữa, vì đó chính là cách cho thấy niềm tin đã được bén rể nơi một người sinh viên. Chúng ta đã có được một mối quan hệ cụ thể giữa người môn đệ và người thầy dạy, vì đó là hai thái cực chính của việc giáo dục.
(H): Thế thì làm sao Đức Ông có thể đưa ra một số thay đổi trong hệ thống giáo dục của Ý để giúp nó trở nên ngày một hội nhập hơn?
(T): Tôi nghĩ rằng lợi thế chính yếu mà chúng tôi có được tại Học Viện Gioan Phaolô Đệ Nhị Chuyên Nghiên Cứu về Hôn Nhân và Gia Đình của trường Đại Học Lateran ở Rôma là nội trong số các giáo sư giảng dạy không thôi, đã thật sự có được một sự hiệp thông giữa họ với nhau không những bắt nguồn từ sự đa cảm, mà còn bắt nguồn từ việc cùng nhau chia sẽ chung về viẽn ảnh của cuộc sống và một cách thức chung trong việc so sánh nội dung của Sự Khải Huyền Kitô giáo với kinh nghiệm nhân loại.
Và tôi nghĩ với phương pháp hình thành này, thì sự so sánh liên tục giữa nội dung của Sự Khải Huyền Kitô giáo với kinh nghiệm nhân loại là điều kiện thiết yếu cho một nền văn hóa Kitô giáo theo đúng nghĩa của nó. Khía cạnh văn hóa sẽ bộc lộ ra khi cuộc sống của con người giao tác với Sự Mạc Khải, để từ đó, một ánh sáng và một hình thức sống mới được hình thành nên qua cuộc giao tác này.
Tôi hy vọng từ sự giao tác này, tình hữu nghị và sự giao tiếp qua lại giữa các sinh viên và giáo sư giữa hai trung tâm sẽ được sinh hoa kết trái, vì lẽ, mỗi bên đều có một sứ vụ riêng của mình trong Giáo Hội.
(H): Thế tại sao, việc có những cơ sở như: Các Học Viện Về Hôn Nhân và Gia Đình hay những Trung Tâm Nghiên Cứu Học Hỏi Công Giáo tại Ý Đại Lợi và một số quốc gia khác tại Châu Âu là rất quan trọng, đặc biệt khi nó phải diện đối với sự gia tăng về việc trần tục hóa, thưa Đức Ông?
(T): Khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị thành lập ra Học Viện Chuyên Nghiên Cứu về Hôn Nhân và Gia Đình, thì lúc đó Ngài lo lắng và quan tâm rất nhiều đến tình trạng của hôn nhân và gia đình tại xã hội Phương Tây. Ngài đã thấy trước được một sự khủng hoảng về luân lý Kitô giáo vốn tiềm ẩn qua hôn nhân và sự khủng hoảng của các gia đình.
Lúc đó, Ngài mới hiểu ra rằng, để khắc phục những cuộc khủng hoảng như vậy, việc lập đi lập lại những quy phạm luân lý không thôi, thì cũng vẫn chưa đủ. Và điều cần thiết hơn cả đó chính là nền tảng của cuộc sống Kitô giáo, vì đó là cách để đào sâu thêm khía cạnh thần học của nhân loại. 23 năm sau khi Học Viện được thành lập, chúng ta có thể nói rằng những sự khủng hoảng mà Đức Gioan Phaolô Đệ Nhị tiên liệu khi thành lập Học Viện, là ngày càng trở nên hiện thực và sống còn hơn, bởi vì những thách đố của nó càng ngày càng rộng lớn hơn. Giờ đây chúng ta không những có sự khủng hoảng về những quy phạm luân lý hay sự khủng hoảng của hôn nhân và các gia đình, mà thậm chí là chúng ta đang mất dần đi ý nghĩa của sự khác biệt về phái tính bởi vì tầm quan trọng của sự khác biệt về giới tính, chính là cách duy nhất để nhận dạng ra nhân tính của mỗi con người.
[Phần 2 Của Buổi Phỏng Đức Ông Nói Về “Tương Lai của Thần Học về Luân Lý”]