Đồng số phận
Nhân tham dự Thánh Lễ hiệp thông với Đồng Chiêm tại Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam ở Sydney, tôi bỗng thấy thân phận người Công Giáo Việt Nam tại quê hương thật giống với thân phận các đồng đạo của họ tại Trung Đông. Hai nơi với hai chế độ chính trị khác nhau nhưng cùng chung một thứ ý thức hệ. Nhiều người vẫn diễu cợt các chế độ Trung Đông cũng như chế độ Hà Nội về việc họ tự hào tôn trọng tự do tôn giáo như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vốn tuyên xưng, mà thực tế thì cảnh vi phạm tự do tôn giáo xẩy ra như cơm bữa tại cả hai nơi ấy, đến độ những cơ quan như Amnesty International mỏi miệng tố cáo riết rồi cũng làm thinh luôn. Vì thực ra, cả hai nơi ấy đều tôn trọng tự do nói chung và tự do tôn giáo nói riêng cho những người được họ coi là công dân, coi là nhân dân, coi là “tín hữu”, chứ không phải loại không công dân, không tuân hành, không tin đạo, Infidel! Đến mức tột cùng, họ không coi loại người này là người nữa, nên có quyền giết bỏ nhân danh Thượng Đế, Thiên Chúa. Căn bản của thảm họa Trung Đông cũng như thảm họa Việt Nam hiện nay là người Kitô hữu, và cách riêng người Công Giáo, bị các ý thức hệ cực đoan này nhẹ nhất coi không phải là công dân (non-citizen) và tệ nhất không phải là người (non-people). Bởi thế, các cố gắng của thế giới tự do dân chủ hiện nay là tranh đấu để ít nhất tư cách người của mọi con người được công nhận, nếu chưa phải là tư cách công dân, vì nói cho cùng Bản Tuyên Ngôn của LHQ nói về nhân quyền chứ không hẳn dân quyền. Trong khi ấy, các ý thức hệ cực đoan kia không thích dùng chữ con người, mà chỉ nhấn mạnh tới công dân, nhân dân, tín hữu.
Năm nay, cả ở hai nơi ấy đều có những cơ hội để người Kitô hữu suy nghĩ về căn tính của mình. Ở Việt Nam là Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thành lập hai tông toà đại diện đầu tiên, và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm. Ở Trung Đông là Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới Về Trung Đông. Dù là kỷ niệm hay không kỷ niệm, cơ hội vẫn là qúy giá để người Kitô hữu suy nghĩ về chính mình. Có điều đối với Trung Đông, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới tuy có nhìn về quá khứ, nhưng chủ yếu sẽ là nhìn về tương lai. Còn Năm Thánh 2010 ở Việt Nam, liệu có thoát khỏi cái nuối tiếc quá khứ để nhất định nhìn về tương lai hay không? Ta hãy chờ xem. Có người cho rằng: vì dùng dấu ấn giáo phẩm làm thước đo sự trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam (2 tông tòa 1660 và hàng giáo phẩm 1960), nên hiện nay, điều gì người ta cũng “trăm dâu đổ tội tằm”, tại giám mục này, tại giám mục nọ, tại cả hàng giám mục nói chung, khiến cho nhận xét của một vị giám mục mới qua đời: giáo dân hơn linh mục, linh mục hơn giám mục được truyền tụng như một thần chú (mantra). Hơn hay không hơn chắc chắn là điều cần bàn cãi, nhưng rõ ràng các giáo dân ở Đồng Chiêm đang trở thành niềm kiêu hãnh cho toàn thể người Công Giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới, họ chứng tỏ điều này: cái lịch sử gần một nửa thiên niên kỷ kia của Giáo Hội Việt Nam đã mang lại hoa trái rực rỡ, sản sinh ra những tín hữu biết vận dụng được sở học, sở suy tư nghiền ngẫm, sở đào tạo, sở sống thực của biết bao thế hệ các nhà lãnh đạo tinh thần và đồng đạo của mình để tự đứng trên đôi chân của mình mà hành động. Thành công hay thất bại, đạt được mục tiêu hay không, không phải là cái cớ để họ thoái lui. Nhiều người có thái độ của những khán giả quá khích, hồi hộp “lo sợ” hơn cả chính các cầu thủ nhà đang cố gắng thi đấu và khi họ lỡ thua, thì lên tiếng chỉ trích đủ người, đủ phía, làm như mình tài giỏi hơn ai hết!
Các chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng
Nhân cơ hội này, tìm hiểu đôi chút về Thượng Hội Đồng Trung Đông thiển nghĩ không hẳn là chuyện dư thừa, vô bổ. Nó giúp ta phản tỉnh phần nào để nhận ra căn tính đích thực của mình trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng. Người Kitô hữu Trung Đông không những chỉ là đồng đạo mà còn là đồng số phận với ta.
Thượng Hội Đồng Trung Đông sẽ được triệu tập tại Vatican vào mùa thu này. Các chuẩn bị ráo riết đang được xúc tiến. Ngày 19 tháng Giêng năm nay, Tòa Thánh đã tổ chức một cuộc họp báo để công bố các đề cương cho THĐ. Nhân dịp này, vị Tổng Thư Ký THĐ là Đức TGM Nikola Eterovic tuyên bố rằng: trong một miền mà Kitô hữu bị coi không phải là công dân, thì việc làm chứng cho Chúa Kitô và giá trị Phúc Âm phải là điều chủ yếu, không những cho việc canh tân hiện nay mà còn cho cả một tương lai tốt đẹp hơn nữa. Một ủy ban tiền THĐ đã được thành lập. Ủy ban này gồm 7 vị thượng phụ, tức 6 vị thượng phụ của 6 Giáo Hội tự lập (sui juris) Đông Phương và thượng phụ Latinh của Giêrusalem. Bốn vị bộ trưởng của Giáo Triều Rôma cũng là thành viên của ủy ban này.
Cuộc xuất hành hiện đại
Tài liệu cũng đề cập tới vấn đề hiện vẫn đang xẩy ra là hiện tượng các Kitô hữu ồ ạt rời bỏ Đất Thánh. Đức TGM Etorovic cho thấy cuộc “xuất hành” này đang làm cho toàn thể xã hội trở nên yếu kém. Vì theo ngài, tại vùng này, các Kitô hữu “đã dùng lời cầu nguyện và các trợ giúp cụ thể để hỗ trợ anh chị em mình tại Trung Đông, vốn là cái nôi của Kitô Giáo, cũng như anh chị em thuộc hai tôn giáo độc thần là Do Thái Giáo và Hồi Giáo”.
Ngoài việc cầu nguyện và bác ái ra, vị giáo chủ này cũng cho rằng Kitô giáo còn một đóng góp khác đối với vùng đầy tranh chấp này đó là lòng hy vọng. Ngài bảo: “Niềm hy vọng của Kitô Giáo, phát sinh ngay tại Đất Thánh, đã khích lệ người tín hữu suốt 2 nghìn năm qua. Ngày nay cũng thế, ngay giữa các khó khăn và thách đố, đối với Kitô hữu cũng như mọi người thiện chí, nó vẫn tiếp tục là nguồn suối bất tận cho đức tin, đức ái và niềm vui được làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh, Đấng vẫn hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ của Người”.
Bản đề cương
Bản đề cương mà tiếng Latinh gọi là “lineamenta” của THĐ về Trung Đông đã được công bố vào ngày 19 tháng Giêng tại Vatican. Chủ đề của THĐ là “Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông: Hiệp Thông và Chứng Tá. ‘Giờ đây cộng đoàn tín hữu chỉ có một lòng một ý’” (Cv 4:32).
Bản đề cương được công bố bằng bốn thứ tiếng: Ả Rập, Anh, Pháp và Ý. Phần mở đầu của tài liệu nói tới các mục tiêu mục vụ chính của THĐ: “Củng cố và làm vững mạnh căn tính của Kitô hữu bằng Lời Chúa và các bí tích, và sâu sắc hóa sự hiệp thông giữa các Giáo Hội đặc thù”.
Như thông lệ, mỗi phần của bản đề cương đều có kèm theo nhiều câu hỏi. Có tất cả 32 câu hỏi và mục đích của chúng là để hướng dẫn việc suy tư của các định chế tiếp nhận: các thượng hội đồng giám mục của các Giáo Hội Công Giáo Phương Đông, các hội đồng giám mục, các thánh bộ của Giáo Triều Rôma, Liên Hiệp các Bề Trên Cả các Dòng, và để thảo luận nội dung của tài liệu, đem các nguyên tắc này áp dụng vào thực tế của từng thực thể Giáo Hội liên hệ.
Hạn chót cho các định chế trên trả lời là Lễ Phục Sinh, mồng 4 tháng Tư năm 2010, để kịp thời soạn thảo và công bố “Tài Liệu Làm Việc (Instrumentum Laboris) mà Đức Bênêđíctô XVI sẽ trao cho đại diện các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương dịp ngài tông du đảo Sýp vào tháng Sáu tới. Sau đây là tóm tắt nội dung bản đề cương:
Các Chỉ Dẫn cho Trung Đông
Lời nói đầu
Trong phần nói đầu của bản đề cương, Đức TGM Eterovic, Tổng Thư Ký của THĐ, viết rằng: Sách Tông Đồ Công Vụ dùng hai đoạn văn đặc biệt nhấn mạnh đến việc các Kitô hữu chia sẻ mọi thiện ích với nhau, cho thấy một sự hợp nhất rất nồng nàn: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung” (Cv 2:44). Chủ đề của THĐ sắp tới lấy từ đoạn thứ hai “giờ đây, cộng đoàn tín hữu chỉ có một lòng một ý” (Cv 4:32). Thánh Luca nêu hai thí dụ, một thí dụ tích cực là trình thuật về Joseph (cũng có tên là Barnabas) đã bán cánh đồng của mình rồi “mang tiền bán tới đặt dưới chân các tông đồ”; một thí dụ tiêu cực kể truyện vợ chồng Ananias và Sapphira chỉ tặng một phần tiền bán đất cho cộng đoàn, còn giữ lại cho riêng mình phần còn lại, nên đã bị phạt chết thảm. Hai thí dụ ấy khích lệ các Kitô hữu sống lý tưởng hiệp thông và chứng tá một cách cụ thể và hoàn toàn đến độ “chỉ còn một lòng một ý”.
Đức TGM sau đó nhắc qua các diễn biến dẫn tới THĐ sắp tới. Ngài cho biết: nhân dịp tiếp các vị thượng phụ và tổng giám mục của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ngày 19 tháng 9 năm 2009, Đức Bênêđíctô XVI đã công bố sẽ triệu tập THĐ Đặc Biệt về Trung Đông. Đồng thời, ngài cũng chọn chủ đề trên cho THĐ. Người ta còn nhớ, Đức Thánh Cha tông du Đất Thánh từ mồng 8 tới ngày 15 tháng Năm năm 2009, nên đã sẵn sàng chấp thuận lời yêu cầu của nhiều vị giám mục muốn có một THĐ về Trung Đông nhằm mục đích xem sét lại cách thấu đáo các giáo huấn của Sách Tông Đồ Công Vụ, để sống lại kinh nghiệm của Cộng Đồng Giáo Hội Sơ Khai một cách trưởng thành hơn và để làm chứng bằng lời và nhất là bằng việc làm cho vinh quang Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong tình thế phức tạp ngày nay tại các quốc gia Trung Đông. Đức tin của người Kitô hữu Trung Đông có mục tiêu nuôi dưỡng lòng hy vọng trong mọi trạng huống vô vọng, vì lòng hy vọng này không dựa vào khả năng con người mà dựa vào quyền năng Thiên Chúa. Kết quả, đức tin và đức cậy sẽ dẫn tới đức ái, hướng về người lân cận. Đức ái này thấy rõ nơi Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông qua sự hiện diện liên tục của các Kitô hữu tại mảnh đất quê hương của họ này kể từ thời Chúa Giêsu. Rõ ràng đức ái này cũng được biểu lộ qua nhiều công tác tông đồ giá trị mà các chi thể của Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông này đã thực hiện nhằm đóng góp vào sự phát triển toàn diện của xã hội như một toàn thể.
Sau đó, Đức TGM Eterovic nhắc lại các bước chuẩn bị cho THĐ gồm việc thành lâp ủy ban Tiền THĐ và nhiệm vụ soạn thảo bản đề cương nhằm thu thập các câu trả lời. Các câu trả lời này sẽ được gửi về cho Tổng Thư Ký THĐ, làm căn bản soạn thảo Tài Liệu Làm Việc cho THĐ. Đức TGM Eterovic tin rằng THĐ này sẽ là một cơ hội tốt đẹp để đối thoại nhiều hơn với người Do Thái Giáo và Hồi Giáo, đồng thời thâm hậu hóa sự hiệp thông với mọi người thiện chí tại Trung Đông.
Nhập Đề
1. Sáng kiến triệu tập THĐ về Trung Đông cho thấy mối ưu tư lo lắng của Đức GH đối với mọi Giáo Hội và là biến cố quan trọng chứng tỏ quan tâm của Giáo Hội Hoàn Vũ đối với các GH của Chúa tại Trung Đông. Chính các GH tại Trung Đông được mời gọi cách riêng can dự vào biến cố này ngõ hầu nó trở thành một biến cố đầy ơn thánh trong cuộc sống Kitô hữu tại Trung Đông.
A. Mục tiêu của THĐ
2. THĐ này có hai mục đích: củng cố và làm vững mạnh căn tính các Kitô hữu bằng Lời Chúa và các bí tích, và thâm hậu hóa sự hiệp thông giữa các Giáo Hội đặc thù, để các GH này làm chứng cho cuộc sống Kitô Giáo một cách chân thực, hân hoan và hấp dẫn. GHCG không đơn độc tại Trung Đông. Nơi đó còn có các GH Chính Thống và các cộng đồng Thệ Phản. Khía cạnh đại kết ấy hết sức căn bản nếu ta muốn cho việc làm chứng Kitô Giáo trở thành chân chính và khả tín.
3. Như thế, hiệp thông cần được sâu sắc hóa trên mọi bình diện: bên trong các GHCG tại Trung Đông, giữa mọi GHCG trong vùng và trong tương giao với các GH Kitô Giáo và cộng đồng giáo hội khác. Đồng thời, ta cũng phải củng cố việc làm chứng với người Do Thái Giáo và Hồi Giáo, với người tin lẫn người không tin.
4. THĐ cũng mang lại cho ta cơ hội để lượng giá tình thế xã hội cũng như tôn giáo, giúp các Kitô hữu thấy rõ tầm ý nghĩa của việc họ hiện diện giữa các xã hội Hồi Giáo (Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ hay Iran) và vai trò cũng như sứ mệnh của họ trong mỗi quốc gia, nhờ đó, chuẩn bị cho họ trở thành các nhân chứng của Chúa Kitô nơi họ sinh sống. Điều này bao gồm việc suy tư về tình thế hiện nay, một tình thế khó khăn với nhiều tranh chấp, bất ổn và biến động chính trị và xã hội tại phần lớn các quốc gia trong vùng.
B. Một suy tư được Thánh Kinh hướng dẫn
5. Suy tư của ta sẽ được Sách Thánh hướng dẫn, một Sách Thánh vốn được viết trên các mảnh đất này, bằng các thứ tiếng của chính chúng ta (Híp-ri, Aram hay Hy Lạp) và trong ngữ cảnh văn hóa và văn học và các biểu thức được coi là của chính chúng ta. Lời Chúa hằng được đọc trong các Giáo Hội của ta. Các Sách Thánh ấy từng đến với ta qua các cộng đoàn Giáo Hội của chính ta. Phải lấy nó làm điểm qui chiếu nếu ta muốn tìm ra ý nghĩa sự hiện diện của ta, sự hiệp thông và chứng tá của ta trong hoàn cảnh hiện nay của xứ sở.
6. Lời Chúa nói gì với ta ở đây và ngay lúc này, với từng Giáo Hội, với từng quốc gia? Sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa biểu lộ ra sao đối với chúng ta trong cả hai hoàn cảnh thuận lợi và bất lợi của cuộc sống hàng ngày? Chúa đòi hỏi nơi ta những gì trong lúc này: ở lại chăng để dấn thân vào các biến cố đang nằm trong sự chăm sóc của Quan Phòng và ơn thánh? Hay nên ra đi?
7. Bởi thế, vấn đề ở đây, và cũng là một trong các mục tiêu của THĐ, là phải tái khám phá ra Lời Chúa trong Thánh Kinh được nói với chúng ta ngày nay. Lời Chúa nói với ta trong hiện tại chứ không phải chỉ trong quá khứ và giải thích cho ta điều đang xẩy ra quanh ta, y như Lời Chúa đã làm đối với 2 Môn Đệ Emmaus. Việc khám phá ấy phát sinh chủ yếu nhờ việc đọc và suy niệm Thánh Kinh, hoặc từng cá nhân hoặc trong các gia đình và cộng đoàn sống động. Tuy nhiên, điều chủ yếu là việc đọc này phải hướng dẫn được các lựa chọn, các quyết định hàng ngày của ta trong cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội và chính trị.
Các câu hỏi
a. Bạn có đọc Thánh Kinh theo phương diện cá nhân, trong gia đình hay trong cộng đoàn không?
b. Việc đọc này có soi sáng cho các quyết định của bạn trong gia đình, trong sinh hoạt nghề nghiệp và công dân không?
CHƯƠNG I: GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI TRUNG ĐÔNG
A. Tình thế các Kitô hữu tại Trung Đông
(a) Một thoáng nhìn lịch sử: hợp nhất trong đa dạng
8. Giống mọi cộng đồng Kitô Giáo trên khắp thế giới, các GHCG tại TĐ đều phát xuất từ Giáo Hội Kitô Giáo đầu tiên tại Giêrusalem, được Chúa Thánh Thần làm cho nên một vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Đến thế kỷ thứ 5, sau 2 CĐ Êphêsô và Canxêđoan, GH kinh qua nhiều chia rẽ, chủ yếu quanh vấn đề Kitô học. Cuộc ly khai đầu tiên từ những chia rẽ ấy trong các GH đưa lại điều ngày nay ta biết dưới tên “Giáo Hội Tông Đồ Átxiri tại Đông Phương” (cũng có tên là GH Néttôriô) và các “GH Chính Thống Đông Phương” tức các GH Cốptíc, Syria và Ácmêni, mà trước đây từng được gọi là các giáo hội nhất tính (monophysite). Thường thường, các chia rẽ này cũng phản ảnh các yếu tố văn hóa và chính trị, như nhận định của một số nhà thần học Đông Phương thời Trung Cổ đại diện cho cả ba truyền thống lớn tức Menkít, Giacôbít và Néttôriô. Các nhà thần học này cho rằng sự chia rẽ trên không hề có một căn bản tín lý nào. Sau đó xẩy ra cuộc Ly Giáo Vĩ Đại của thế kỷ thứ 11 tách Côngtăngtinốp ra khỏi Rôma, và do đó tách Đông Phương Chính Thống ra khỏi Tây Phương Công Giáo. Các chia rẽ này vẫn còn hiện hữu ngày nay trong nhiều GH tại TĐ.
9. Tiếp theo các chia rẽ và phân rẽ này, nhiều cố gắng định kỳ đã được đưa ra nhằm tái lập sự hợp nhất cho Nhiệm Thể Chúa Kitô. Các cố gắng đại kết đó đã phát sinh ra các GHCG Đông Phương: Ácmêni, Canđê, Menkít, Syriác và Cốptíc. Thoạt đầu, các GH này có khuynh hướng tranh luận với các GH Chính Thống Chị Em, nhưng dần dần, đã trở thành những người cùng họ nhiệt thành bênh vực một Trung Đông Kitô Giáo.
10. Giáo Hội Marônít luôn duy trì sự hợp nhất với Giáo Hội Hoàn Vũ và suốt trong lịch sử lâu dài của nó, chưa bao giờ kinh qua bất cứ chia rẽ nội bộ nào. Tòa Thượng Phụ Latinh của Giêrusalem, thiết lập từ thời Thập Tự Chinh, đã được tái lập trong thế kỷ 19, nhờ sự hiện diện liên tục của các cha Dòng Phanxicô, từng có mặt tại Đất Thánh từ thế kỷ 13.
11. Ngày nay, 7 GHCG đang hiện hữu tại Trung Đông, phần lớn nói tiếng Ả Rập hay sử dụng mẫu tự Ả Rập. Một số cũng hiện hữu tại Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư (Iran). Các GH này khác nhau về văn hóa và do đó, có truyền thống phụng vụ rất độc đáo, tạo nên nét phong phú và bổ túc lẫn nhau. Họ đều hiệp thông với Giáo Hội Hoàn Vũ, quây quần chung quanh Đức Giáo Hoàng, đấng kế vị Thánh Phêrô, thủ lãnh (coryphaeus) các tông đồ. Tính đa dạng là căn bản cho sự phong phú của họ, một sự phong phú chỉ có thể bị nghèo nàn đi vì sự quá gắn bó với nghi thức và văn hóa. Ngày nay, sự hợp tác giữa các tín hữu đang diễn tiến bình thường và tự nhiên ở mọi bình diện.
(b) Tính tông truyền và ơn gọi truyền giáo
12. Từ nguồn gốc, các GH của ta vốn có tính tông truyền và các quốc gia của ta vốn là cái nôi của Kitô Giáo. Ngày 9 tháng 6 năm 2007, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI từng nói rằng các GH này là những người canh giữ sống động nguồn gốc Kitô Giáo của ta. Các mảnh đất này từng được chúc phúc nhờ sự hiện diện của chính Chúa Kitô và các thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Thật là một mất mát lớn lao cho Giáo Hội Hoàn Vũ nếu các Kitô Hữu này biến mất hay giảm thiểu ngay tại nơi GH ấy sinh ra. Cho nên, ta có trách nhiệm nặng nề không những phải duy trì đức tin Kitô Giáo tại các mảnh đất thánh thiêng này, mà hơn thế, còn phải duy trì tinh thần Phúc Âm nơi các dân tộc Kitô Giáo và mối tương quan của họ với những người không phải là Kitô hữu, đồng thời giữ cho ký ức về các khởi đầu ấy của Kitô Giáo luôn luôn sống động.
13. Vì là tông truyền, các GH của ta có sứ mệnh đặc biệt phải đem Phúc Âm tới toàn thế giới. Trong suốt lịch sử, nhiệt thành tông đồ này đã trổ sinh một số Giáo Hội tại Nubia và Ethiopia, tại Bán Đảo Ả Rập, tại Ba Tư, tại Ấn Độ và cả tại Trung Hoa nữa. Ngày nay, trong nhiều trường hợp, đang có những dấu hiệu cho thấy nhiệt tình tông đồ ấy đã nguội đi và ngọn lửa của Chúa Thánh Thần dường như đã giảm thiểu.
14. Lịch sử và văn hóa của ta giúp ta cơ hội giao tiếp với hàng trăm triệu con người về phương diện văn hóa và thiêng liêng. Trách nhiệm của ta là chia sẻ với họ sứ điệp yêu thương của Phúc Âm mà ta đã tiếp nhận. Vào một thời điểm trong đó nhiều người mất hướng và đang đi tìm một tia hy vọng, ta hãy đem lại cho họ niềm hy vọng vốn có trong ta nhờ sự tràn đầy Chúa Thánh Thần trong tâm hồn ta (xem Rm 5:5).
(c) Vai trò người Kitô hữu trong xã hội, bất chấp tính thiểu số của họ
15. Bất chấp các dị biệt, các xã hội Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư của ta vẫn có những đặc điểm chung. Các truyền thống và lối sống cổ truyền vẫn thịnh hành, nhất là liên quan đến gia đình và giáo dục. Ở đây, chủ nghĩa tông phái (confessionalism) là đặc điểm của cả người Kitô hữu lẫn những người không phải là Kitô hữu và ảnh hưởng lớn tới thái độ và tác phong dân chúng. Tôn giáo có thể phát sinh ra chia rẽ, người này với người nọ.
16. Tính hiện đại mỗi ngày mỗi bàng bạc hơn trong xã hội. Việc sử dụng các kênh truyền hình thế giới và liên mạng dẫn đến cả các giá trị mới lẫn việc mất các giá trị trong xã hội dân chính và nơi Kitô hữu. Phản ứng lại tình thế ấy, các nhóm cực đoan Hồi Giáo đang phát triển mạnh. Những người cầm quyền thì phản ứng một cách độc đoán bằng cách kiểm soát chặt chẽ báo chí và truyền thông. Tuy nhiên, đa số dân chúng đang chờ mong dân chủ thật sự.
17. Dù các Kitô hữu là thiểu số trong hầu hết các miền thuộc Trung Đông, chỉ trừ Libăng: họ chiếm từ 1% tại Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ tới 10% tại Ai Cập, nhưng họ rất tích cực, năng động và sâu sắc. Nguy hiểm một điều: họ có thể tự cô lập vì sợ người khác. Các tín hữu của ta, vì thế, cần được củng cố trong đức tin và cuộc sống thiêng liêng, họ cần được tôi luyện lại trong liên hệ xã hội và tình liên đới giữa họ với nhau. Tuy nhiên phải làm điều đó trong tinh thần không rơi vào não trạng khép kín (ghetto). Ngoài ra, giáo dục phải là việc đầu tư lớn nhất của ta. Các Giáo Hội và trường học của ta cần làm nhiều hơn nữa để giúp đỡ những người kém may mắn nhất.
B. Các thách đố của Kitô hữu
(a) Tranh chấp chính trị trong vùng
18. Các tranh chấp chính trị trong vùng đã trực tiếp ảnh hưởng tới cuộc sống người Kitô hữu, cả trong tư cách công dân lẫn trong tư cách Kitô hữu. Việc người Do Thái chiếm đóng các lãnh thổ Palestine đã làm cho cuộc sống hàng ngày trở nên khó khăn liên quan tới quyền tự do di chuyển, nền kinh tế và sinh hoạt tôn giáo. Ra vào những nơi thánh phải tùy thuộc giấy phép của quân đội, một thứ giấy phép được cấp phát tùy tiện, người được, người không, hoàn toàn dựa vào lý do an ninh. Đàng khác, một số nền thần học cực đoan Kitô Giáo lại còn dùng Thánh Kinh mà biện hộ cho việc chiếm đóng kia, khiến cho vị thế của người Ả Rập theo Kitô Giáo càng trở nên tế nhị.
19. Tại Iraq, chiến tranh đã thả lỏng nhiều lực lượng tàn ác trong xứ sở, trong đó có các hệ phái tôn giáo và nhiều phong trào chính trị, khiến mọi người dân Iraq trở thành nạn nhân. Tuy nhiên, vì Kitô hữu đại diện cho phần nhỏ nhất và yếu nhất trong các cộng đồng Iraq, nên họ đã trở thành các nạn nhân chính mà nền chính trị thế giới không hề ghi nhận.
20. Tại Libăng, Kitô hữu chia rẽ nhau một cách sâu xa trên cả hai bình diện chính trị và hệ phái đến nỗi không tìm ra được kế sách gì chung để hành động. Tại Ai Cập, việc đi lên của Hồi Giáo chính trị một bên và bên kia việc rút lui khỏi đời sống công cộng của người Kitô hữu đã dẫn tới hiện tượng bất khoan dung, bất bình đẳng và bất công. Hơn nữa, việc Hồi Giáo Hóa này cũng xâm nhập vào các gia đình qua truyền thông và trường học, dẫn tới một thay đổi ít ai thấy về thái độ có tính chất Hồi Giáo. Tại nhiều quốc gia, chủ nghĩa độc đoán hay độc tài buộc dân chúng, trong đó có Kitô hữu, phải câm lặng để còn duy trì được những cái thiết yếu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, ý niệm “thế tục” đang đặt ra nhiều vấn nạn đối với quyền tự do đầy đủ về tôn giáo.
21. Hoàn cảnh ấy của các Kitô hữu tại các quốc gia Ả Rập khác nhau đã được mô tả trong đoạn 13 Thư Mục Vụ số 10 của các vị Thượng Phụ Công Giáo, năm 2009. Các kết luận của nó bác bỏ thái độ chủ trương đầu hàng: “Đối diện với các thực tại khác nhau ấy, nhiều người vẫn mạnh mẽ trong đức tin và trong việc dấn thân vào xã hội, sẵn sàng chia sẻ các hy sinh chung và đóng góp vào kế hoạch toàn diện của xã hội. Trái lại, nhiều người khác tỏ ra ngã lòng và mất hết tin tưởng vào xã hội của mình, vào khả năng nó có thể ban cấp cho họ một vị thế bình đẳng với các công dân khác, dẫn tới việc họ từ bỏ mọi cam kết, thu mình vào trong Giáo Hội và các định chế của mình, sống cô lập và tránh mọi hành động qua lại với xã hội”
(b) Tự do tôn giáo và tự do lương tâm
22. Tại Trung Đông, tự do tôn giáo thường có nghĩa là tự do thờ phượng chứ không phải tự do lương tâm, hay tự do thay đổi tôn giáo của mình để tin theo một tôn giáo khác. Nói một cách tổng quát, tôn giáo tại Trung Đông là một lựa chọn có tính xã hội, có khi còn là lựa chọn có tính quốc gia nữa, chứ không phải là lựa chọn của cá nhân. Thay đổi tôn giáo, vì thế, bị coi như phản bội xã hội, văn hóa và dân tộc mà phần lớn được lập nền tảng trên truyền thống tôn giáo.
23. Người ta coi việc trở lại như hậu quả của việc cải đạo (proselytism) với quyền lợi bản thân gắn liền vào đó, chứ không hẳn là xác tín tôn giáo chính danh. Thường thường, luật nhà nước ngăn cấm người Do Thái Giáo và người Hồi Giáo không được gia nhập các tôn giáo khác. Các Kitô hữu, dù cũng bị áp lực và chống đối của gia đình và dòng tộc, nhưng nói chung được tự do thay đổi tôn giáo của mình. Nhiều khi, người Kitô hữu gia nhập Hồi Giáo không phải vì xác tín tôn giáo cho bằng vì các quyền lợi bản thân hay bị áp lực từ việc cải đạo của tôn giáo này.
(c) Các Kitô hữu và việc phát triển của Hồi Giáo hiện nay
24. Trong một thư mục vụ trước đây, các vị Thượng Phụ Công Giáo của Trung Đông từng nói thế này: “Việc đi lên của Hồi Giáo chính trị từ thập niên 1970 trở đi là một hiện tượng nổi bật, có ảnh hưởng tới toàn vùng và tới hoàn cảnh người Kitô hữu trong thế giới Ả Rập. Phong trào Hồi Giáo chính trị này bao gồm nhiều trào lưu tôn giáo khác nhau nhằm áp đặt lối sống Hồi Giáo lên các xã hội Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư và mọi người sống trong các xã hội ấy, bất luận là người Hồi Giáo hay không. Đối với họ, nguyên nhân mọi tệ nạn là việc làm ngơ Hồi Giáo. Do đó, giải pháp là quay về với Hồi Giáo nguyên thủy. Bởi thế mới có khẩu hiệu: ‘Hồi Giáo là giải pháp’… Để theo đuổi mục tiêu này, nhiều người không ngần ngại sử dụng tới võ lực”. Dù chủ yếu nhằm vào xã hội Hồi Giáo, thái độ này đã ảnh hưởng mạnh tới sự hiện hữu của Kitô Giáo tại Trung Đông. Rõ ràng là một đe dọa đối với mọi người, dù theo Kitô Giáo hay theo Hồi Giáo, các trào lưu cực đoan này cần phải được xử lý chung.
(d) Di cư
25. Việc người Kitô hữu và không Kitô hữu di cư khỏi Trung Đông, một hiện tượng đã khởi sự từ cuối thế kỷ 19, chủ yếu phát sinh từ các lý do chính trị và kinh tế. Vào lúc đó, các liên hệ tôn giáo không được lý tưởng bao nhiêu. Tuy nhiên hệ thống tự trị (“millet” system) ban cấp cho các nhóm tôn giáo thiểu số cũng bảo đảm phần nào cho người Kitô hữu được bảo vệ bên trong các cộng đồng của họ, mặc dù không phải lúc nào cũng ngăn cản được tranh chấp vốn có tính bộ lạc và tôn giáo. Ngày nay, việc di cư hết sức phổ biến, do cuộc tranh chấp giữa người Do Thái và người Palestine tạo ra đủ thứ bất ổn trong cả vùng mà cao điểm là cuộc chiến tranh tại Iraq và tình trạng bất ổn chính trị tại Libăng.
26. Kế hoạch chính trị quốc tế, vì thường không đếm xỉa gì tới sự hiện diện của người Kitô hữu, nên càng tạo thêm dịp cho họ di cư. Cũng thế, tình hình chính trị hiện nay tại Trung Đông đang làm khó thêm cho nền kinh tế, một nền kinh tế vốn có khả năng đem lại một mức sống có thể chấp nhận được cho toàn bộ xã hội. Muốn có biện pháp giảm thiểu nạn di cư, người ta phải chú tâm đặc biệt tới các các thực tế chính trị và phạm vi dấn thân dành cho Giáo Hội.
27. Một phương thức khác là làm cho các Kitô hữu ý thức tốt hơn ý nghĩa việc họ hiện hữu tại một quốc gia nhất định, nơi họ có nhiệm vụ mang sứ điệp của Chúa Kitô tới, một sứ điệp cần được công bố bất chấp mọi khó khăn và bách hại.
(e) Việc các Kitô hữu từ khắp thế giới nhập cư vào Trung Đông
28. Hàng trăm ngàn công nhân từ khắp các nơi trên thế giới đã tới Trung Đông để làm việc: họ là người Phi Châu đến từ Ethiopia và Sudan, hay người Á Châu, nhất là người Phi Luật Tân, Sri Lanka, Bangladesh, Nepal, Pakistan và Ấn Độ. Nói chung, các di dân này là phụ nữ đến đây làm việc nhà để có tiền cho con ăn học và có được cuộc sống tươi đẹp hơn. Các phụ nữ này thường chịu nhiều bất công, bóc lột và lạm dụng tình dục hoặc bởi nhà nước nơi tiếp nhận họ, bởi các văn phòng đại diện giúp họ qua đây hay bởi các chủ nhân sử dụng họ.
29. Những người này cũng là trách nhiệm mục vụ trên cả hai phương diện tôn giáo và xã hội. Đôi khi, chính Giáo Hội cũng không làm được bao nhiêu để giúp đỡ họ. Vả lại, muốn tránh thái độ kẻ cả hay khinh miệt, cần thiết phải giáo dục các tín hữu về học thuyết xã hội của Giáo Hội.
C. Thái độ Kitô hữu trong đời sống hàng ngày
30. Đứng trước các thách đố trên đây, tác phong của Kitô hữu trong Giáo Hội và trong xã hội khá đa dạng:
-- nhiều Kitô hữu có niềm tin và biết dấn thân sẵn sàng chấp nhận và trung thành sống niềm tin của họ trong đời sống tư và công;
-- một số Kitô hữu “giáo dân” đã dấn thân rất sâu vào sinh hoạt công, bằng cách thành lập các đảng phái chính trị, nhất là thuộc phe Tả, hay trở thành đảng viên của một đảng phái đặc thù nào đó nhưng thường lại hy sinh niềm tin của mình;
-- các Kitô hữu khác sống niềm tin truyền thống của mình qua việc sùng kính và thực hành bên ngoài, những việc không có tác dụng gì đối cuộc sống thực tế hay bậc thang giá trị của họ. Trái lại, họ tuân phục các tiêu chuẩn và các giá trị thực tiễn của xã hội, đôi lúc, đi ngược hẳn lại Phúc Âm, coi cuộc đấu tranh của xã hội làm cuộc đấu tranh của chính mình, chỉ khác ở các thực hành tôn giáo bề ngoài hay lễ lạc linh đình;
-- sau cùng, lại còn nhiều Kitô hữu khác, thấy mình ở vị thế yếu kém, nhỏ nhoi so với người Hồi Giáo chiếm đa số, nên đã để cho sợ sệt tràn ngập, lo lắng, chỉ phập phồng trước những vi phạm tới quyền lợi của mình.
31. Cách thức sống đức tin trực tiếp liên hệ tới việc hiểu chính xác ý nghĩa việc làm thành viên trong Giáo Hội. Một đức tin sâu sắc là căn bản để có được một ý thức thuộc về vững chắc và đầy dấn thân. Trái lại, một đức tin hời hợt chỉ dẫn tới một ý thức thuộc về hoàn toàn tùy tiện. Thái độ đầu chứng tỏ một tư cách thành viên chân thực, đúng nghĩa, biết tham dự vào đời sống Giáo Hội và thể hiện mọi khía cạnh của đức tin mình. Với thái độ thứ hai, tư cách thành viên chỉ là tông phái (confessional), chỉ biết đòi Giáo Hội thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và xã hội, một thái độ tùy thuộc và thụ động.
32. Thành thử, việc hồi tâm có tính bản thân nơi Kitô hữu, bắt đầu từ các mục tử, là chủ yếu phải trở về với tinh thần Phúc Âm, để đời sống ta trở nên nhân chứng cho tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu luôn được phát biểu cách cụ thể đối với mỗi người và đối với mọi người; và phát biểu qua việc từ bỏ mọi vị kỷ, tị hiềm và yếu kém bản thân.
33. Đời sống tận hiến đang hiện diện tại các quốc gia của ta nhiều cách. Cuộc sống ấy phải nhấn mạnh tới khía cạnh chiêm niệm. Sứ mệnh hàng đầu của các đan sĩ và các tu sĩ chiêm niệm phải là cầu nguyện và cầu bầu cho xã hội trong các lãnh vực sau đây: công lý nhiều hơn trong chính trường và trong nền kinh tế; nhiều liên đới và tôn trọng hơn trong các liên hệ gia đình; can đảm hơn trong việc tố giác bất công; và nhiều trung thực hơn để không bị lôi kéo vào những tranh chấp dân sự hay mưu cầu quyền lợi bản thân. Đó là các mục tiêu đạo đức của các mục tử, các đan sĩ, các nhà chiêm niệm, các tu sĩ tận hiến và các nhà giáo dục, những người phải nêu gương trong các định chế của ta (trường học, đại học, trung tâm xã hội, bệnh viện…), để các tín hữu noi gương mà trở thành nhân chứng đích thực của Phuc Sinh nơi xã hội.
34. Việc đào luyện hàng giáo sĩ và hàng giáo dân của ta cũng như các bài giảng và các bài giáo lý của ta phải đem lại cho tín hữu một ý thức chân chính về đức tin của họ, giúp họ hiểu rõ vai trò nhân danh đức tin của mình trong xã hội. Họ phải được dạy để tìm kiếm và nhận ra Thiên Chúa trong mọi sự và trong mọi người, cố gắng làm cho mình hiện hữu trong xã hội và trong thế giới bằng việc thực hành các nhân đức bản thân và xã hội: đức công bằng, đức ngay thật, đức công chính, tinh thần hiếu khách, tình liên đới, mở rộng tâm hồn, sự trong sạch về luân lý, đức tín trung…
35. Để đạt được mục tiêu trên, phải cố gắng đặc biệt để tìm kiếm và đào tạo cho được “những người chủ yếu” cần thiết cho công tác trên: các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các nam nữ giáo dân, để họ trở nên các nhân chứng đích thực của Thiên Chúa giữa lòng xã hội, bất chấp mọi khó khăn, góp phần xây dựng xã hội văn minh (civitas).
Các câu hỏi
Sau đó là 9 câu hỏi về việc phải làm gì để cổ vũ ơn gọi, để cải thiện môi trường xã hội, để hỗ trợ có phê phán các ý niệm hiện đại trong xã hội, để gia tăng tự do tôn giáo và tự do lương tâm, để chặn đứng nạn di cư, để tôn trọng người nhập cư, để huấn luyện cán bộ lãnh đạo biết góp phần vàođời sống xã hội và chính trị của đất nước.
(Còn 2 chương)
Nhân tham dự Thánh Lễ hiệp thông với Đồng Chiêm tại Cộng Đồng Công Giáo Việt Nam ở Sydney, tôi bỗng thấy thân phận người Công Giáo Việt Nam tại quê hương thật giống với thân phận các đồng đạo của họ tại Trung Đông. Hai nơi với hai chế độ chính trị khác nhau nhưng cùng chung một thứ ý thức hệ. Nhiều người vẫn diễu cợt các chế độ Trung Đông cũng như chế độ Hà Nội về việc họ tự hào tôn trọng tự do tôn giáo như Bản Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền vốn tuyên xưng, mà thực tế thì cảnh vi phạm tự do tôn giáo xẩy ra như cơm bữa tại cả hai nơi ấy, đến độ những cơ quan như Amnesty International mỏi miệng tố cáo riết rồi cũng làm thinh luôn. Vì thực ra, cả hai nơi ấy đều tôn trọng tự do nói chung và tự do tôn giáo nói riêng cho những người được họ coi là công dân, coi là nhân dân, coi là “tín hữu”, chứ không phải loại không công dân, không tuân hành, không tin đạo, Infidel! Đến mức tột cùng, họ không coi loại người này là người nữa, nên có quyền giết bỏ nhân danh Thượng Đế, Thiên Chúa. Căn bản của thảm họa Trung Đông cũng như thảm họa Việt Nam hiện nay là người Kitô hữu, và cách riêng người Công Giáo, bị các ý thức hệ cực đoan này nhẹ nhất coi không phải là công dân (non-citizen) và tệ nhất không phải là người (non-people). Bởi thế, các cố gắng của thế giới tự do dân chủ hiện nay là tranh đấu để ít nhất tư cách người của mọi con người được công nhận, nếu chưa phải là tư cách công dân, vì nói cho cùng Bản Tuyên Ngôn của LHQ nói về nhân quyền chứ không hẳn dân quyền. Trong khi ấy, các ý thức hệ cực đoan kia không thích dùng chữ con người, mà chỉ nhấn mạnh tới công dân, nhân dân, tín hữu.
Năm nay, cả ở hai nơi ấy đều có những cơ hội để người Kitô hữu suy nghĩ về căn tính của mình. Ở Việt Nam là Năm Thánh kỷ niệm 350 năm thành lập hai tông toà đại diện đầu tiên, và 50 năm thành lập hàng giáo phẩm. Ở Trung Đông là Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới Về Trung Đông. Dù là kỷ niệm hay không kỷ niệm, cơ hội vẫn là qúy giá để người Kitô hữu suy nghĩ về chính mình. Có điều đối với Trung Đông, Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới tuy có nhìn về quá khứ, nhưng chủ yếu sẽ là nhìn về tương lai. Còn Năm Thánh 2010 ở Việt Nam, liệu có thoát khỏi cái nuối tiếc quá khứ để nhất định nhìn về tương lai hay không? Ta hãy chờ xem. Có người cho rằng: vì dùng dấu ấn giáo phẩm làm thước đo sự trưởng thành của Giáo Hội Việt Nam (2 tông tòa 1660 và hàng giáo phẩm 1960), nên hiện nay, điều gì người ta cũng “trăm dâu đổ tội tằm”, tại giám mục này, tại giám mục nọ, tại cả hàng giám mục nói chung, khiến cho nhận xét của một vị giám mục mới qua đời: giáo dân hơn linh mục, linh mục hơn giám mục được truyền tụng như một thần chú (mantra). Hơn hay không hơn chắc chắn là điều cần bàn cãi, nhưng rõ ràng các giáo dân ở Đồng Chiêm đang trở thành niềm kiêu hãnh cho toàn thể người Công Giáo Việt Nam khắp nơi trên thế giới, họ chứng tỏ điều này: cái lịch sử gần một nửa thiên niên kỷ kia của Giáo Hội Việt Nam đã mang lại hoa trái rực rỡ, sản sinh ra những tín hữu biết vận dụng được sở học, sở suy tư nghiền ngẫm, sở đào tạo, sở sống thực của biết bao thế hệ các nhà lãnh đạo tinh thần và đồng đạo của mình để tự đứng trên đôi chân của mình mà hành động. Thành công hay thất bại, đạt được mục tiêu hay không, không phải là cái cớ để họ thoái lui. Nhiều người có thái độ của những khán giả quá khích, hồi hộp “lo sợ” hơn cả chính các cầu thủ nhà đang cố gắng thi đấu và khi họ lỡ thua, thì lên tiếng chỉ trích đủ người, đủ phía, làm như mình tài giỏi hơn ai hết!
Các chuẩn bị cho Thượng Hội Đồng
Nhân cơ hội này, tìm hiểu đôi chút về Thượng Hội Đồng Trung Đông thiển nghĩ không hẳn là chuyện dư thừa, vô bổ. Nó giúp ta phản tỉnh phần nào để nhận ra căn tính đích thực của mình trong hoàn cảnh dầu sôi lửa bỏng. Người Kitô hữu Trung Đông không những chỉ là đồng đạo mà còn là đồng số phận với ta.
Thượng Hội Đồng Trung Đông sẽ được triệu tập tại Vatican vào mùa thu này. Các chuẩn bị ráo riết đang được xúc tiến. Ngày 19 tháng Giêng năm nay, Tòa Thánh đã tổ chức một cuộc họp báo để công bố các đề cương cho THĐ. Nhân dịp này, vị Tổng Thư Ký THĐ là Đức TGM Nikola Eterovic tuyên bố rằng: trong một miền mà Kitô hữu bị coi không phải là công dân, thì việc làm chứng cho Chúa Kitô và giá trị Phúc Âm phải là điều chủ yếu, không những cho việc canh tân hiện nay mà còn cho cả một tương lai tốt đẹp hơn nữa. Một ủy ban tiền THĐ đã được thành lập. Ủy ban này gồm 7 vị thượng phụ, tức 6 vị thượng phụ của 6 Giáo Hội tự lập (sui juris) Đông Phương và thượng phụ Latinh của Giêrusalem. Bốn vị bộ trưởng của Giáo Triều Rôma cũng là thành viên của ủy ban này.
Cuộc xuất hành hiện đại
Tài liệu cũng đề cập tới vấn đề hiện vẫn đang xẩy ra là hiện tượng các Kitô hữu ồ ạt rời bỏ Đất Thánh. Đức TGM Etorovic cho thấy cuộc “xuất hành” này đang làm cho toàn thể xã hội trở nên yếu kém. Vì theo ngài, tại vùng này, các Kitô hữu “đã dùng lời cầu nguyện và các trợ giúp cụ thể để hỗ trợ anh chị em mình tại Trung Đông, vốn là cái nôi của Kitô Giáo, cũng như anh chị em thuộc hai tôn giáo độc thần là Do Thái Giáo và Hồi Giáo”.
Ngoài việc cầu nguyện và bác ái ra, vị giáo chủ này cũng cho rằng Kitô giáo còn một đóng góp khác đối với vùng đầy tranh chấp này đó là lòng hy vọng. Ngài bảo: “Niềm hy vọng của Kitô Giáo, phát sinh ngay tại Đất Thánh, đã khích lệ người tín hữu suốt 2 nghìn năm qua. Ngày nay cũng thế, ngay giữa các khó khăn và thách đố, đối với Kitô hữu cũng như mọi người thiện chí, nó vẫn tiếp tục là nguồn suối bất tận cho đức tin, đức ái và niềm vui được làm chứng cho Chúa Giêsu phục sinh, Đấng vẫn hiện diện giữa cộng đoàn các môn đệ của Người”.
Bản đề cương
Bản đề cương mà tiếng Latinh gọi là “lineamenta” của THĐ về Trung Đông đã được công bố vào ngày 19 tháng Giêng tại Vatican. Chủ đề của THĐ là “Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông: Hiệp Thông và Chứng Tá. ‘Giờ đây cộng đoàn tín hữu chỉ có một lòng một ý’” (Cv 4:32).
Bản đề cương được công bố bằng bốn thứ tiếng: Ả Rập, Anh, Pháp và Ý. Phần mở đầu của tài liệu nói tới các mục tiêu mục vụ chính của THĐ: “Củng cố và làm vững mạnh căn tính của Kitô hữu bằng Lời Chúa và các bí tích, và sâu sắc hóa sự hiệp thông giữa các Giáo Hội đặc thù”.
Như thông lệ, mỗi phần của bản đề cương đều có kèm theo nhiều câu hỏi. Có tất cả 32 câu hỏi và mục đích của chúng là để hướng dẫn việc suy tư của các định chế tiếp nhận: các thượng hội đồng giám mục của các Giáo Hội Công Giáo Phương Đông, các hội đồng giám mục, các thánh bộ của Giáo Triều Rôma, Liên Hiệp các Bề Trên Cả các Dòng, và để thảo luận nội dung của tài liệu, đem các nguyên tắc này áp dụng vào thực tế của từng thực thể Giáo Hội liên hệ.
Hạn chót cho các định chế trên trả lời là Lễ Phục Sinh, mồng 4 tháng Tư năm 2010, để kịp thời soạn thảo và công bố “Tài Liệu Làm Việc (Instrumentum Laboris) mà Đức Bênêđíctô XVI sẽ trao cho đại diện các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương dịp ngài tông du đảo Sýp vào tháng Sáu tới. Sau đây là tóm tắt nội dung bản đề cương:
Các Chỉ Dẫn cho Trung Đông
Lời nói đầu
Trong phần nói đầu của bản đề cương, Đức TGM Eterovic, Tổng Thư Ký của THĐ, viết rằng: Sách Tông Đồ Công Vụ dùng hai đoạn văn đặc biệt nhấn mạnh đến việc các Kitô hữu chia sẻ mọi thiện ích với nhau, cho thấy một sự hợp nhất rất nồng nàn: “Tất cả các tín hữu hợp nhất với nhau, và để mọi sự làm của chung” (Cv 2:44). Chủ đề của THĐ sắp tới lấy từ đoạn thứ hai “giờ đây, cộng đoàn tín hữu chỉ có một lòng một ý” (Cv 4:32). Thánh Luca nêu hai thí dụ, một thí dụ tích cực là trình thuật về Joseph (cũng có tên là Barnabas) đã bán cánh đồng của mình rồi “mang tiền bán tới đặt dưới chân các tông đồ”; một thí dụ tiêu cực kể truyện vợ chồng Ananias và Sapphira chỉ tặng một phần tiền bán đất cho cộng đoàn, còn giữ lại cho riêng mình phần còn lại, nên đã bị phạt chết thảm. Hai thí dụ ấy khích lệ các Kitô hữu sống lý tưởng hiệp thông và chứng tá một cách cụ thể và hoàn toàn đến độ “chỉ còn một lòng một ý”.
Đức TGM sau đó nhắc qua các diễn biến dẫn tới THĐ sắp tới. Ngài cho biết: nhân dịp tiếp các vị thượng phụ và tổng giám mục của các Giáo Hội Công Giáo Đông Phương ngày 19 tháng 9 năm 2009, Đức Bênêđíctô XVI đã công bố sẽ triệu tập THĐ Đặc Biệt về Trung Đông. Đồng thời, ngài cũng chọn chủ đề trên cho THĐ. Người ta còn nhớ, Đức Thánh Cha tông du Đất Thánh từ mồng 8 tới ngày 15 tháng Năm năm 2009, nên đã sẵn sàng chấp thuận lời yêu cầu của nhiều vị giám mục muốn có một THĐ về Trung Đông nhằm mục đích xem sét lại cách thấu đáo các giáo huấn của Sách Tông Đồ Công Vụ, để sống lại kinh nghiệm của Cộng Đồng Giáo Hội Sơ Khai một cách trưởng thành hơn và để làm chứng bằng lời và nhất là bằng việc làm cho vinh quang Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần trong tình thế phức tạp ngày nay tại các quốc gia Trung Đông. Đức tin của người Kitô hữu Trung Đông có mục tiêu nuôi dưỡng lòng hy vọng trong mọi trạng huống vô vọng, vì lòng hy vọng này không dựa vào khả năng con người mà dựa vào quyền năng Thiên Chúa. Kết quả, đức tin và đức cậy sẽ dẫn tới đức ái, hướng về người lân cận. Đức ái này thấy rõ nơi Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông qua sự hiện diện liên tục của các Kitô hữu tại mảnh đất quê hương của họ này kể từ thời Chúa Giêsu. Rõ ràng đức ái này cũng được biểu lộ qua nhiều công tác tông đồ giá trị mà các chi thể của Giáo Hội Công Giáo tại Trung Đông này đã thực hiện nhằm đóng góp vào sự phát triển toàn diện của xã hội như một toàn thể.
Sau đó, Đức TGM Eterovic nhắc lại các bước chuẩn bị cho THĐ gồm việc thành lâp ủy ban Tiền THĐ và nhiệm vụ soạn thảo bản đề cương nhằm thu thập các câu trả lời. Các câu trả lời này sẽ được gửi về cho Tổng Thư Ký THĐ, làm căn bản soạn thảo Tài Liệu Làm Việc cho THĐ. Đức TGM Eterovic tin rằng THĐ này sẽ là một cơ hội tốt đẹp để đối thoại nhiều hơn với người Do Thái Giáo và Hồi Giáo, đồng thời thâm hậu hóa sự hiệp thông với mọi người thiện chí tại Trung Đông.
Nhập Đề
1. Sáng kiến triệu tập THĐ về Trung Đông cho thấy mối ưu tư lo lắng của Đức GH đối với mọi Giáo Hội và là biến cố quan trọng chứng tỏ quan tâm của Giáo Hội Hoàn Vũ đối với các GH của Chúa tại Trung Đông. Chính các GH tại Trung Đông được mời gọi cách riêng can dự vào biến cố này ngõ hầu nó trở thành một biến cố đầy ơn thánh trong cuộc sống Kitô hữu tại Trung Đông.
A. Mục tiêu của THĐ
2. THĐ này có hai mục đích: củng cố và làm vững mạnh căn tính các Kitô hữu bằng Lời Chúa và các bí tích, và thâm hậu hóa sự hiệp thông giữa các Giáo Hội đặc thù, để các GH này làm chứng cho cuộc sống Kitô Giáo một cách chân thực, hân hoan và hấp dẫn. GHCG không đơn độc tại Trung Đông. Nơi đó còn có các GH Chính Thống và các cộng đồng Thệ Phản. Khía cạnh đại kết ấy hết sức căn bản nếu ta muốn cho việc làm chứng Kitô Giáo trở thành chân chính và khả tín.
3. Như thế, hiệp thông cần được sâu sắc hóa trên mọi bình diện: bên trong các GHCG tại Trung Đông, giữa mọi GHCG trong vùng và trong tương giao với các GH Kitô Giáo và cộng đồng giáo hội khác. Đồng thời, ta cũng phải củng cố việc làm chứng với người Do Thái Giáo và Hồi Giáo, với người tin lẫn người không tin.
4. THĐ cũng mang lại cho ta cơ hội để lượng giá tình thế xã hội cũng như tôn giáo, giúp các Kitô hữu thấy rõ tầm ý nghĩa của việc họ hiện diện giữa các xã hội Hồi Giáo (Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ hay Iran) và vai trò cũng như sứ mệnh của họ trong mỗi quốc gia, nhờ đó, chuẩn bị cho họ trở thành các nhân chứng của Chúa Kitô nơi họ sinh sống. Điều này bao gồm việc suy tư về tình thế hiện nay, một tình thế khó khăn với nhiều tranh chấp, bất ổn và biến động chính trị và xã hội tại phần lớn các quốc gia trong vùng.
B. Một suy tư được Thánh Kinh hướng dẫn
5. Suy tư của ta sẽ được Sách Thánh hướng dẫn, một Sách Thánh vốn được viết trên các mảnh đất này, bằng các thứ tiếng của chính chúng ta (Híp-ri, Aram hay Hy Lạp) và trong ngữ cảnh văn hóa và văn học và các biểu thức được coi là của chính chúng ta. Lời Chúa hằng được đọc trong các Giáo Hội của ta. Các Sách Thánh ấy từng đến với ta qua các cộng đoàn Giáo Hội của chính ta. Phải lấy nó làm điểm qui chiếu nếu ta muốn tìm ra ý nghĩa sự hiện diện của ta, sự hiệp thông và chứng tá của ta trong hoàn cảnh hiện nay của xứ sở.
6. Lời Chúa nói gì với ta ở đây và ngay lúc này, với từng Giáo Hội, với từng quốc gia? Sự quan phòng đầy yêu thương của Thiên Chúa biểu lộ ra sao đối với chúng ta trong cả hai hoàn cảnh thuận lợi và bất lợi của cuộc sống hàng ngày? Chúa đòi hỏi nơi ta những gì trong lúc này: ở lại chăng để dấn thân vào các biến cố đang nằm trong sự chăm sóc của Quan Phòng và ơn thánh? Hay nên ra đi?
7. Bởi thế, vấn đề ở đây, và cũng là một trong các mục tiêu của THĐ, là phải tái khám phá ra Lời Chúa trong Thánh Kinh được nói với chúng ta ngày nay. Lời Chúa nói với ta trong hiện tại chứ không phải chỉ trong quá khứ và giải thích cho ta điều đang xẩy ra quanh ta, y như Lời Chúa đã làm đối với 2 Môn Đệ Emmaus. Việc khám phá ấy phát sinh chủ yếu nhờ việc đọc và suy niệm Thánh Kinh, hoặc từng cá nhân hoặc trong các gia đình và cộng đoàn sống động. Tuy nhiên, điều chủ yếu là việc đọc này phải hướng dẫn được các lựa chọn, các quyết định hàng ngày của ta trong cuộc sống bản thân, gia đình, xã hội và chính trị.
Các câu hỏi
a. Bạn có đọc Thánh Kinh theo phương diện cá nhân, trong gia đình hay trong cộng đoàn không?
b. Việc đọc này có soi sáng cho các quyết định của bạn trong gia đình, trong sinh hoạt nghề nghiệp và công dân không?
CHƯƠNG I: GIÁO HỘI CÔNG GIÁO TẠI TRUNG ĐÔNG
A. Tình thế các Kitô hữu tại Trung Đông
(a) Một thoáng nhìn lịch sử: hợp nhất trong đa dạng
8. Giống mọi cộng đồng Kitô Giáo trên khắp thế giới, các GHCG tại TĐ đều phát xuất từ Giáo Hội Kitô Giáo đầu tiên tại Giêrusalem, được Chúa Thánh Thần làm cho nên một vào ngày Lễ Ngũ Tuần. Đến thế kỷ thứ 5, sau 2 CĐ Êphêsô và Canxêđoan, GH kinh qua nhiều chia rẽ, chủ yếu quanh vấn đề Kitô học. Cuộc ly khai đầu tiên từ những chia rẽ ấy trong các GH đưa lại điều ngày nay ta biết dưới tên “Giáo Hội Tông Đồ Átxiri tại Đông Phương” (cũng có tên là GH Néttôriô) và các “GH Chính Thống Đông Phương” tức các GH Cốptíc, Syria và Ácmêni, mà trước đây từng được gọi là các giáo hội nhất tính (monophysite). Thường thường, các chia rẽ này cũng phản ảnh các yếu tố văn hóa và chính trị, như nhận định của một số nhà thần học Đông Phương thời Trung Cổ đại diện cho cả ba truyền thống lớn tức Menkít, Giacôbít và Néttôriô. Các nhà thần học này cho rằng sự chia rẽ trên không hề có một căn bản tín lý nào. Sau đó xẩy ra cuộc Ly Giáo Vĩ Đại của thế kỷ thứ 11 tách Côngtăngtinốp ra khỏi Rôma, và do đó tách Đông Phương Chính Thống ra khỏi Tây Phương Công Giáo. Các chia rẽ này vẫn còn hiện hữu ngày nay trong nhiều GH tại TĐ.
9. Tiếp theo các chia rẽ và phân rẽ này, nhiều cố gắng định kỳ đã được đưa ra nhằm tái lập sự hợp nhất cho Nhiệm Thể Chúa Kitô. Các cố gắng đại kết đó đã phát sinh ra các GHCG Đông Phương: Ácmêni, Canđê, Menkít, Syriác và Cốptíc. Thoạt đầu, các GH này có khuynh hướng tranh luận với các GH Chính Thống Chị Em, nhưng dần dần, đã trở thành những người cùng họ nhiệt thành bênh vực một Trung Đông Kitô Giáo.
10. Giáo Hội Marônít luôn duy trì sự hợp nhất với Giáo Hội Hoàn Vũ và suốt trong lịch sử lâu dài của nó, chưa bao giờ kinh qua bất cứ chia rẽ nội bộ nào. Tòa Thượng Phụ Latinh của Giêrusalem, thiết lập từ thời Thập Tự Chinh, đã được tái lập trong thế kỷ 19, nhờ sự hiện diện liên tục của các cha Dòng Phanxicô, từng có mặt tại Đất Thánh từ thế kỷ 13.
11. Ngày nay, 7 GHCG đang hiện hữu tại Trung Đông, phần lớn nói tiếng Ả Rập hay sử dụng mẫu tự Ả Rập. Một số cũng hiện hữu tại Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư (Iran). Các GH này khác nhau về văn hóa và do đó, có truyền thống phụng vụ rất độc đáo, tạo nên nét phong phú và bổ túc lẫn nhau. Họ đều hiệp thông với Giáo Hội Hoàn Vũ, quây quần chung quanh Đức Giáo Hoàng, đấng kế vị Thánh Phêrô, thủ lãnh (coryphaeus) các tông đồ. Tính đa dạng là căn bản cho sự phong phú của họ, một sự phong phú chỉ có thể bị nghèo nàn đi vì sự quá gắn bó với nghi thức và văn hóa. Ngày nay, sự hợp tác giữa các tín hữu đang diễn tiến bình thường và tự nhiên ở mọi bình diện.
(b) Tính tông truyền và ơn gọi truyền giáo
12. Từ nguồn gốc, các GH của ta vốn có tính tông truyền và các quốc gia của ta vốn là cái nôi của Kitô Giáo. Ngày 9 tháng 6 năm 2007, Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI từng nói rằng các GH này là những người canh giữ sống động nguồn gốc Kitô Giáo của ta. Các mảnh đất này từng được chúc phúc nhờ sự hiện diện của chính Chúa Kitô và các thế hệ Kitô hữu đầu tiên. Thật là một mất mát lớn lao cho Giáo Hội Hoàn Vũ nếu các Kitô Hữu này biến mất hay giảm thiểu ngay tại nơi GH ấy sinh ra. Cho nên, ta có trách nhiệm nặng nề không những phải duy trì đức tin Kitô Giáo tại các mảnh đất thánh thiêng này, mà hơn thế, còn phải duy trì tinh thần Phúc Âm nơi các dân tộc Kitô Giáo và mối tương quan của họ với những người không phải là Kitô hữu, đồng thời giữ cho ký ức về các khởi đầu ấy của Kitô Giáo luôn luôn sống động.
13. Vì là tông truyền, các GH của ta có sứ mệnh đặc biệt phải đem Phúc Âm tới toàn thế giới. Trong suốt lịch sử, nhiệt thành tông đồ này đã trổ sinh một số Giáo Hội tại Nubia và Ethiopia, tại Bán Đảo Ả Rập, tại Ba Tư, tại Ấn Độ và cả tại Trung Hoa nữa. Ngày nay, trong nhiều trường hợp, đang có những dấu hiệu cho thấy nhiệt tình tông đồ ấy đã nguội đi và ngọn lửa của Chúa Thánh Thần dường như đã giảm thiểu.
14. Lịch sử và văn hóa của ta giúp ta cơ hội giao tiếp với hàng trăm triệu con người về phương diện văn hóa và thiêng liêng. Trách nhiệm của ta là chia sẻ với họ sứ điệp yêu thương của Phúc Âm mà ta đã tiếp nhận. Vào một thời điểm trong đó nhiều người mất hướng và đang đi tìm một tia hy vọng, ta hãy đem lại cho họ niềm hy vọng vốn có trong ta nhờ sự tràn đầy Chúa Thánh Thần trong tâm hồn ta (xem Rm 5:5).
(c) Vai trò người Kitô hữu trong xã hội, bất chấp tính thiểu số của họ
15. Bất chấp các dị biệt, các xã hội Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư của ta vẫn có những đặc điểm chung. Các truyền thống và lối sống cổ truyền vẫn thịnh hành, nhất là liên quan đến gia đình và giáo dục. Ở đây, chủ nghĩa tông phái (confessionalism) là đặc điểm của cả người Kitô hữu lẫn những người không phải là Kitô hữu và ảnh hưởng lớn tới thái độ và tác phong dân chúng. Tôn giáo có thể phát sinh ra chia rẽ, người này với người nọ.
16. Tính hiện đại mỗi ngày mỗi bàng bạc hơn trong xã hội. Việc sử dụng các kênh truyền hình thế giới và liên mạng dẫn đến cả các giá trị mới lẫn việc mất các giá trị trong xã hội dân chính và nơi Kitô hữu. Phản ứng lại tình thế ấy, các nhóm cực đoan Hồi Giáo đang phát triển mạnh. Những người cầm quyền thì phản ứng một cách độc đoán bằng cách kiểm soát chặt chẽ báo chí và truyền thông. Tuy nhiên, đa số dân chúng đang chờ mong dân chủ thật sự.
17. Dù các Kitô hữu là thiểu số trong hầu hết các miền thuộc Trung Đông, chỉ trừ Libăng: họ chiếm từ 1% tại Ba Tư, Thổ Nhĩ Kỳ tới 10% tại Ai Cập, nhưng họ rất tích cực, năng động và sâu sắc. Nguy hiểm một điều: họ có thể tự cô lập vì sợ người khác. Các tín hữu của ta, vì thế, cần được củng cố trong đức tin và cuộc sống thiêng liêng, họ cần được tôi luyện lại trong liên hệ xã hội và tình liên đới giữa họ với nhau. Tuy nhiên phải làm điều đó trong tinh thần không rơi vào não trạng khép kín (ghetto). Ngoài ra, giáo dục phải là việc đầu tư lớn nhất của ta. Các Giáo Hội và trường học của ta cần làm nhiều hơn nữa để giúp đỡ những người kém may mắn nhất.
B. Các thách đố của Kitô hữu
(a) Tranh chấp chính trị trong vùng
18. Các tranh chấp chính trị trong vùng đã trực tiếp ảnh hưởng tới cuộc sống người Kitô hữu, cả trong tư cách công dân lẫn trong tư cách Kitô hữu. Việc người Do Thái chiếm đóng các lãnh thổ Palestine đã làm cho cuộc sống hàng ngày trở nên khó khăn liên quan tới quyền tự do di chuyển, nền kinh tế và sinh hoạt tôn giáo. Ra vào những nơi thánh phải tùy thuộc giấy phép của quân đội, một thứ giấy phép được cấp phát tùy tiện, người được, người không, hoàn toàn dựa vào lý do an ninh. Đàng khác, một số nền thần học cực đoan Kitô Giáo lại còn dùng Thánh Kinh mà biện hộ cho việc chiếm đóng kia, khiến cho vị thế của người Ả Rập theo Kitô Giáo càng trở nên tế nhị.
19. Tại Iraq, chiến tranh đã thả lỏng nhiều lực lượng tàn ác trong xứ sở, trong đó có các hệ phái tôn giáo và nhiều phong trào chính trị, khiến mọi người dân Iraq trở thành nạn nhân. Tuy nhiên, vì Kitô hữu đại diện cho phần nhỏ nhất và yếu nhất trong các cộng đồng Iraq, nên họ đã trở thành các nạn nhân chính mà nền chính trị thế giới không hề ghi nhận.
20. Tại Libăng, Kitô hữu chia rẽ nhau một cách sâu xa trên cả hai bình diện chính trị và hệ phái đến nỗi không tìm ra được kế sách gì chung để hành động. Tại Ai Cập, việc đi lên của Hồi Giáo chính trị một bên và bên kia việc rút lui khỏi đời sống công cộng của người Kitô hữu đã dẫn tới hiện tượng bất khoan dung, bất bình đẳng và bất công. Hơn nữa, việc Hồi Giáo Hóa này cũng xâm nhập vào các gia đình qua truyền thông và trường học, dẫn tới một thay đổi ít ai thấy về thái độ có tính chất Hồi Giáo. Tại nhiều quốc gia, chủ nghĩa độc đoán hay độc tài buộc dân chúng, trong đó có Kitô hữu, phải câm lặng để còn duy trì được những cái thiết yếu. Tại Thổ Nhĩ Kỳ, ý niệm “thế tục” đang đặt ra nhiều vấn nạn đối với quyền tự do đầy đủ về tôn giáo.
21. Hoàn cảnh ấy của các Kitô hữu tại các quốc gia Ả Rập khác nhau đã được mô tả trong đoạn 13 Thư Mục Vụ số 10 của các vị Thượng Phụ Công Giáo, năm 2009. Các kết luận của nó bác bỏ thái độ chủ trương đầu hàng: “Đối diện với các thực tại khác nhau ấy, nhiều người vẫn mạnh mẽ trong đức tin và trong việc dấn thân vào xã hội, sẵn sàng chia sẻ các hy sinh chung và đóng góp vào kế hoạch toàn diện của xã hội. Trái lại, nhiều người khác tỏ ra ngã lòng và mất hết tin tưởng vào xã hội của mình, vào khả năng nó có thể ban cấp cho họ một vị thế bình đẳng với các công dân khác, dẫn tới việc họ từ bỏ mọi cam kết, thu mình vào trong Giáo Hội và các định chế của mình, sống cô lập và tránh mọi hành động qua lại với xã hội”
(b) Tự do tôn giáo và tự do lương tâm
22. Tại Trung Đông, tự do tôn giáo thường có nghĩa là tự do thờ phượng chứ không phải tự do lương tâm, hay tự do thay đổi tôn giáo của mình để tin theo một tôn giáo khác. Nói một cách tổng quát, tôn giáo tại Trung Đông là một lựa chọn có tính xã hội, có khi còn là lựa chọn có tính quốc gia nữa, chứ không phải là lựa chọn của cá nhân. Thay đổi tôn giáo, vì thế, bị coi như phản bội xã hội, văn hóa và dân tộc mà phần lớn được lập nền tảng trên truyền thống tôn giáo.
23. Người ta coi việc trở lại như hậu quả của việc cải đạo (proselytism) với quyền lợi bản thân gắn liền vào đó, chứ không hẳn là xác tín tôn giáo chính danh. Thường thường, luật nhà nước ngăn cấm người Do Thái Giáo và người Hồi Giáo không được gia nhập các tôn giáo khác. Các Kitô hữu, dù cũng bị áp lực và chống đối của gia đình và dòng tộc, nhưng nói chung được tự do thay đổi tôn giáo của mình. Nhiều khi, người Kitô hữu gia nhập Hồi Giáo không phải vì xác tín tôn giáo cho bằng vì các quyền lợi bản thân hay bị áp lực từ việc cải đạo của tôn giáo này.
(c) Các Kitô hữu và việc phát triển của Hồi Giáo hiện nay
24. Trong một thư mục vụ trước đây, các vị Thượng Phụ Công Giáo của Trung Đông từng nói thế này: “Việc đi lên của Hồi Giáo chính trị từ thập niên 1970 trở đi là một hiện tượng nổi bật, có ảnh hưởng tới toàn vùng và tới hoàn cảnh người Kitô hữu trong thế giới Ả Rập. Phong trào Hồi Giáo chính trị này bao gồm nhiều trào lưu tôn giáo khác nhau nhằm áp đặt lối sống Hồi Giáo lên các xã hội Ả Rập, Thổ Nhĩ Kỳ và Ba Tư và mọi người sống trong các xã hội ấy, bất luận là người Hồi Giáo hay không. Đối với họ, nguyên nhân mọi tệ nạn là việc làm ngơ Hồi Giáo. Do đó, giải pháp là quay về với Hồi Giáo nguyên thủy. Bởi thế mới có khẩu hiệu: ‘Hồi Giáo là giải pháp’… Để theo đuổi mục tiêu này, nhiều người không ngần ngại sử dụng tới võ lực”. Dù chủ yếu nhằm vào xã hội Hồi Giáo, thái độ này đã ảnh hưởng mạnh tới sự hiện hữu của Kitô Giáo tại Trung Đông. Rõ ràng là một đe dọa đối với mọi người, dù theo Kitô Giáo hay theo Hồi Giáo, các trào lưu cực đoan này cần phải được xử lý chung.
(d) Di cư
25. Việc người Kitô hữu và không Kitô hữu di cư khỏi Trung Đông, một hiện tượng đã khởi sự từ cuối thế kỷ 19, chủ yếu phát sinh từ các lý do chính trị và kinh tế. Vào lúc đó, các liên hệ tôn giáo không được lý tưởng bao nhiêu. Tuy nhiên hệ thống tự trị (“millet” system) ban cấp cho các nhóm tôn giáo thiểu số cũng bảo đảm phần nào cho người Kitô hữu được bảo vệ bên trong các cộng đồng của họ, mặc dù không phải lúc nào cũng ngăn cản được tranh chấp vốn có tính bộ lạc và tôn giáo. Ngày nay, việc di cư hết sức phổ biến, do cuộc tranh chấp giữa người Do Thái và người Palestine tạo ra đủ thứ bất ổn trong cả vùng mà cao điểm là cuộc chiến tranh tại Iraq và tình trạng bất ổn chính trị tại Libăng.
26. Kế hoạch chính trị quốc tế, vì thường không đếm xỉa gì tới sự hiện diện của người Kitô hữu, nên càng tạo thêm dịp cho họ di cư. Cũng thế, tình hình chính trị hiện nay tại Trung Đông đang làm khó thêm cho nền kinh tế, một nền kinh tế vốn có khả năng đem lại một mức sống có thể chấp nhận được cho toàn bộ xã hội. Muốn có biện pháp giảm thiểu nạn di cư, người ta phải chú tâm đặc biệt tới các các thực tế chính trị và phạm vi dấn thân dành cho Giáo Hội.
27. Một phương thức khác là làm cho các Kitô hữu ý thức tốt hơn ý nghĩa việc họ hiện hữu tại một quốc gia nhất định, nơi họ có nhiệm vụ mang sứ điệp của Chúa Kitô tới, một sứ điệp cần được công bố bất chấp mọi khó khăn và bách hại.
(e) Việc các Kitô hữu từ khắp thế giới nhập cư vào Trung Đông
28. Hàng trăm ngàn công nhân từ khắp các nơi trên thế giới đã tới Trung Đông để làm việc: họ là người Phi Châu đến từ Ethiopia và Sudan, hay người Á Châu, nhất là người Phi Luật Tân, Sri Lanka, Bangladesh, Nepal, Pakistan và Ấn Độ. Nói chung, các di dân này là phụ nữ đến đây làm việc nhà để có tiền cho con ăn học và có được cuộc sống tươi đẹp hơn. Các phụ nữ này thường chịu nhiều bất công, bóc lột và lạm dụng tình dục hoặc bởi nhà nước nơi tiếp nhận họ, bởi các văn phòng đại diện giúp họ qua đây hay bởi các chủ nhân sử dụng họ.
29. Những người này cũng là trách nhiệm mục vụ trên cả hai phương diện tôn giáo và xã hội. Đôi khi, chính Giáo Hội cũng không làm được bao nhiêu để giúp đỡ họ. Vả lại, muốn tránh thái độ kẻ cả hay khinh miệt, cần thiết phải giáo dục các tín hữu về học thuyết xã hội của Giáo Hội.
C. Thái độ Kitô hữu trong đời sống hàng ngày
30. Đứng trước các thách đố trên đây, tác phong của Kitô hữu trong Giáo Hội và trong xã hội khá đa dạng:
-- nhiều Kitô hữu có niềm tin và biết dấn thân sẵn sàng chấp nhận và trung thành sống niềm tin của họ trong đời sống tư và công;
-- một số Kitô hữu “giáo dân” đã dấn thân rất sâu vào sinh hoạt công, bằng cách thành lập các đảng phái chính trị, nhất là thuộc phe Tả, hay trở thành đảng viên của một đảng phái đặc thù nào đó nhưng thường lại hy sinh niềm tin của mình;
-- các Kitô hữu khác sống niềm tin truyền thống của mình qua việc sùng kính và thực hành bên ngoài, những việc không có tác dụng gì đối cuộc sống thực tế hay bậc thang giá trị của họ. Trái lại, họ tuân phục các tiêu chuẩn và các giá trị thực tiễn của xã hội, đôi lúc, đi ngược hẳn lại Phúc Âm, coi cuộc đấu tranh của xã hội làm cuộc đấu tranh của chính mình, chỉ khác ở các thực hành tôn giáo bề ngoài hay lễ lạc linh đình;
-- sau cùng, lại còn nhiều Kitô hữu khác, thấy mình ở vị thế yếu kém, nhỏ nhoi so với người Hồi Giáo chiếm đa số, nên đã để cho sợ sệt tràn ngập, lo lắng, chỉ phập phồng trước những vi phạm tới quyền lợi của mình.
31. Cách thức sống đức tin trực tiếp liên hệ tới việc hiểu chính xác ý nghĩa việc làm thành viên trong Giáo Hội. Một đức tin sâu sắc là căn bản để có được một ý thức thuộc về vững chắc và đầy dấn thân. Trái lại, một đức tin hời hợt chỉ dẫn tới một ý thức thuộc về hoàn toàn tùy tiện. Thái độ đầu chứng tỏ một tư cách thành viên chân thực, đúng nghĩa, biết tham dự vào đời sống Giáo Hội và thể hiện mọi khía cạnh của đức tin mình. Với thái độ thứ hai, tư cách thành viên chỉ là tông phái (confessional), chỉ biết đòi Giáo Hội thỏa mãn mọi nhu cầu vật chất và xã hội, một thái độ tùy thuộc và thụ động.
32. Thành thử, việc hồi tâm có tính bản thân nơi Kitô hữu, bắt đầu từ các mục tử, là chủ yếu phải trở về với tinh thần Phúc Âm, để đời sống ta trở nên nhân chứng cho tình yêu Thiên Chúa, một tình yêu luôn được phát biểu cách cụ thể đối với mỗi người và đối với mọi người; và phát biểu qua việc từ bỏ mọi vị kỷ, tị hiềm và yếu kém bản thân.
33. Đời sống tận hiến đang hiện diện tại các quốc gia của ta nhiều cách. Cuộc sống ấy phải nhấn mạnh tới khía cạnh chiêm niệm. Sứ mệnh hàng đầu của các đan sĩ và các tu sĩ chiêm niệm phải là cầu nguyện và cầu bầu cho xã hội trong các lãnh vực sau đây: công lý nhiều hơn trong chính trường và trong nền kinh tế; nhiều liên đới và tôn trọng hơn trong các liên hệ gia đình; can đảm hơn trong việc tố giác bất công; và nhiều trung thực hơn để không bị lôi kéo vào những tranh chấp dân sự hay mưu cầu quyền lợi bản thân. Đó là các mục tiêu đạo đức của các mục tử, các đan sĩ, các nhà chiêm niệm, các tu sĩ tận hiến và các nhà giáo dục, những người phải nêu gương trong các định chế của ta (trường học, đại học, trung tâm xã hội, bệnh viện…), để các tín hữu noi gương mà trở thành nhân chứng đích thực của Phuc Sinh nơi xã hội.
34. Việc đào luyện hàng giáo sĩ và hàng giáo dân của ta cũng như các bài giảng và các bài giáo lý của ta phải đem lại cho tín hữu một ý thức chân chính về đức tin của họ, giúp họ hiểu rõ vai trò nhân danh đức tin của mình trong xã hội. Họ phải được dạy để tìm kiếm và nhận ra Thiên Chúa trong mọi sự và trong mọi người, cố gắng làm cho mình hiện hữu trong xã hội và trong thế giới bằng việc thực hành các nhân đức bản thân và xã hội: đức công bằng, đức ngay thật, đức công chính, tinh thần hiếu khách, tình liên đới, mở rộng tâm hồn, sự trong sạch về luân lý, đức tín trung…
35. Để đạt được mục tiêu trên, phải cố gắng đặc biệt để tìm kiếm và đào tạo cho được “những người chủ yếu” cần thiết cho công tác trên: các linh mục, các tu sĩ nam nữ, các nam nữ giáo dân, để họ trở nên các nhân chứng đích thực của Thiên Chúa giữa lòng xã hội, bất chấp mọi khó khăn, góp phần xây dựng xã hội văn minh (civitas).
Các câu hỏi
Sau đó là 9 câu hỏi về việc phải làm gì để cổ vũ ơn gọi, để cải thiện môi trường xã hội, để hỗ trợ có phê phán các ý niệm hiện đại trong xã hội, để gia tăng tự do tôn giáo và tự do lương tâm, để chặn đứng nạn di cư, để tôn trọng người nhập cư, để huấn luyện cán bộ lãnh đạo biết góp phần vàođời sống xã hội và chính trị của đất nước.
(Còn 2 chương)