Sứ Ðiệp của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI để cử hành Ngày Quốc Tế Hoà Bình mùng 1 tháng Giêng năm 2007:

Tin Vatican (Vat. Apic 12/12/2006) - Lúc 11 giờ 30 phút trưa thứ Ba, ngày 12 tháng 12 năm 2006, Ðức Hồng Y Martino, chủ tịch Hội Ðồng Toà Thánh Công Lý và Hoà Bình, đã chủ sự cuộc họp báo để giới thiệu Sứ Ðiệp Hoà Bình của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI cho ngày Quốc Tế Hoà Bình, mùng 1 tháng Giêng năm 2007. Chủ đề của sứ điệp là: Nhân Vị là Con Tim của Hoà Bình.

Ðể giới thiệu cho giới báo chí Sứ Ðiệp Hoà Bình của Ðức Thánh Cha cho ngày Quốc Tế Hoà Bình, mùng 1 tháng Giêng năm 2007, Ðức Hồng Y Renato Martino, chủ tịch Hội Ðồng Toà Thánh về Công Lý và Hoà Bình, đã nói như sau:

"Tôi vui mừng được gặp gỡ quý vị, để giới thiệu sứ điệp của Ðức ThánhCha Bênêđitô XVI cho ngày Quốc Tế Hoà Bình năm 2007. Cho dịp cử hành này, ÐTC đã chọn và đề nghị lấy Nhân Vị làm chủ đề để suy tư; Nhân vị này được nhìn như là con tim bơm sức mạnh thực hiện mọi dự án đích thật về hoà bình. Trong khung cảnh của việc cử hành kỷ niệm 40 năm ban hành thông điệp "Phát triển các dân tộc" của Ðức Phaolô VI, và kỷ niệm 20 năm ban hành thông điệp "Mối Quan tâm xã hội" của Ðức Gioan Phaolô II, Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI cống hiến cho chúng ta một loạt những chỉ dẫn nhắm liên kết sự thật về con người với sự thật về hoà bình, chủ đề của sứ điệp hoà bình năm 2006. Chúng ta có thể quả quyết rằng Sứ Ðiệp Hoà Bình của năm 2007 cần được đọc và giải thích như là sự tiếp tục và bổ túc cho sứ điệp hoà bình năm 2006. Thật vậy, nơi số 1 của Sứ Ðiệp Hoà Bình năm 2007, Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI quả quyết rằng: " khi tôn trọng nhân vị, người ta cổ võ nền hoà bình; và khi xây dựng hoà bình, nguời ta thiết lập những tiền đề cho việc phát triển toàn diện đích thực con người". Nhân Vị và Hoà Bình luôn luôn liên hệ với nhau trong một trao đổi hỗ tương phong phú, kết thành tiền đề và nền tảng vững chắc nhất, để thể hiện cụ thể đường lối đúng đắn, trên bình diện văn hoá, xã hội và chính trị, để tiếp cận với những chủ đề phức tạp liên quan đến việc thực hiện hoà bình trong thời đại chúng ta."

Trong lời giới thiệu trên, chúng ta thấy Ðức Hồng Y Martinô dùng hình ảnh "con tim bơm sức mạnh" thực hiện mọi dự án đích thật về hoà bình, nên chúng tôi xin dịch chủ đề của Sứ Ðiệp Hoà Bình năm 2007 bằng cụm từ: "Nhân Vị, Con Tim của Hoà Bình", thay cho cách dịch " Nhân Vị, Trung Tâm của Hoà Bình". Từ "con tim" gợi ý cho chúng ta nhiều hơn là từ "trung tâm". Con Tim trong thân thể con người rất quan trọng để "bơm máu" đi khắp cơ thể. Cũng thế, nhân vị, phẩm giá của nhân vị, hay đúng hơn việc tôn trọng những quyền lợi của nhân vị, là rất quan trọng, như "con tim" bơm sức mạnh thực hiện các dự án hoà bình. Bàn bạc trong suốt sứ điệp Hoà Bình năm 2007, ÐTC nhiều lần nhắc đến việc tôn trọng nhân quyền, nhất là quyền sống và quyền tự do tôn giáo.

Tưởng cũng nên nhắc lại nơi đây rằng ÐTC đã ký vào Sứ Ðiệp Hoà Bình năm 2007 từ điện Vatican ngày 8 tháng 12 năm 2006. Sứ Ðiệp Hòa Bình năm 2007 được mở đầu như sau:

Nhân Vị, Con Tim của Hoà Bình

1. Vào đầu năm mới, tôi muốn gởi đến quý Nhà Cầm Quyền, quý vị Trách nhiệm các quốc gia, và đến tất cả mọi người thiện chí nam nữ lời cầu chúc Hoà Bình. Một cách đặc biệt, Tôi gởi lời cầu chúc Hoà Bình đến những ai đang sống trong đau thương và trong cảnh khổ, đến những ai bị hăm dọa bởi bạo lực và bởi sức mạnh của vũ khí, hoặc bị chà đạp trong phẩm giá làm người và đang mong chờ được giải thoát trên bình diện nhân bản cũng như xã hội. Tôi gởi lời chào chúc Hoà Bình đến các thiếu nhi; với sự trinh trong vô tội, các thiếu nhi làm cho nhân lọai được giàu thêm sự tốt lành và niềm hy vọng; với những khổ đau đang chịu, các thiếu nhi khuyến khích chúng ta tất cả hãy trở thành những kẻ họat động cho công bằng và hoà bình. Khi ngỏ lời với các thiều nhi, nhất là với những em thiếu nhi có tương lai bị hư đi vì sự lạm dụng và vì tính xấu của người lớn không lương tâm, tôi muốn rằng nhân dịp Ngày Quốc Tế Hoà Bình, tất cả mọi người cùng chú ý đến chủ đề: Nhân Vị, con tim của Hoà Bình. Thật vậy, tôi xác tín rằng nhờ tôn trọng con người, mà hòa bình được cổ võ; và khi xây dựng hoà bình, người ta đặt những nền tảng cho một nền nhân triển toàn diện đích thật. Và như thế, người ta chuẩn bị một tương lai an lành cho những thế hệ mới.

Sau những lời nhập đề như trên, Sứ Ðiệp Hoà Bình 2007 được chia ra làm 8 phần,mỗi phần có hai số.

1. Tương quan giữa nhân vị và hoà bình: hồng ân và trách vụ. (số 2 và 3)

2. Quyền sống và quyền tự do tôn giáo (số 4 - 5)

3. Bản tính của tất cả mọi nguời đều bằng nhau (số 6 - 7)

4. "Môi sinh của hoà bình" (số 8 - 9)

5. Những cái nhìn hạn hẹp về con người (số 10 - 11)

6. Những nhân quyền và những tổ chức quốc tế (số 12 - 13)

7. Quyền quốc tế nhân đạo và quyền nội bộ của các quốc gia (số 14 - 15)

8. Giáo Hội bảo về đặc tính siêu việt của nhân vị (số 16 - 17)

Chúng ta hãy đọc tiếp Sứ Ðiệp Hoà Bình năm 2007, như sau:

I. Nhân vị và Hoà Bình: hồng ân và trách vụ

2. Kinh Thánh quả quyết rằng: "Thiên Chúa đã dựng nên con người giống hình ảnh Ngài; giống hình ảnh Ngài Thiên Chúa đã tạo dựng họ; Ngài tạo dựng họ có nam có nữ" (STK 1,27). Bởi vì được tạo dựng giống hình ảnh Thiên Chúa, cá nhân mỗi người đều có phẩm vị; con người không phải chỉ là một "vật nào đó", nhưng là một "vị" có khả năng biết chính mình, làm chủ mình và tự do trao hiến chính mình và bước vào trong sự hiệp thông với những con người khác. Ðồng thời, cá nhân đó được mời gọi, nhờ ân sủng Chúa, đến ký giao ước với Ðấng tạo dựng mình, và dâng lên Ngài lời đáp trả Ðức Tin và Tình Yêu mà không một ai khác có thể làm thay" (1) Trong viễn tượng đáng khâm phục này, người ta hiểu được trách vụ được trao phó cho con người là hãy để cho mình được trưởng thành trong khả năng yêu thương và làm cho thế giới tiến bộ bằng cách canh tân nó trong công bằng và trong hoà bình. Với một tổng hợp có sức đánh động, thánh Augustino dạy rằng: Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng chúng ta mà không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng Ngài không thể cứu chúng ta nếu chúng ta không muốn" (2) Vì thế, tất cả mọi người đều có bổn phận vun trồng ý thức về hai khía cạnh nầy: Hồng ân và trách vụ.

3. Hoà Bình vừa là hồng ân vừa là trách vụ. Nếu quả thật rằng hoà bình giữa các cá nhân và các dân tộc --- khả năng sống chung bên cạnh nhau vừa dệt nên những tương quan trong công bằng và tình liên đới --- nói lên một dấn thân không bao giờ ngừng, thì cũng đúng thật rằng, --- và còn hơn thế nữa --- hoà bình là hồng ân của Thiên Chúa. Thật vậy, hoà bình là một đặc điểm của hành động Thiên Chúa, đặc điểm này được thể hiện trong tạo vật với một vũ trụ có trật tự và hoà hợp, cũng như trong ơn cứu chuộc của một nhân loại đang cần được cứu thoát khỏi sự hỗn độn của tội lỗi. Sự tạo dựng và sự cứu chuộc cung cấp cho chúng ta chìa khoá để đọc hiểu các biến cố, nhắm giúp chúng ta thấu hiểu về ý nghĩa của cuộc đời mình trên trần gian. Vị tiền nhiệm đáng kính của tôi, Ðức Gioan Phaolô II, khi ngỏ lời với Ðại Hội Ðồng Liên Hiệp Quốc ngày 5 thàng 10 năm 1995, đã nói rằng "chúng ta không sống trong một thế giới phi lý hoặc không có ý nghĩa... Trong thế giới chúng ta đây, có một nền luân lý soi sáng cho cuộc sống con người và làm cho cuộc đối thoại giữa mọi người cũng như giữa mọi dân nước trở thành có thể được." "Quy Ðịnh Văn Phạm" siêu việt, nghĩa là toàn bộ những quy luật hành động cá nhân cũng như những quy luật cho các liên lạc hỗ tương giữa các nhân vị theo sự công bằng và tình liên đới, (quy định đó) đã được khắc ghi trong các lương tâm; và trong các lương tâm này có phản chiếu dự án khôn ngoan của Thiên Chúa. Như tôi đã muốn quả quyết mới đây, "chúng ta tin tưởng rằng từ nguyên thủy có Ngôi Lời hằng hữu, có cái Hữu Lý, chớ không phải cái Vô Lý" (4). Hoà Bình do đó là một trách vụ đòi hỏi sự dấn thân của mỗi người, để đích thân đáp lại một cách ăn khớp với chương trình của Thiên Chúa. Tiêu chuẩn cần soi sáng cho sự đáp trả này không thể là điều gì khác hơn sự tuân giữ "quy định" đã được Thiên Chúa Tạo Hoá viết vào trong con tim con người.

Trong viễn tượng này, những mệnh lệnh của quyền tự nhiên không nên được nhìn như là những mệnh lệnh được áp đặt từ bên ngoài, dường như chúng ép buộc sự tự do của con người. Ngược lại, những mệnh lệnh đó cần được tiếp nhận như là lời mời gọi hãy trung thành thực hiện dự án phổ quát của Thiên Chúa, được khắc ghi vào bản tính của con người. Ðược hướng dẫn bởi những quy định này, các dân tộc --- bên trong những nền văn hoá riêng --- có thể tiến đến gần với mầu nhiệm cao cả hơn, tức mầu nhiệm Thiên Chúa. Việc nhìn nhận và tôn trọng bộ luật tự nhiên như thế kết thành cả trong thời đại hôm nay nền tảng rộng rãi cho cuộc đối thọai giữa những tín hữu của các tôn giáo khác nhau, cũng như cho cuộc đối thọai giữa các tín hữu và những người không tin. Ðây là điểm gặp gỡ lớn lao, và do đó, là nền tảng cần có cho nền hoà bình đích thực.

II. Quyền sống và quyền tự do tôn giáo

4. Bổn phận tôn trọng phẩm giá của mọi người, trong đó có phản chiếu hình ảnh của Ðấng Tạo Hoá, bao gồm như hệ luận từ đó rằng người ta không thể sử dụng con người theo như ý mình thích. Ai có quyền hành nhiều hơn, trên bình diện chính trị, kỷ thuật, kinh tế, không thể sử dụng quyền hành đó để xúc phạm những quyền lợi của những kẻ khác ít may mắn hơn. Thật vậy, chính dựa trên sự tôn trọng những quyền lợi của kẻ khác mà hoà bình được thiết lập. Ý thức về điều này, Giáo Hội biến mình trở thành cột trụ nâng đỡ cho những quyền lợi căn bản của mọi người. Một cách đặc biệt, Giáo Hội yêu cầu tôn trọng sự sống và tôn trọng sự tự do tôn giáo của mỗi người. Việc tôn trọng quyền sống của từng người trong mọi giai đoạn thiết lập một điểm vững chắc có tầm quan trọng quyết định: sự sống là một hồng ân mà đương sự không có quyền trọn vẹn sử dụng. Cũng thế, việc xác định quyền tự do tôn giáo đặt con người trong tuơng quan với một Nguyên Lý siêu việt giúp đương sự thoát ra khỏi quyết định tự tiện của con người. Quyền sống và quyền tự do biểu lộ đức tin vào Thiên Chúa, không nằm trong quyền hành của con người. Hoà bình cần con nguời thiết lập một ranh giới rõ ràng giữa điều gì tuỳ thuộc vào con người và điều gì không: như thế sẽ tránh được những lẫn lộn không thể chấp nhận được trong phần gia tài các giá trị riêng biệt của con người, xét như là con người.

5. Riêng đối với quyền sống, thì cần phải lên tiếng tố cáo sự tấn công vào quyền lợi này trong xã hội chúng ta: ngoài những nạn nhân của những cuộc xung đột vũ trang, của nạn khủng bố và của những hình thức khác nhau của bạo lực, còn có những cái chết âm thầm gây ra do bởi nạn đói, nạn phá thai, nạn thử nghiệm trên các phôi thai và nạn làm cho chết êm dịu. Làm sao chúng ta không nhìn thầy trong tất cả những điều vừa kể một xúc phạm đến hoà bình?

Nạn phá thai và việc thử nghiệm trên các phôi thai là trực tiếp nghịch lại thái dộ tiếp nhận đối với kẻ khác; thái dộ tiếp nhận này là cần thiết để thiết lập những tương quan bền vững của hoà bình. Còn đối với những gì có liên hệ đến việc biểu lộ tự do đức tin của mình, thì một hiện tượng đáng lo ngại khác cho thấy sự thiếu vắng hoà bình trên thế giới, được thể hiện bởi những khó khăn mà biết bao người kitô cũng như bao tín đồ của các tôn giáo khác thuờng gặp phải, trong việc tuyên xưng công khai và cách tự do những xác tín tôn giáo của mình. Riêng về trường hợp của những nguời kitô, tôi đau buồn ghi nhận rằng những người kitô không những bị ngăn cản đôi khi, nhưng tại vài quốc gia, họ đúng là bị bách hại; và cả mới đây người ta đã ghi nhận những biến cố bi thảm do bạo lực hung dữ gây ra. Có những chế độ áp đặt trên tất cả mọi người một tôn giáo duy nhất, trong khi đó có những chế độ khác thì lãnh đạm, không thực hiện cuộc bàch hại dữ dằn, nhưng thi hành một sự làm nhục có hệ thống trên bình diện văn hoá đối với những niềm tin tôn giáo. Trong mọi truờng hợp, nguời ta không tôn trọng nhân quyền căn bản; sự không tôn trọng này gây ra những hệ quả trầm trọng trên sự chung sống hoà bình. Không tôn trọng nhân quyền là cổ võ cho một tâm thức và một nền văn hoá tiêu cực đối với hoà bình.

(còn tiếp)