Đức Cố Giáo Hoàng JP II Giờ Đây Đã Hoàn Thành Sứ Vụ Phò Sự Sống Của Ngài Nơi Trần Gian

Nhân kỷ niệm một năm ngày qua đời của Ngài, sẽ là thô thiển và rỗng tuếch biết bao nếu như cứ mãi viết lên những dòng suy nghĩ dành cho riêng Ngài, mà quên bẵng đi việc đem ra thi hành những gì mà Ngài đã mong mõi, và gấm gởi lại cho biết bao thế hệ, và biết bao con người.

Sẽ có ý nghĩa hơn nếu như biết cách biến những tâm tư, những khắc khoải và những mong đợi của Ngài thành những hành động cụ thể và thiết thực cho tha nhân, cho đồng loạt. Biết để cho tâm tư tĩnh nội, sâu lắng hòng nghiệm ra những gì cần làm, nên làm, và phải làm ngay từ bây giờ và mãi mãi, trong việc tiếp tục sứ vụ rao giảng của Ngài để đem sứ điệp “Phúc Âm Của Sự Sống” mà Ngài đã khởi tiền vào một “Nền Văn Hóa của Sự Chết” trong thời đại ngày nay, có như thế, thì việc suy nhớ về Ngài mới có ý nghĩa trọn vẹn, mới đúng với ý nghĩa của tình cha-con.

Bằng không chỉ để con tim biết rung động, thức thổn vài ngày; rồi lại đâu cũng vào đó vào những ngày kế tiếp, thì việc tưởng nhớ Ngài chẳng có ý nghĩa gì cả.


Mỗi Đứa Trẻ Chính Là Một Ánh Sáng
Thật thế, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã qua đời vào ngày 2 tháng 4 năm 2005 vừa qua, và cả thế giới cùng hòa quyện lại trong việc tôn kính và nhớ thương về cái chết của một vị lãnh đạo tôn giáo vĩ đại và của một nhà quán quân ủng hộ sự sống đáng tin cậy nhất thế giới. Vào lúc Ngài băng hà, biết bao nhiêu lời cầu nguyện và tình yêu thương triều mến của nhân loại, đã dồn đổ về Ngài, ai nấy cũng đều mô tả về Ngài như là một vị mục tử tốt lành, chân chính mãi cho đến lúc Thiên Chúa cất Ngài về.

Được sinh ra vào năm 1920 với cái tên là Karol Wojtyla, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị vẫn duy trì dáng vẽ của một người lãnh đạo tinh thần rất kiên định dưới thời của Đức Quốc Xã và của chế độ Cộng Sản trong tư cách là một vị linh mục, Giám Mục, và Hồng Y tại Krakow. Ngài được bầu chọn làm Giáo Hoàng của Giáo Hội Công Giáo La Mã vào năm 1978 khi Ngài mới có 58 tuổi.

Từ cương vị là người cha tinh thần, Ngài đã chiếu tỏa ra sự sống; và từ cương vị là Đức Thánh Cha, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, đã chiếu tỏa ra cả một nền văn hóa sự sống, vốn đã trở thành một nguồn hy vọng mới cho toàn thể thế giới.

Cũng giống y hệt như một người cha về mặt thể lý, được kêu gọi để bảo vệ sự sống của các đứa con của mình và tôn vinh việc người mẹ đã giúp dưỡng nuôi chúng ngay từ khi chúng còn nằm trong bụng mẹ, người cha tinh thần này cũng mãi không ngớt đưa ra lời kêu gọi hãy bảo vệ các trẻ thơ chưa được chào đời, và không ngừng lớn tiếng để vinh danh những người làm mẹ, mà nhiệm vụ của họ là dưỡng nuôi ra những thế hệ con người sắp tới, vốn là trung tâm điểm cho sự sống còn của nền văn minh đương đại.

Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Nhị đã trở thành một người cha hết sức tinh hoa, hết sức hoàn hảo (quintessentially) trong một thời đại khi mà nền văn hóa sự chết đã xem thường đi vai trò và tính nhân phẩm của người làm cha. Trái lại, trong tư cách là người cha tinh thần của nhân loại, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị lại chính là cha đẻ cho một nền văn hóa sự sống.

Sự hiểu biết nhạy cảm của Ngài về những áp lực đang đè nặng lên những người phụ nữ trong một nền văn hóa vốn mạnh mẽ phò phá thai, đã khiến Ngài lên tiếng thúc giục tất cả mọi thành phần trong xã hội hãy biết chào đón và hổ trợ cho những sự sống mới và những người mẹ trong những hoàn cảnh khó khăn, túng quẫn, quá bụa, và khổ đau nhất.

Có lẽ điều cảm động nhất chính là những ngôn từ rất riêng của Ngài dành cho những người phụ nữ đang phải một mình kinh qua những đớn đau và những bi kịch của việc phá thai, khi Ngài nói rằng:

Nổi đau trong trái tim các con có thể đã chưa được lành hẳn. Chắc chắn là những gì đã xảy ra và những dư âm kinh khủng còn lại đều là sự sai trái cả. Thế nhưng, các con đừng đẩy mình vào sự thất vọng và đừng đánh mất đi niềm hy vọng….Với sự trợ giúp thân tình và chuyên môn, và cùng với những lời khuyên của những người khác, và từ cảm nghiệm đau đớn của riêng bản thân của các con, các con sẽ trở thành một trong số những người lớn tiếng bảo vệ mạnh mẽ và hùng biện nhất về quyền được sống của tất cả mọi người.” (Trích Thông Điệp Evangelium Vitae, Số 99).

Thông Điệp vĩ đại của Ngài vào năm 1995, Thông Điệp “Evangelium Vitae” (tức Phúc Âm của Sự Sống hay The Gospel of Life), đã trở thành một kho báu vô giá cho các cộng đoàn ủng hộ sự sống, vì nó đưa ra một sự hiểu biết rất sâu sắc, lòng trắc ẩn và sự gan dạ can trường cho những ai đang vật lộn để tranh đấu chống lại việc phá thai và trợ tử.

Với sự hiểu biết trong sáng, câu văn tình tự rất dễ hiểu và dứt khoát, Ngài đã nhắc nhở cho chúng ta rằng: “Chúng ta giờ đây, hơn bao giờ hết, cần phải có sự can đảm để nhìn vào sự thật với cặp mắt rộng mở và biết nhìn nhận theo đúng lý lẽ về những gì mà Thiên Chúa đã sắp đặt, hãy mạnh mẽ tố cáo và lên tiếng về sự phá thai chính là hình thức giết người có chủ tâm hòng hủy diệt đi mạng sống con người.” (Trích Thông Điệp Evangelium Vitae, Số 12).

Ngài đưa các vấn đề phò sự sống vào trong những cuộc tranh luận trên tầm mức quốc tế, đem chúng vào chính sân khấu chính trị của thế giới, hòng thúc giục rằng tính bất khả xâm phạm của sự sống chính là một quy chuẩn chung cho toàn thể thế giới, chứ không phải là một sự chọn lựa về mặt luân lý đạo đức đối với bất kỳ một xã hội đương thời nào. Ngài gởi các vị đại diện của Vaticăn đến để chống đối lại ảnh hưởng của những nhóm phò phá thai tại các cuộc hội nghị phát triển của Liên Hiệp Quốc, để các vị giúp Liên Hiệp Quốc loại bỏ các cụm từ “quyền được phá thai” trong mọi văn bản và ngôn ngữ chính thức của các tuyên bố quốc tế.

Rất lâu trước khi xảy ra cái chết bi thảm của Cô Terri Schindler Schiavo vốn đánh động cả quốc gia về vấn nạn của việc trợ tử (hay cái chết êm ái) nơi những người bị tật nguyền, Đức Cố Thánh Cha đã viết trong Phúc Âm Sự Sống, Mục Số 58 của Ngài rằng: “Một người, vì bệnh hay tật nguyền, hay chỉ đơn giản là được tồn tại, thì phải xứng đáng để được sống một cách mạnh khỏe; hoặc giả như sự tồn tại và lối sống của người đó có làm tổn thương đến những ai xem người đó như là một kẻ thù để chống lại hay loại bỏ, thì âm mưu chống lại sự sống này, là điều hoàn toàn không thể chấp nhận được; là một điều hoàn toàn vô luân.”

Trong khi chính bản thân của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị phải vật lộn với nổi đau và sự suy nhược của căn bệnh; cũng như sự khó khăn trong lời ăn tiếng nói, thì Ngài vẫn ủy quyền, vẫn cho phép Vaticăn đưa ra những lời tuyên cáo nhằm bảo vệ quyền được sống của Cô Terri Schindler Schiavo, và nhiệm vụ phải luôn cung cấp chất dinh dưỡng và nước uống cho những người bệnh, tật.

Khi nói chuyện với Hàn Lâm Viện Giáo Hoàng đặc trách về Sự Sống do chính Ngài thành lập ra, Đức Cố Thánh Cha nói: “Chúng ta phải luôn quả quyết rằng chất lượng của sự sống không bao giờ được diển giải như là sự thành công về mặt kinh tế, như là sự thỏa mãn về thể lý và sắc đẹp, mà là phẩm giá tối thượng của một tạo hóa được dựng nên giống với hình ảnh và diện mạo của Thiên Chúa…. Không ai có thể trở thành một người phân xử (arbiter) về sự sống ngoại trừ chính một mình Thiên Chúa mà thôi.”

Đức Cố Thánh Cha có một tình yêu thương rất đặc biệt với những người trẻ. Ngài biết những người trẻ này là tương lai của Giáo Hội, của thế giới, và của phong trào phò sự sống. Hơn nữa, Ngài chỉ đơn giản yêu thương mỗi người như là một con người đặc trưng duy nhất, cho dẫu anh hay chị ta có là ai đi chăng nữa.

Và với sự kinh ngạc hoài nghi lạ lẫm, những người trẻ đã quyết định tuôn đổ đến Ngài. Họ nhận thấy trong Ngài chính là hình ảnh của một người cha yêu thương và một vị anh hùng can đảm, người không e sợ khi nói ra những ngôn từ mạnh mẽ, cực lực chống đối lại nền văn hóa của sự chết. Ngài thách đố họ hãy can đảm hướng về sự thật và niềm hy vọng trong cuộc sống, Ngài kêu gọi họ hãy mạnh mẽ, can trường bảo vệ sự sống của trẻ thơ vô tội, của những người chân yếu tay mềm, vốn đang bị việc trợ tử đe dọa lấy họ.

Tại rất nhiều cuộc gặp gỡ và phụng vụ công cộng của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, Ngài luôn đặc biệt chú trọng đến những người bệnh và những người ốm yếu, tật tàn. Để nhấn mạnh đến tính nhân phẩm của những người anh và chị em này đang phụ thuộc vào sự thương yêu và chăm sóc của chúng ta, Ngài luôn dành cho họ một vị trí được trân trọng rất cao qua những lần cử hành phụng vụ.

Đáng nhớ nhất là trong lần viếng thăm Hoa Kỳ vào ngày Đại Hội Giới Trẻ tại Denver, khỏi sự bàng hoàng, ngỡ ngàng, và ngất ngang của không biết bao nhiêu người, và của giới truyền thông thế giới, Ngài bất thần chạy tới và ôm hôn lên một cậu bé trẻ tuổi tàn tật từ tay người cha và người mẹ của bé. Theo những gì kể lại từ cha mẹ của cậu bé trẻ tuổi tàn tật bẩm sinh đó, cậu bé không bao giờ để cho bất kỳ người nào được ôm ấp cậu, ngoại trừ cha mẹ của cậu. Nhưng với Đức Cố Giáo Hoàng, cậu bé không những để cho Ngài ôm, hôn, mà cậu còn dùng đôi bàn tay nhỏ nhắn của cậu, để núm lấy hai lỗ tai của Đức Cố Giáo Hoàng, dường như muốn nói thầm thì với Ngài một điều gì đó. Giây phút thinh lặng, cảm động, và bất ngờ đó,… mãi mãi vẫn không bao giờ quên được trong lòng của mọi tham dự viên, và của cả thế giới, nhất là các bạn trẻ khắp năm châu. Niềm vui sướng đó, có lẽ là giây phút tuyệt vời nhất, trong cuộc đời của cha mẹ của cậu bé.

Lòng trắc ẩn của Ngài và sự chú trọng yêu thương của Ngài dành cho mỗi một người tật bệnh, và yếu đau, đã gởi ra một thông điệp cho cả thế giới này về giá trị đích thực và quý giá của mỗi mạng sống con người, và lời kêu gọi của Ngài dành chúng ta là hãy tôn trọng quyền sống của tất cả mọi người.

Ủy Ban về Quyền Sống Quốc Gia có một món nợ rất đặc biệt về lòng tri ân dành cho Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị vì sự hổ trợ và giáo dục không ngừng nghĩ mà Ngài đã đưa ra về các đề tài có liên quan đến sự sống. Vào ngày 24 tháng 4 năm 1996, Đức Cố Giáo Hoàng được Ủy Ban về Quyền Sống Quốc Gia tôn vinh vì sự lãnh đạo trỗi vượt của Ngài trong các vấn đề bảo vệ sự sống.

Các Con Đừng Sợ!” chính là bức thông điệp liên lũy của Chúa Giêsu cũng như của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị.

Với tư cách là những người thật sự bảo vệ sự sống, chúng ta ngày nay đang phải diện đối với biết bao nhiêu vấn nạn trầm trọng cùng với sự chống đối kịch liệt của những người ủng hộ cho một lối sống buông thả, vô đạo đức và vô luân lý, vốn đang làm sói mòn và hư hại không biết bao nhiêu thế hệ, chúng ta được cảm hứng từ tinh thần không mõi mệt (indefatigable spirit) của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị, người đã cho chúng ta một mẫu gương mới của sự hy vọng; của sự bền bỉ, của tinh thần rộng mở nhân ái, hăng say giàn trải đến cho muôn người; và sự can trường, cũng như gia sản về sự giảng dạy của Ngài về các vấn đề có liên quan đến sự sống.

Chúng ta giờ đây phải biết thi hành những công trình phò sự sống, cái công trình vốn quá đổi thân thương, và gần gũi nhất trong trái tim của Ngài. Ngài giờ đây đang kỳ vọng và đợi chờ chúng ta, vậy chúng ta có dám thực hiện ngay những gì mà Ngài đã tâm đắc lại cho chúng ta hay không?

Hay chúng ta để cho những lời kêu gọi, và mõi mong của Ngài cứ mãi rơi vào sự im lặng lãng quên, sự phó mặc hững hờ, sự chối từ và trốn tránh phũ phàng,… thì thử hỏi liệu đó có đúng là cách mà chúng ta kính nhớ đến Ngài nhân 1 năm ngày giổ của Ngài không????

Chúng ta có dám lớn tiếng thách đố với chính lương tâm và bản chất con người thật của chúng ta không về các đề tài có liên quan đến sự sống mà Ngài đã nhắn gởi, và liên tục “gào thét” lên trong trái tim của nhân loại chúng ta không? Chúng ta có dám đánh động lên tiếng nói tiềm ẩn tự trong đáy thẳm cang tâm của chúng ta hay không?

Viết lại những dòng suy tư này… như là cách để tự vấn lương tâm tôi, một người bé nhỏ, đau ốm và tật tàn của Ngài…