Những nhận xét mở đầu
Lourdes 10/11/2002 (ZENIT. org) Chúng tôi phổ biến dưới đây những nhận xét mở đầu 11 hướng đi của các giám muc Pháp về mục vụ hôn nhân, được công bố ngày 9/11 từ trang mạng của hội đồng giám mục Pháp (www. cef. fr) cuối buổi Hợp Khoáng đại của Hội đồng giám mục Pháp, họp tại Lộ đức.
"Từ một ít năm nay, một số phương diện về mục vụ hôn nhân đã thay đổi. Do đó, các linh mục, các phó tế và những người hoạt động mục vụ, muốn thấy xác định những hướng đi của Giáo hội công giáo, nhất là để chuẩn bị hôn nhân. Chúng tôi nhắc tới những bản văn lớn của Huấn quyền, nhất là Tông Huấn Familiaris Consortio. . Năm 1990, các giám mục Pháp đã công bố một chỉ dẫn Bảo dưỡng mục vụ vì hôn nhân. Năm 1992, Cuộc họp khoáng đại của các ngài còn làm việc trên gia đình. Chúng tôi cũng nhắc lại số tháng Sáu 1994 về những Văn kiện-Giám mục với nhan đề: "Những điểm mốc trong mục vu bí tích: các bí tích gia nhập kitô giáo, bí tích hôn nhân". Những văn kiện này vẫn là những qui chiếu cần thiết.
Chúng tôi vui mừng nhận thấy những khía cạnh tích cực của hoàn cảnh hiện nay: cái giá những người công dân chúng ta gán cho gia đình, quan tâm của họ trong việc giáo dục con cái, sự gia tăng số hôn nhân tại Pháp từ nhiều năm, đơn xin thường xuyên của các người thanh niên được đánh dấu sự phối hợp của họ bằng một hôn nhân tôn giáo, sự sãn sàng của họ chấp nhận một sự chuẩn bị nghiêm chỉnh, sự cam kết của Giáo hội đáp ứng cho sự chờ đợi này, bằng cách tiếp nhận và nghe mổi người với lòng nhân từ, sau cùng chứng từ của những việc cử hành có chất lượng.
Đồng thời, chúng tôi nhận thấy những thay đổi làm bận lòng nhất là trong lãnh vực xã hội, văn hóa và giáo dục: sự sống chung ngoài hôn nhân trong một số năm, sự áy náy gây ra do những bất ổn xã hội, sự gia tăng những ly dị và sự sợ thất bại, khoảng cách ngày càng lớn giữa những người kitô hữu xác tín và những ứng viên hôn nhân không có kinh nghiệm nhiều về mặt kitô giáo.
Có lẽ hơn trước, hôn nhân thử thách những xác tín của người kitô hữu. Đối với một số, hôn nhân là một dịp tích cực để tiếp xúc lại với cộng đồng của mình. Điều này xảy ra nhất là khi có những hôn nhân giữa những người kitô hữu khác tín ngưỡng. Chúng tôi ao ước những hôn nhân thể ấy góp phần làm hiểu biết nhau hơn giữa những cộng đồng kitô giáo khác nhau và ủng hộ một bước tiến tới hiệp nhất.
Bằng một cách hoàn toàn khác, đức tin của các kitô hữu bị thử thách trong những hôn nhân liên tôn giáo, nhất là hồi giáo-kitô giáo. Chúng tôi khuyến khích các vị mục tử và các cộng sự viên của các ngài nghiên cứu những văn kiện làm sáng tỏ hoàn cảnh này, nhất là trong bản Chỉ dẫn và những dụng cụ làm việc của phòng Thư ký đối với các Liên quan vời Hồi giáo.
Cũng thường, chính những vợ chồng công giáo khác nhau nhiều trong sự biểu lộ đức tin và tham gia vào sự sống Giáo hội. Khoảng cách này có thể là một yếu tố làm cho đôi bạn xa cách Giáo hội. Nó cũng có thể ủng hộ sự tái khám phá đức tin kitô hữu trong đời sống gia đình và trong việc giáo dục con cái. Không phải vì thế mà hoàn cảnh này không làm cho cuộc đối thoại nên khó khăn, cho những kẻ tiếp rước những vợ chồng tương lai.
Những đự định hiện nay, được Khóa hợp khoáng đại các giám mục chấp nhận, không đề cập tất cả những vấn đề liên hệ với việc mục vụ hôn nhân. Một số vấn đề đòi phải làm việc về sau nhất là đối với việc lãnh nhận các bí tích: sám hối và hòa giải, Thánh Thể.
Trong sự tôn trọng giáo luật, những dự định này chỉ nhấn mạnh một số phương diện thường hơn trong những ưu tư của các vị mục tử và những người hoạt động mục vụ. Những dự định đó nhằm đưa ra những hướng này cách súc tích và cụ thể. Những dự định đó đó giả định một việc làm liên tiếp trong các nhóm giáo phận, các giáo xứ và các phong trào.
Những hướng mục vụ cho hôn nhân
Đây là 11 hướng đi của các giám mục Pháp về mục vụ gia đình, phổ biến cuối cuộc họp khoáng đại của các ngài tại Lộ đức, chấm dứt ngày 9/11.
1. Chúng tôi kêu gọi những nhà giáo dục trưởng thành (cha mẹ, tuyên úy, thầy dạy, những kẻ cổ động, v. v) dấn thân trong việc giáo dục tình cảm và tình dục của các em nhỏ và các thanh niên, bằng cách dạy chúng biết khoa đạo đức học về thể xác, hôn nhân và gia đình, hầu chuẩn bị chúng biết sử dụng có trách nhiệm phái tính của họ. Đó là hướng dẫn bước đầu đến vẻ đẹp tình yêu, đến tình bạn và đến sự tự chủ lấy mình. Việc dấn thân này giả định:
--những xác tín dựa trên những đặc điểm đặc biệt nhân bản của sự sống tình cảm và tình dục: sự tôn trọng kẻ khác, vai trò giáo dục những người bị cấm, sự cam kết của toàn diện con người trong việc hiến thân cho nhau, sự chuộng đức trinh khiết như con đường tự do và trưởng thành, trước hôn nhân và suốt cuộc sống hôn nhân.
--một cuộc đào tạo những nhà giáo dục hiện tại hóa cách đều đặn;
-sự sẵn sàng đối thoại với các người trẻ trong những nơi đón tiếp và tập hợp;
--một việc đào tạo biết phê phán đối với các sứ điệp về tình dục trong những cách diễn tả văn hóa trổi vượt, như ví dụ, những bài hát, chiếu bóng, truyền thanh và truyền hình, v. v.
2. Chúng tôi mời tất cả những ứng viên hôn nhân bí tích, kể cả những người đã sống đời sống chung, biết sống cam kết công khai này như một biến cố quyết định. Nó diễn tả tính đích thực của tình yêu hỗ tương của họ. Nó đem vào một sự mới mẻ triệt để trong sự sống của mổi ngưởi kết hợp. Sự mới mẻ này là sự tham gia vào mầu nhiệm hiến mình không lấy lại của Chúa Giêsu-Kitô cho Giáo hội Người. Nghĩa là hôn nhân phải được chuẩn bị nghiêm chỉnh.
Chúng tôi kêu gọi xác minh rằng mổi người kết hợp thật sự tự do trước cam kết này, nhất là vì những sự liên lụy có hể xảy ra trong hoàn cảnh trước của họ.
3. Bằng cách để thời giờ nghe đích thân họ, Giáo hội công giáo tiếp đón tất cả những ai xin một hôn nhân kitô hữu. Giáo hội đề nghị với họ những phương thế thích hợp với hoàn cảnh của họ để tiến triển trong tình yêu của họ và bước đi trong đức tin kitô hữu.
Giáo hội công giáo cử hành hôn nhân khi đủ những điều kiện sau đây:
--ít nhất một trong những người phối ngẫu phài là công giáo;
--không một người phối ngẫu nào bị trói buộc bởi một hôn nhân trước;
--họ phải thực sự tự do trong sự ưng thuận (sự tự do);
--người nam và người nữ cam kết dứt khoát sống với nhau (sự bất khả phân ly);
--họ muốn bền đỗ trong sự trung tín tình yêu của họ suốt đời (lòng trung);
--họ chấp nhận trách nhiệm làm cha mẹ (sinh con).
4. Chúng tôi xin tất cả tham gia một sự chuẩn bị, nếu có thể chung, trong năm trước hôn nhân của mình. Việc chuẩn bị hôn nhân này cho phép các vợ chồng tương lai xác nhận sự hiểu biết của mình về những yếu tố trong bản Tuyên ngôn ý định, những yếu tố định nghĩa một hôn nhân đich thực: sự cam kết tự do, duy nhất, dứt khoát và cởi mở với việc đón nhận có trách nhiệm con cái.
Đối với những kẻ giúp họ trong suy tư này, không chỉ phải kiểm tra sự phù hợp của những tiếng nói mà thôi. Cũng phải đánh giá sự đáng tin của những lời nói. Trong phần nhiều trường hợp, việc trao đổi về các nền tảng hôn nhân càng tự do và có ích hơn nếu có thời gian chia sẻ với các đôi vợ chồng khác.
5. Thường nhất, việc chuẩn bị hôn nhân, đối với các người hứa hôn, là một thời gian quan trọng của đời sống mình. Giáo hội vui mừng tiếp nhận đơn xin chuẩn bị của họ và cho việc đó là quan trọng. Cho nên những người trách nhiệm mục vụ sẽ phổ cập sự sử dụng những toán chuẩn bị hôn nhân, gòm có người giáo dân và những thừa tác viên được phong chức. Mỗi khi điều này có thể, sẽ đề nghị tham gia một cuộc tỉnh tâm hay cấm phòng.
Sẽ không quên việc nói chuyện riêng, việc gặp riêng mỗi người hứa hgôn. Những toán mục vụ gia đình các giáo phận, cũng gòm những người giáo dân đã kết hôn và những thừa tác viên được phong chức, có nhiệm vụ đề nghị thường xuyên cho những diễn viên chuẩn bị hôn nhân các phương tiện suy tư và đào tạo.
6. Đối với chúng ta, người công giáo, việc chuẩn bị hôn nhân là một thời gian thuận lợi để tái khám phá mầu nhiệm con người, ơn gọi thần linh của con người, ý muốn sống và tự do của con người. Là những thành phần cộng đồng giáo hội, người nam và người nữ, qua tình yêu nhân bản của họ, có thể theo một con đường gia nhập vào kinh nghiệm kitô hữu: nghe Lời Chúa, cầu nguyện, khám phá tình yêu của Chúa và hiến thân mình.
Trên con đường này, họ sẽ tái khám phá động lực của việc gia nhập kitô giáo: bí tích rửa tôi, thêm sức và thánh thể. Việc chuẩn bị hôn nhân sẽ cho phép các người phối ngẫu xét nghiệm đúng về sự sống kitô hữu của mình, về việc thực hành bí tích của mình, nhất là đối với bí tích sám hối và hoà giải cũng như việc sự tham dự của họ trong đại hội ngày Chúa nhật.
Mỗi khi gặp trường hợp, người ta sẽ lưu ý đề nghị bí tích thêm sức. Việc chuẩn bị thêm sức sẽ diễn ra trong một kỳ hạn vừa phải, trước hay là sau hôn nhân.
7. Đời sống vợ chồng và gia đình có thể biết những khó khăn, có khi những khủng hoảng. Ngày nay nhiều người không thấy có những giải pháp nào khác ngoài ra ly dị thường đuợc giới thiệu như một lối thoát hoà bình. Người ta ngạc nhiên về sự mau lẹ quyết định một chuyện cắt đứt, và sửng sốt về sự ít có những phương tiện suy nghĩ dành cho những người gặp phải thử thách này.
Việc chuẩn bị hôn nhân phải xem xét rõ những giả thuyết này và thúc đẩy các người phối ngẫu nhận diện những người có ghể giúp họ trong khi cần, tùy tình hình chọn họ "làm chứng" hôn nhân của mình. Người ta cũng quan tâm cung cấp cho họ những thông tin chính xác và hữu ích về các phong trào gia đình hay là những nhóm gia thất.
Những cơ quan giáo phận về mục vụ gia đình và những phong trào chuyên biệt sẽ mở những phòng tiếp đón và đối thoại cho những vợ chồng gặp phải những khủng hoảng nặng.
8. Trong bí tích hôn nhân, những lựa chọn do quyển nghi thức đề nghị, cho phép tổ chức việc cử hành nhưng phải tùy những những hoàn cảnh đặc thù. Như vậy, những bài đọc sẽ được chọn trong những bản văn kinh thánh và phụng vụ. Tùy theo tình hình việc hát xường đờn địch sẽ chọn giữa những người chuyên âm nhac và hát ca tôn giáo.
Nếu, trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ta yêu cầu những yếu tố thuộc một bản tính khác, thì có thể đặt chúng trước hay sau việc cử hành phụng vụ chính thức.
9. Mọi thứ ly dị đều bao hàm những đau đớn. Chúng tôi không phán đoán những chị hay những anh chạy tới nó hay bị bắt buộc thực hiện nó.
Do lòng trung với đăc tính duy nhất và dứt khoát của hôn nhân mình, một số người ly dị chọn không tái kết hôn. Chúng tôi nhìn nhận tính cao cả của sự lựa chọn này hợp với tiếng gọi Tin Mừng.
Nhiều người khác quyết định ký kết một sự phối hợp dân sự mới. Một số người muốn được sự cầu nguyện của Giáo hội mà mình là và vẫn là thành phần. Một sự cầu nguyện thể ấy không thể mặc lấy hình thức một lễ cử hành, vì lễ cử hành đó sẽ trình bày những dấu bên ngoài là một hôn nhân bí tích.
Bởi tôn trọng sự cố kết giữa hai bí tích của Giào Ước, thánh thể và hôn nhân, Giáo hội đề nghị với họ những cách thức khác tham dự vào sự sống của mình, cũng như những phương tiện giúp đỡ cho một con đường thiêng liêng.
10- Khi một đôi xin cử hành hôn nhân chung với sự rửa tội con mình (những đứa con mình), nên phân biệt hai phương pháp bí tích. Nếu những lý do riêng biệt bắt buộc, cách ngoại lệ, chấp nhận việc cử hành chung, người ta sẽ quan tâm tôn trọng ý nghĩa của mỗi bí tích.
11. Trong một vài giáo xứ, những đơn xin hôn nhân tập trung vào một vài ngày thứ bảy mùa hè và, hơn nữa, trong cũng một những nhà thờ. Để bảo toàn giá trị và chất lương những cử hành, để tránh cho các linh mục và phó tế khỏi chồng chất những việc cử hành liên tiếp, các vị đó sẽ không cử hành quá hai hôn nhân mỗi ngày thừ bảy. Trong trường hợp bất khả kháng, nhiều giải pháp được xem xét:
--đề nghị thay đổi ngày giờ đã ấn định, hoặc dời lại buổi xế một ngày thứ sáu hay một ngày khác, hay một ngày thứ bảy khác, có thể trong khuôn khổ một cử hành ngày Chúa nhật;
--nhờ một người anh em, linh mục hay phó tế, cử hành trong giáo xứ họ muốn hay trong một giáo xứ khác;
--có phép cha sở, nhờ một linh mục hay phó tế bạn gia đình;
--đề nghị giữ ngày giờ, nơi và cử hành nhiều hôn nhân một lượt.
Kỳ hạn chuẩn bị một năm sẽ dễ dàng hóa những sắp đặt cần thiết này.
Lourdes 10/11/2002 (ZENIT. org) Chúng tôi phổ biến dưới đây những nhận xét mở đầu 11 hướng đi của các giám muc Pháp về mục vụ hôn nhân, được công bố ngày 9/11 từ trang mạng của hội đồng giám mục Pháp (www. cef. fr) cuối buổi Hợp Khoáng đại của Hội đồng giám mục Pháp, họp tại Lộ đức.
"Từ một ít năm nay, một số phương diện về mục vụ hôn nhân đã thay đổi. Do đó, các linh mục, các phó tế và những người hoạt động mục vụ, muốn thấy xác định những hướng đi của Giáo hội công giáo, nhất là để chuẩn bị hôn nhân. Chúng tôi nhắc tới những bản văn lớn của Huấn quyền, nhất là Tông Huấn Familiaris Consortio. . Năm 1990, các giám mục Pháp đã công bố một chỉ dẫn Bảo dưỡng mục vụ vì hôn nhân. Năm 1992, Cuộc họp khoáng đại của các ngài còn làm việc trên gia đình. Chúng tôi cũng nhắc lại số tháng Sáu 1994 về những Văn kiện-Giám mục với nhan đề: "Những điểm mốc trong mục vu bí tích: các bí tích gia nhập kitô giáo, bí tích hôn nhân". Những văn kiện này vẫn là những qui chiếu cần thiết.
Chúng tôi vui mừng nhận thấy những khía cạnh tích cực của hoàn cảnh hiện nay: cái giá những người công dân chúng ta gán cho gia đình, quan tâm của họ trong việc giáo dục con cái, sự gia tăng số hôn nhân tại Pháp từ nhiều năm, đơn xin thường xuyên của các người thanh niên được đánh dấu sự phối hợp của họ bằng một hôn nhân tôn giáo, sự sãn sàng của họ chấp nhận một sự chuẩn bị nghiêm chỉnh, sự cam kết của Giáo hội đáp ứng cho sự chờ đợi này, bằng cách tiếp nhận và nghe mổi người với lòng nhân từ, sau cùng chứng từ của những việc cử hành có chất lượng.
Đồng thời, chúng tôi nhận thấy những thay đổi làm bận lòng nhất là trong lãnh vực xã hội, văn hóa và giáo dục: sự sống chung ngoài hôn nhân trong một số năm, sự áy náy gây ra do những bất ổn xã hội, sự gia tăng những ly dị và sự sợ thất bại, khoảng cách ngày càng lớn giữa những người kitô hữu xác tín và những ứng viên hôn nhân không có kinh nghiệm nhiều về mặt kitô giáo.
Có lẽ hơn trước, hôn nhân thử thách những xác tín của người kitô hữu. Đối với một số, hôn nhân là một dịp tích cực để tiếp xúc lại với cộng đồng của mình. Điều này xảy ra nhất là khi có những hôn nhân giữa những người kitô hữu khác tín ngưỡng. Chúng tôi ao ước những hôn nhân thể ấy góp phần làm hiểu biết nhau hơn giữa những cộng đồng kitô giáo khác nhau và ủng hộ một bước tiến tới hiệp nhất.
Bằng một cách hoàn toàn khác, đức tin của các kitô hữu bị thử thách trong những hôn nhân liên tôn giáo, nhất là hồi giáo-kitô giáo. Chúng tôi khuyến khích các vị mục tử và các cộng sự viên của các ngài nghiên cứu những văn kiện làm sáng tỏ hoàn cảnh này, nhất là trong bản Chỉ dẫn và những dụng cụ làm việc của phòng Thư ký đối với các Liên quan vời Hồi giáo.
Cũng thường, chính những vợ chồng công giáo khác nhau nhiều trong sự biểu lộ đức tin và tham gia vào sự sống Giáo hội. Khoảng cách này có thể là một yếu tố làm cho đôi bạn xa cách Giáo hội. Nó cũng có thể ủng hộ sự tái khám phá đức tin kitô hữu trong đời sống gia đình và trong việc giáo dục con cái. Không phải vì thế mà hoàn cảnh này không làm cho cuộc đối thoại nên khó khăn, cho những kẻ tiếp rước những vợ chồng tương lai.
Những đự định hiện nay, được Khóa hợp khoáng đại các giám mục chấp nhận, không đề cập tất cả những vấn đề liên hệ với việc mục vụ hôn nhân. Một số vấn đề đòi phải làm việc về sau nhất là đối với việc lãnh nhận các bí tích: sám hối và hòa giải, Thánh Thể.
Trong sự tôn trọng giáo luật, những dự định này chỉ nhấn mạnh một số phương diện thường hơn trong những ưu tư của các vị mục tử và những người hoạt động mục vụ. Những dự định đó nhằm đưa ra những hướng này cách súc tích và cụ thể. Những dự định đó đó giả định một việc làm liên tiếp trong các nhóm giáo phận, các giáo xứ và các phong trào.
Những hướng mục vụ cho hôn nhân
Đây là 11 hướng đi của các giám mục Pháp về mục vụ gia đình, phổ biến cuối cuộc họp khoáng đại của các ngài tại Lộ đức, chấm dứt ngày 9/11.
1. Chúng tôi kêu gọi những nhà giáo dục trưởng thành (cha mẹ, tuyên úy, thầy dạy, những kẻ cổ động, v. v) dấn thân trong việc giáo dục tình cảm và tình dục của các em nhỏ và các thanh niên, bằng cách dạy chúng biết khoa đạo đức học về thể xác, hôn nhân và gia đình, hầu chuẩn bị chúng biết sử dụng có trách nhiệm phái tính của họ. Đó là hướng dẫn bước đầu đến vẻ đẹp tình yêu, đến tình bạn và đến sự tự chủ lấy mình. Việc dấn thân này giả định:
--những xác tín dựa trên những đặc điểm đặc biệt nhân bản của sự sống tình cảm và tình dục: sự tôn trọng kẻ khác, vai trò giáo dục những người bị cấm, sự cam kết của toàn diện con người trong việc hiến thân cho nhau, sự chuộng đức trinh khiết như con đường tự do và trưởng thành, trước hôn nhân và suốt cuộc sống hôn nhân.
--một cuộc đào tạo những nhà giáo dục hiện tại hóa cách đều đặn;
-sự sẵn sàng đối thoại với các người trẻ trong những nơi đón tiếp và tập hợp;
--một việc đào tạo biết phê phán đối với các sứ điệp về tình dục trong những cách diễn tả văn hóa trổi vượt, như ví dụ, những bài hát, chiếu bóng, truyền thanh và truyền hình, v. v.
2. Chúng tôi mời tất cả những ứng viên hôn nhân bí tích, kể cả những người đã sống đời sống chung, biết sống cam kết công khai này như một biến cố quyết định. Nó diễn tả tính đích thực của tình yêu hỗ tương của họ. Nó đem vào một sự mới mẻ triệt để trong sự sống của mổi ngưởi kết hợp. Sự mới mẻ này là sự tham gia vào mầu nhiệm hiến mình không lấy lại của Chúa Giêsu-Kitô cho Giáo hội Người. Nghĩa là hôn nhân phải được chuẩn bị nghiêm chỉnh.
Chúng tôi kêu gọi xác minh rằng mổi người kết hợp thật sự tự do trước cam kết này, nhất là vì những sự liên lụy có hể xảy ra trong hoàn cảnh trước của họ.
3. Bằng cách để thời giờ nghe đích thân họ, Giáo hội công giáo tiếp đón tất cả những ai xin một hôn nhân kitô hữu. Giáo hội đề nghị với họ những phương thế thích hợp với hoàn cảnh của họ để tiến triển trong tình yêu của họ và bước đi trong đức tin kitô hữu.
Giáo hội công giáo cử hành hôn nhân khi đủ những điều kiện sau đây:
--ít nhất một trong những người phối ngẫu phài là công giáo;
--không một người phối ngẫu nào bị trói buộc bởi một hôn nhân trước;
--họ phải thực sự tự do trong sự ưng thuận (sự tự do);
--người nam và người nữ cam kết dứt khoát sống với nhau (sự bất khả phân ly);
--họ muốn bền đỗ trong sự trung tín tình yêu của họ suốt đời (lòng trung);
--họ chấp nhận trách nhiệm làm cha mẹ (sinh con).
4. Chúng tôi xin tất cả tham gia một sự chuẩn bị, nếu có thể chung, trong năm trước hôn nhân của mình. Việc chuẩn bị hôn nhân này cho phép các vợ chồng tương lai xác nhận sự hiểu biết của mình về những yếu tố trong bản Tuyên ngôn ý định, những yếu tố định nghĩa một hôn nhân đich thực: sự cam kết tự do, duy nhất, dứt khoát và cởi mở với việc đón nhận có trách nhiệm con cái.
Đối với những kẻ giúp họ trong suy tư này, không chỉ phải kiểm tra sự phù hợp của những tiếng nói mà thôi. Cũng phải đánh giá sự đáng tin của những lời nói. Trong phần nhiều trường hợp, việc trao đổi về các nền tảng hôn nhân càng tự do và có ích hơn nếu có thời gian chia sẻ với các đôi vợ chồng khác.
5. Thường nhất, việc chuẩn bị hôn nhân, đối với các người hứa hôn, là một thời gian quan trọng của đời sống mình. Giáo hội vui mừng tiếp nhận đơn xin chuẩn bị của họ và cho việc đó là quan trọng. Cho nên những người trách nhiệm mục vụ sẽ phổ cập sự sử dụng những toán chuẩn bị hôn nhân, gòm có người giáo dân và những thừa tác viên được phong chức. Mỗi khi điều này có thể, sẽ đề nghị tham gia một cuộc tỉnh tâm hay cấm phòng.
Sẽ không quên việc nói chuyện riêng, việc gặp riêng mỗi người hứa hgôn. Những toán mục vụ gia đình các giáo phận, cũng gòm những người giáo dân đã kết hôn và những thừa tác viên được phong chức, có nhiệm vụ đề nghị thường xuyên cho những diễn viên chuẩn bị hôn nhân các phương tiện suy tư và đào tạo.
6. Đối với chúng ta, người công giáo, việc chuẩn bị hôn nhân là một thời gian thuận lợi để tái khám phá mầu nhiệm con người, ơn gọi thần linh của con người, ý muốn sống và tự do của con người. Là những thành phần cộng đồng giáo hội, người nam và người nữ, qua tình yêu nhân bản của họ, có thể theo một con đường gia nhập vào kinh nghiệm kitô hữu: nghe Lời Chúa, cầu nguyện, khám phá tình yêu của Chúa và hiến thân mình.
Trên con đường này, họ sẽ tái khám phá động lực của việc gia nhập kitô giáo: bí tích rửa tôi, thêm sức và thánh thể. Việc chuẩn bị hôn nhân sẽ cho phép các người phối ngẫu xét nghiệm đúng về sự sống kitô hữu của mình, về việc thực hành bí tích của mình, nhất là đối với bí tích sám hối và hoà giải cũng như việc sự tham dự của họ trong đại hội ngày Chúa nhật.
Mỗi khi gặp trường hợp, người ta sẽ lưu ý đề nghị bí tích thêm sức. Việc chuẩn bị thêm sức sẽ diễn ra trong một kỳ hạn vừa phải, trước hay là sau hôn nhân.
7. Đời sống vợ chồng và gia đình có thể biết những khó khăn, có khi những khủng hoảng. Ngày nay nhiều người không thấy có những giải pháp nào khác ngoài ra ly dị thường đuợc giới thiệu như một lối thoát hoà bình. Người ta ngạc nhiên về sự mau lẹ quyết định một chuyện cắt đứt, và sửng sốt về sự ít có những phương tiện suy nghĩ dành cho những người gặp phải thử thách này.
Việc chuẩn bị hôn nhân phải xem xét rõ những giả thuyết này và thúc đẩy các người phối ngẫu nhận diện những người có ghể giúp họ trong khi cần, tùy tình hình chọn họ "làm chứng" hôn nhân của mình. Người ta cũng quan tâm cung cấp cho họ những thông tin chính xác và hữu ích về các phong trào gia đình hay là những nhóm gia thất.
Những cơ quan giáo phận về mục vụ gia đình và những phong trào chuyên biệt sẽ mở những phòng tiếp đón và đối thoại cho những vợ chồng gặp phải những khủng hoảng nặng.
8. Trong bí tích hôn nhân, những lựa chọn do quyển nghi thức đề nghị, cho phép tổ chức việc cử hành nhưng phải tùy những những hoàn cảnh đặc thù. Như vậy, những bài đọc sẽ được chọn trong những bản văn kinh thánh và phụng vụ. Tùy theo tình hình việc hát xường đờn địch sẽ chọn giữa những người chuyên âm nhac và hát ca tôn giáo.
Nếu, trong những hoàn cảnh đặc biệt, người ta yêu cầu những yếu tố thuộc một bản tính khác, thì có thể đặt chúng trước hay sau việc cử hành phụng vụ chính thức.
9. Mọi thứ ly dị đều bao hàm những đau đớn. Chúng tôi không phán đoán những chị hay những anh chạy tới nó hay bị bắt buộc thực hiện nó.
Do lòng trung với đăc tính duy nhất và dứt khoát của hôn nhân mình, một số người ly dị chọn không tái kết hôn. Chúng tôi nhìn nhận tính cao cả của sự lựa chọn này hợp với tiếng gọi Tin Mừng.
Nhiều người khác quyết định ký kết một sự phối hợp dân sự mới. Một số người muốn được sự cầu nguyện của Giáo hội mà mình là và vẫn là thành phần. Một sự cầu nguyện thể ấy không thể mặc lấy hình thức một lễ cử hành, vì lễ cử hành đó sẽ trình bày những dấu bên ngoài là một hôn nhân bí tích.
Bởi tôn trọng sự cố kết giữa hai bí tích của Giào Ước, thánh thể và hôn nhân, Giáo hội đề nghị với họ những cách thức khác tham dự vào sự sống của mình, cũng như những phương tiện giúp đỡ cho một con đường thiêng liêng.
10- Khi một đôi xin cử hành hôn nhân chung với sự rửa tội con mình (những đứa con mình), nên phân biệt hai phương pháp bí tích. Nếu những lý do riêng biệt bắt buộc, cách ngoại lệ, chấp nhận việc cử hành chung, người ta sẽ quan tâm tôn trọng ý nghĩa của mỗi bí tích.
11. Trong một vài giáo xứ, những đơn xin hôn nhân tập trung vào một vài ngày thứ bảy mùa hè và, hơn nữa, trong cũng một những nhà thờ. Để bảo toàn giá trị và chất lương những cử hành, để tránh cho các linh mục và phó tế khỏi chồng chất những việc cử hành liên tiếp, các vị đó sẽ không cử hành quá hai hôn nhân mỗi ngày thừ bảy. Trong trường hợp bất khả kháng, nhiều giải pháp được xem xét:
--đề nghị thay đổi ngày giờ đã ấn định, hoặc dời lại buổi xế một ngày thứ sáu hay một ngày khác, hay một ngày thứ bảy khác, có thể trong khuôn khổ một cử hành ngày Chúa nhật;
--nhờ một người anh em, linh mục hay phó tế, cử hành trong giáo xứ họ muốn hay trong một giáo xứ khác;
--có phép cha sở, nhờ một linh mục hay phó tế bạn gia đình;
--đề nghị giữ ngày giờ, nơi và cử hành nhiều hôn nhân một lượt.
Kỳ hạn chuẩn bị một năm sẽ dễ dàng hóa những sắp đặt cần thiết này.