Tại sao các nhà lập pháp bị từ chối cho rước lễ
Lược trích bài phỏng vấn nhà thần học người Hoa Kỳ tại thành Rôma
Khuynh hướng của Giáo Hội trong việc từ chối cho rước lễ đối với những chính trị gia phò phá thai càng ngày càng gia tăng. Tại cuộc họp báo ở Vaticăn vào thứ sáu vừa qua, Đức Hồng Y Phanxicô Arinze nói rằng những chính trị gia nào ngấm ngầm ủng hộ việc phá thai không nên lên rước lễ và các linh mục phải từ chối việc cho họ lãnh nhận bí tích này. Vào tháng giêng vừa qua, Đức Giám Mục của địa phận La Crosse ở bên tiểu bang Wisconsin, cũng đã ban hành một sắc lệnh cấm các nhà lập pháp ủng hộ việc phá thai hay việc trợ tử được lên rước lễ.
Để hiểu rỏ hơn về những dấu chỉ có liên quan đến việc mục vụ và luật lệ Giáo Hội, hãng thông tấn Công Giáo Zenit đã phỏng vấn nhà thần học người Hoa Kỳ là Cha Thomas Williams, Khoa Trưởng của phân khoa thần học của Viện Đại Học Giáo Hoàng Trinh Nữ Vương (Regina Apostolorum Pontifical Athenaeum).
Hỏi (H): Thưa Cha, có phải Giáo Hội đang áp dụng quan điểm cứng rắn về việc đón nhận Mình Thánh Chúa?
Cha Williams (T): Giáo Hội luôn luôn nhìn nhận vấn đề này một cách nghiêm trọng. Bằng những ngôn từ rất mạnh Thánh Phaolô đã qưở trách Giáo Hội trong thư thứ Nhất gởi Tín Hữu Côrintô: “Cho nên kẻ ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, tất sẽ mắc tội đối với Mình và Máu Chúa. Vậy thì người ta hãy tự hạch xét chính mình, rồi như vậy mới ăn Bánh và uống Chén ấy.” Đó là trong thư Thứ Nhất gởi tín hữu Côrintô đoạn 11, từ câu 27 đến 28.
Theo như Bộ Giáo Luật năm 1983, nhằm nhấn mạnh đến việc giảng dạy của Công Đồng Trent, Điều Luật thứ 11 nêu ra rằng: ngoại trừ lý do nghiêm trọng, bất kỳ ai phạm tội về luân lý, nên tự mình không lên rước lễ. Theo Điều Khoản 916 của Bộ Luật năm 1983 thì: “Bất kỳ ai phạm tội về lương tâm, sẽ không được phép đón nhận Mình Thánh Chúa nếu như không đi xưng tội.”
(H): Thế nhưng, chẳng có sự khác biệt nào đáng ghi nhận cả giữa việc khuyến khích những ai phạm tội không được lên rước lễ và cấm cho rước lễ đối với những người cố quyết tâm, thưa Cha?
(T): Vâng, dĩ nhiên là như vậy. Bất kỳ ai phạm trọng tội dưới bất kỳ hình thức nào, dấu diếm hay công khai, nên tự mình không lên rước lễ, vì nếu đã phạm tội trọng một cách thái quá hay công khai, thì đó là lý do để cho các linh mục và Giám Mục từ chối cho họ rước lễ.
Điều Khoản 915 trong Bộ Giáo Luật đề cập rất rõ về vấn đề này. Toàn bộ bản văn của Điều Khoản này được đọc tóm tắt như sau: “Tất cả những ai bị vạ tuyệt thông hay bị khai trừ sau khi đã phạm tội và đón nhận hình phạt, và tất cả những ai cứ tiếp tục ngoan cố phạm trọng tội, thì không được phép đón nhận Mình Thánh Chúa.”
Điều luật này ám chỉ đến cả hai trường hợp có liên quan đến việc bị từ chối cho rước lễ. Phần đầu có liên quan đến vấn đề bị vạ tuyệt thông và bị khai trừ-chẳng hạn như phê bình, chỉ trích Giáo Hội thì bị cấm việc hiệp thông vào bí tích, và phần thứ hai có liên quan đến việc ngoan cố phạm trọng tội
(H): Thế thì trong trường hợp của những chính trị gia ủng hộ phá thai, thì liệu chúng ta có nên xem là tình huống cố tình phạm trọng tội không? Và đó có nghĩa là gì, thưa Cha?
(T): Khía cạnh kỷ thuật ngôn ngữ của Điều Khoản Luật có liên quan đến những ai “ngoan cố phạm trọng tội” cần phải được phân tích cú pháp một cách hết sức cẩn thận. Có tới bốn yếu tố cần thiết để đáp ứng những điều kiện trình bày trong Điều Khoản Luật 915.
Yếu tố thứ nhất chính là: tội trọng (gravi peccato). Yếu tố này được xét đến có liên quan đến hệ quả của hành động hay sự loại trừ, về mặt chủ quan, nó không nhất thiết phải ngụ ý về việc phán xét về sự phạm tội. “Tội trọng” trong trường hợp này đơn giản ám chỉ đến hành vi tội ác mang tính chất trầm trọng theo một cách nhìn khách quan.
Yếu tố thứ hai được trích dẫn bởi Điều Khoản Luật 915 có liên quan tới “bảng tuyên ngôn,” hay nói cách khác, là sự công khai, vì đó chính là đặc điểm của tội. Yếu tố này giới hạn sự phạm tội trên bình diện công cộng, và nhấn mạnh lại chiều kích cộng đồng và chiều kích giáo hội về Mình Thánh Chúa, vốn biểu hiện cho sự hiệp thông về mặt luân lý, tâm linh, và tín lý với Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài.
Yếu tố thứ ba, bị từ chối cho rước lễ đối với người vẫn cứ kiên quyết khi đã phạm tội tày trời. Khi nói một người cứ kiên quyết phạm tội trên bình diện công khai, thì đó có nghĩa là bằng cách nào đó, anh ta cố tình làm to chuyện rằng anh ta cứ vẫn tiếp tục phạm trọng tội.
Và yếu tố sau cùng, Bộ Luật có đề cập đến là: sự kiên trì ngoan cố. Theo phó từ trong tiếng La Tinh “obstinate” ở đây có nghĩa là một người đã biết là mình đã phạm tội trọng rồi, thế nhưng vẫn cứ kiên quyết phạm tội một cách lỳ lợm. Sở dĩ có điều khoản luật đó là vì cứ tưởng là mình vô tội trong chính hành vi tội lổi của mình, khi một ai đó không hề hay rằng một thói quen lặp đi lặp lại như vậy chính là tội. Thế nhưng, khi tội lỗi của anh ta đã được công khai hóa và cho anh ta biết được rằng, anh ta đã phạm tội, rũi thay, anh ta vẫn cứ lỳ lợm và cố tình phạm.
Việc suy xét dựa trên những yếu tố vừa kể trên, thì rõ ràng là một chính trị gia nào bỏ phiếu nhằm chống lại việc bảo vệ mạng sống của những con người vô tội và đưa ra những dấu hiệu rằng mình vẫn có chủ ý chống lại mặc cho những khuyến cáo từ các giới chức trong Giáo Hội, thì xét về mặt khách quan, điều đó được xem là cố tình phạm tội trên bình diện công cộng. Và vì thế, anh ta đáp ứng trọn những qui định ràng buộc của Điều Khoản Luật 915.
(H): Trong Thông Cáo của Đức Giám Mục Burke, vốn được công khai vào tháng Giêng vừa qua, thì Ngài cho rằng đây là một vụ xì-căng-đan, vì nó đã “đi ngược lại cả về luật đạo lẫn đời khi chối từ tính bất khả xâm phạm của phẩm giá của mọi mạng sống con người”. Ngài viết: “Phải chăng đây là một tội lổi tày trời và cố tình dùng vụ xì-căng-đang này để tạo gương xấu cho tất cả mọi tín hữu?” Thế thì, theo Cha, làm sao mà vụ xì-căng-đan có liên quan đến việc từ chối cho rước lễ?
(T): Mặc dầu theo ngôn ngữ trần tục “xì-căng-đan” có liên hệ đến điều gì đó gây ra sửng sốt hay nhục nhã, từ ngữ này có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp là “skandalon” - tức vấp ngã, sai lầm - và theo đúng nghĩa của nó thì đó là “một thái độ hay hành vi dẫn người khác đến việc phạm tội,” theo như luật giáo lý có đề cập đến trong Bảng Câu Hỏi Giáo Lý (Catechisim) Số 284. Vì các chính trị gia, có tầm nhìn công cộng và quyền uy về luân lý, bằng chính ví dụ điển hình của họ, có thể dẩn người khác đến hoặc là làm điều thiện, hoặc là phạm tội trọng.
Theo Bảng Câu Hỏi Giáo Lý, Số 2285: “Xì-căng-đan là một tội trọng được gây ra bởi những ai có trách nhiệm dạy dỗ và giáo dục người khác trên bình diện cá nhân hay công cộng.” Và chúng ta đọc tiếp trong Số 2286 rằng: “Họ là những kẻ có tội vì thông qua việc tạo ra luật và những cấu trúc xã hội, đã dẫn đến sự sa đọa về luân lý.” Ngoài vai trò thực tiễn của họ là xem xét những hành động nào được xem là bị trừng phạt, và những hành động nào được cho là đúng theo pháp luật, các nhà lập pháp dân sự cũng có vai trò sư phạm (giáo dục) trong việc giúp hình thành nên ý kiến công cộng và lương tâm cá nhân.
Những quyết định về hành động nào là tội và hành động nào là hợp pháp có ảnh hưởng đến cách mà mọi người nhìn đến tính cách luân lý vì nó biểu trưng cho một cách xét đoán về mặt xã hội của hành vi đạo đức đó. Chính vì thế các nhà lập pháp, quan trọng hơn bất kỳ những viên chức công quyền nào, được mời gọi để đề ra những tiêu chuẩn cao hơn trong trách nhiệm của mình vì những quyết định về mặt luân lý của họ có ảnh hưởng đến những người khác.
(H): Qua lời phát biểu vào hôm thứ sáu vừa qua, Đức Hồng Y Arinze có nói rằng: “Quy phạm (Norm) của Giáo Hội thì đã quá rõ rồi. Có Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ, thì cũng có các Đức Giám Mục. Hãy để cho các Ngài diễn dẫn.” Thế thì, nếu Quy Phạm của Giáo Hội thì đã quá rõ rồi, thì tại sao lại cần phải có sự diễn dẫn, thưa Cha?
(T): Một bên là Quy Phạm khách quan, và bên kia chính là sự áp dụng đối với những trường hợp cụ thể. Theo Bộ Luật Giáo Hội, thì nó rơi vào qui trách của những Giám Mục địa phương, hay còn gọi là “ordinary”, quyết định khi những trường hợp như vậy nổi lên thì các Ngài sẽ áp dụng những phương cách thích hợp để chỉnh đốn lại tình hình. Điều Khoản Luật 1339 một phần nêu ra rằng: “Một Giám Mục địa phương có thể qưở trách một ai đó khi hành vi của người đó tạo ra một xì-căng-đang hay một sự xáo trộn nghiêm trọng về trật tự nhằm để ứng thích với những điều kiện đặc biệt của người đó và hành động của mình.” Chính vì thế, nó rơi vào qui trách của các Đức Giám Mục trong việc áp dụng những hình phạt này.
(H): Thế những hình phạt đó sẽ không được xem như là đóng vai trò chính trị thiên tả, thưa Cha?
(T): Trong trường hợp cụ thể đối với những chính trị gia Công Giáo nào công khai chống lại quan điểm của Giáo Hội về sự sống, thì sự thận trọng là rất cần thiết. Đặc biệt là trong tình trạng hiện nay, khi những đảng chính trị rất khác biệt nhau về những chỉ dẫn của Giáo Hội, thì sự cẩn trọng cần phải được lưu tâm tới để tránh bị cho rằng thiên về một phe đảng chính trị nào, và đồng thời đưa ra một thông điệp mập mờ về cả quan điểm của Giáo Hội về việc phá thai lẫn tầm quan trọng mà Giáo Hội muốn hòa hợp trong vấn đề này bởi vì tập trung chính yếu của nó là mang đến những điều tốt đẹp chung. Khi một đảng chính trị xem lập trường chống lại sự sống như là khía cạnh hoạt động nền tảng của mình, thì Giáo Hội không có chọn lựa nào khác hơn là chối từ đảng chính trị đó. Nếu các cha sở của Giáo Hội nêu rõ cho các chính trị gia là việc phá thai thật sự là một vấn đề không thể nào được đem ra thương thuyết, và ai đã từng bị qưở trách, thì ít nhất ra, họ nên dùng quyền luân lý và chính trị của họ để làm áp lực lên những nhà chính trị khác để việc phá thai được nhìn nhận trên bình diện luân lý. Đôi lúc, phải cần có tiếng nói tiên tri để thức tỉnh họ khỏi trạng thái hôn mê của luân lý, đặc biệt là khi họ xem đó là một chuyện “thường tình”, để từ đó gây ra một sự kích động về luân lý. Nếu công khai cố tình ủng hộ việc phá thai không tạo đủ lý do về mục vụ để biện hộ cho việc từ chối lãnh nhận Mình Thánh Chúa, thì thật khó mà có thể tưởng tượng ra khi nào phải đem ra áp dụng biện pháp này theo một cách đúng đắn.
(H): Có phải vấn đề này thật sự là rất quan trọng? Vậy thì các Đức Giám Mục có nên mạo hiểm về quyền luân lý của các Ngài đối với vấn đề của những nhà lập pháp ủng hộ việc phá thai không thưa Cha?
(T): Hãy lấy kinh nghiệm của quá khứ để làm bài học. Lịch sử đã chứng tỏ được quyền phán xét của những nhà lảnh đạo Giáo Hội nào mà không đem ra thi hành tất cả những biện pháp trong quyền hạn của mình để đặt dấu chấm hết cho những tội lỗi kinh thiên động địa chống lại nhân quyền. Cũng cần nên nhớ lại những sự kiện trong những thế kỷ qua chẳng hạn như việc buôn bán nô lệ ở Phi Châu, chính sách apartheid hay sự độc tài của Hitler tại Đức Quốc, để từ đó, có phương cách hành động thích hợp. Những tình huống như vậy, vào lúc đó, trông có vẽ rất là phức tạp và muôn hình vạn trạng, sẽ được coi là dị kỳ nếu như chúng được nhìn dưới cái nhìn lịch sử của một tá điền. Một phân tích thiên vị của các sự kiện sẽ cho thấy được tình trạng hiện hành bằng việc hợp thức hóa việc phá thai thì nó chẳng kém nào vi phạm trầm trọng đến những vấn đề về nhân quyền của các thời đại khác. Mặc dầu chúng ta có thể làm quen với thực trạng tàn nhẩn của việc phá thai, thì nó có vẽ như rằng nền văn minh đã đến hồi kết thúc, và như thế, các thế hệ tương lai sẽ nhìn lại thời đại của chúng ta, và cho rằng, đó là một thời đại tàn nhẩn và độc ác nhất trong lịch sử, chứ không phải là những cuộc chiến tranh hay khủng bố nào cả, mà đặc biệt là sự hủy diệt vô trùng của những thành viên mất khả năng tự vệ trong xã hội, là những người nghèo nhất trong số các người nghèo, bởi vì họ không có lấy một tiếng nói để tự vệ. Hơn thế nữa, tình chất trọng đại duy nhất của cuộc khủng khoảng chính là giờ đây đã có hơn 40 triệu cái chết đã được hoạch định của những trẻ em chưa được chào đời chỉ riêng tại Hoa Kỳ mà thôi kể từ khi việc phá thai được hợp thức hóa vào năm 1973-thì nhiêu đó thôi cũng đủ khiến cho việc phá thai là một vấn đề lớn nhất về công bình xã hội trong tất cả mọi thời đại.
Lược trích bài phỏng vấn nhà thần học người Hoa Kỳ tại thành Rôma
Khuynh hướng của Giáo Hội trong việc từ chối cho rước lễ đối với những chính trị gia phò phá thai càng ngày càng gia tăng. Tại cuộc họp báo ở Vaticăn vào thứ sáu vừa qua, Đức Hồng Y Phanxicô Arinze nói rằng những chính trị gia nào ngấm ngầm ủng hộ việc phá thai không nên lên rước lễ và các linh mục phải từ chối việc cho họ lãnh nhận bí tích này. Vào tháng giêng vừa qua, Đức Giám Mục của địa phận La Crosse ở bên tiểu bang Wisconsin, cũng đã ban hành một sắc lệnh cấm các nhà lập pháp ủng hộ việc phá thai hay việc trợ tử được lên rước lễ.
Để hiểu rỏ hơn về những dấu chỉ có liên quan đến việc mục vụ và luật lệ Giáo Hội, hãng thông tấn Công Giáo Zenit đã phỏng vấn nhà thần học người Hoa Kỳ là Cha Thomas Williams, Khoa Trưởng của phân khoa thần học của Viện Đại Học Giáo Hoàng Trinh Nữ Vương (Regina Apostolorum Pontifical Athenaeum).
Hỏi (H): Thưa Cha, có phải Giáo Hội đang áp dụng quan điểm cứng rắn về việc đón nhận Mình Thánh Chúa?
Cha Williams (T): Giáo Hội luôn luôn nhìn nhận vấn đề này một cách nghiêm trọng. Bằng những ngôn từ rất mạnh Thánh Phaolô đã qưở trách Giáo Hội trong thư thứ Nhất gởi Tín Hữu Côrintô: “Cho nên kẻ ăn Bánh hay uống Chén của Chúa cách bất xứng, tất sẽ mắc tội đối với Mình và Máu Chúa. Vậy thì người ta hãy tự hạch xét chính mình, rồi như vậy mới ăn Bánh và uống Chén ấy.” Đó là trong thư Thứ Nhất gởi tín hữu Côrintô đoạn 11, từ câu 27 đến 28.
Theo như Bộ Giáo Luật năm 1983, nhằm nhấn mạnh đến việc giảng dạy của Công Đồng Trent, Điều Luật thứ 11 nêu ra rằng: ngoại trừ lý do nghiêm trọng, bất kỳ ai phạm tội về luân lý, nên tự mình không lên rước lễ. Theo Điều Khoản 916 của Bộ Luật năm 1983 thì: “Bất kỳ ai phạm tội về lương tâm, sẽ không được phép đón nhận Mình Thánh Chúa nếu như không đi xưng tội.”
(H): Thế nhưng, chẳng có sự khác biệt nào đáng ghi nhận cả giữa việc khuyến khích những ai phạm tội không được lên rước lễ và cấm cho rước lễ đối với những người cố quyết tâm, thưa Cha?
(T): Vâng, dĩ nhiên là như vậy. Bất kỳ ai phạm trọng tội dưới bất kỳ hình thức nào, dấu diếm hay công khai, nên tự mình không lên rước lễ, vì nếu đã phạm tội trọng một cách thái quá hay công khai, thì đó là lý do để cho các linh mục và Giám Mục từ chối cho họ rước lễ.
Điều Khoản 915 trong Bộ Giáo Luật đề cập rất rõ về vấn đề này. Toàn bộ bản văn của Điều Khoản này được đọc tóm tắt như sau: “Tất cả những ai bị vạ tuyệt thông hay bị khai trừ sau khi đã phạm tội và đón nhận hình phạt, và tất cả những ai cứ tiếp tục ngoan cố phạm trọng tội, thì không được phép đón nhận Mình Thánh Chúa.”
Điều luật này ám chỉ đến cả hai trường hợp có liên quan đến việc bị từ chối cho rước lễ. Phần đầu có liên quan đến vấn đề bị vạ tuyệt thông và bị khai trừ-chẳng hạn như phê bình, chỉ trích Giáo Hội thì bị cấm việc hiệp thông vào bí tích, và phần thứ hai có liên quan đến việc ngoan cố phạm trọng tội
(H): Thế thì trong trường hợp của những chính trị gia ủng hộ phá thai, thì liệu chúng ta có nên xem là tình huống cố tình phạm trọng tội không? Và đó có nghĩa là gì, thưa Cha?
(T): Khía cạnh kỷ thuật ngôn ngữ của Điều Khoản Luật có liên quan đến những ai “ngoan cố phạm trọng tội” cần phải được phân tích cú pháp một cách hết sức cẩn thận. Có tới bốn yếu tố cần thiết để đáp ứng những điều kiện trình bày trong Điều Khoản Luật 915.
Yếu tố thứ nhất chính là: tội trọng (gravi peccato). Yếu tố này được xét đến có liên quan đến hệ quả của hành động hay sự loại trừ, về mặt chủ quan, nó không nhất thiết phải ngụ ý về việc phán xét về sự phạm tội. “Tội trọng” trong trường hợp này đơn giản ám chỉ đến hành vi tội ác mang tính chất trầm trọng theo một cách nhìn khách quan.
Yếu tố thứ hai được trích dẫn bởi Điều Khoản Luật 915 có liên quan tới “bảng tuyên ngôn,” hay nói cách khác, là sự công khai, vì đó chính là đặc điểm của tội. Yếu tố này giới hạn sự phạm tội trên bình diện công cộng, và nhấn mạnh lại chiều kích cộng đồng và chiều kích giáo hội về Mình Thánh Chúa, vốn biểu hiện cho sự hiệp thông về mặt luân lý, tâm linh, và tín lý với Chúa Kitô và Giáo Hội của Ngài.
Yếu tố thứ ba, bị từ chối cho rước lễ đối với người vẫn cứ kiên quyết khi đã phạm tội tày trời. Khi nói một người cứ kiên quyết phạm tội trên bình diện công khai, thì đó có nghĩa là bằng cách nào đó, anh ta cố tình làm to chuyện rằng anh ta cứ vẫn tiếp tục phạm trọng tội.
Và yếu tố sau cùng, Bộ Luật có đề cập đến là: sự kiên trì ngoan cố. Theo phó từ trong tiếng La Tinh “obstinate” ở đây có nghĩa là một người đã biết là mình đã phạm tội trọng rồi, thế nhưng vẫn cứ kiên quyết phạm tội một cách lỳ lợm. Sở dĩ có điều khoản luật đó là vì cứ tưởng là mình vô tội trong chính hành vi tội lổi của mình, khi một ai đó không hề hay rằng một thói quen lặp đi lặp lại như vậy chính là tội. Thế nhưng, khi tội lỗi của anh ta đã được công khai hóa và cho anh ta biết được rằng, anh ta đã phạm tội, rũi thay, anh ta vẫn cứ lỳ lợm và cố tình phạm.
Việc suy xét dựa trên những yếu tố vừa kể trên, thì rõ ràng là một chính trị gia nào bỏ phiếu nhằm chống lại việc bảo vệ mạng sống của những con người vô tội và đưa ra những dấu hiệu rằng mình vẫn có chủ ý chống lại mặc cho những khuyến cáo từ các giới chức trong Giáo Hội, thì xét về mặt khách quan, điều đó được xem là cố tình phạm tội trên bình diện công cộng. Và vì thế, anh ta đáp ứng trọn những qui định ràng buộc của Điều Khoản Luật 915.
(H): Trong Thông Cáo của Đức Giám Mục Burke, vốn được công khai vào tháng Giêng vừa qua, thì Ngài cho rằng đây là một vụ xì-căng-đan, vì nó đã “đi ngược lại cả về luật đạo lẫn đời khi chối từ tính bất khả xâm phạm của phẩm giá của mọi mạng sống con người”. Ngài viết: “Phải chăng đây là một tội lổi tày trời và cố tình dùng vụ xì-căng-đang này để tạo gương xấu cho tất cả mọi tín hữu?” Thế thì, theo Cha, làm sao mà vụ xì-căng-đan có liên quan đến việc từ chối cho rước lễ?
(T): Mặc dầu theo ngôn ngữ trần tục “xì-căng-đan” có liên hệ đến điều gì đó gây ra sửng sốt hay nhục nhã, từ ngữ này có xuất xứ từ tiếng Hy Lạp là “skandalon” - tức vấp ngã, sai lầm - và theo đúng nghĩa của nó thì đó là “một thái độ hay hành vi dẫn người khác đến việc phạm tội,” theo như luật giáo lý có đề cập đến trong Bảng Câu Hỏi Giáo Lý (Catechisim) Số 284. Vì các chính trị gia, có tầm nhìn công cộng và quyền uy về luân lý, bằng chính ví dụ điển hình của họ, có thể dẩn người khác đến hoặc là làm điều thiện, hoặc là phạm tội trọng.
Theo Bảng Câu Hỏi Giáo Lý, Số 2285: “Xì-căng-đan là một tội trọng được gây ra bởi những ai có trách nhiệm dạy dỗ và giáo dục người khác trên bình diện cá nhân hay công cộng.” Và chúng ta đọc tiếp trong Số 2286 rằng: “Họ là những kẻ có tội vì thông qua việc tạo ra luật và những cấu trúc xã hội, đã dẫn đến sự sa đọa về luân lý.” Ngoài vai trò thực tiễn của họ là xem xét những hành động nào được xem là bị trừng phạt, và những hành động nào được cho là đúng theo pháp luật, các nhà lập pháp dân sự cũng có vai trò sư phạm (giáo dục) trong việc giúp hình thành nên ý kiến công cộng và lương tâm cá nhân.
Những quyết định về hành động nào là tội và hành động nào là hợp pháp có ảnh hưởng đến cách mà mọi người nhìn đến tính cách luân lý vì nó biểu trưng cho một cách xét đoán về mặt xã hội của hành vi đạo đức đó. Chính vì thế các nhà lập pháp, quan trọng hơn bất kỳ những viên chức công quyền nào, được mời gọi để đề ra những tiêu chuẩn cao hơn trong trách nhiệm của mình vì những quyết định về mặt luân lý của họ có ảnh hưởng đến những người khác.
(H): Qua lời phát biểu vào hôm thứ sáu vừa qua, Đức Hồng Y Arinze có nói rằng: “Quy phạm (Norm) của Giáo Hội thì đã quá rõ rồi. Có Giáo Hội Công Giáo tại Hoa Kỳ, thì cũng có các Đức Giám Mục. Hãy để cho các Ngài diễn dẫn.” Thế thì, nếu Quy Phạm của Giáo Hội thì đã quá rõ rồi, thì tại sao lại cần phải có sự diễn dẫn, thưa Cha?
(T): Một bên là Quy Phạm khách quan, và bên kia chính là sự áp dụng đối với những trường hợp cụ thể. Theo Bộ Luật Giáo Hội, thì nó rơi vào qui trách của những Giám Mục địa phương, hay còn gọi là “ordinary”, quyết định khi những trường hợp như vậy nổi lên thì các Ngài sẽ áp dụng những phương cách thích hợp để chỉnh đốn lại tình hình. Điều Khoản Luật 1339 một phần nêu ra rằng: “Một Giám Mục địa phương có thể qưở trách một ai đó khi hành vi của người đó tạo ra một xì-căng-đang hay một sự xáo trộn nghiêm trọng về trật tự nhằm để ứng thích với những điều kiện đặc biệt của người đó và hành động của mình.” Chính vì thế, nó rơi vào qui trách của các Đức Giám Mục trong việc áp dụng những hình phạt này.
(H): Thế những hình phạt đó sẽ không được xem như là đóng vai trò chính trị thiên tả, thưa Cha?
(T): Trong trường hợp cụ thể đối với những chính trị gia Công Giáo nào công khai chống lại quan điểm của Giáo Hội về sự sống, thì sự thận trọng là rất cần thiết. Đặc biệt là trong tình trạng hiện nay, khi những đảng chính trị rất khác biệt nhau về những chỉ dẫn của Giáo Hội, thì sự cẩn trọng cần phải được lưu tâm tới để tránh bị cho rằng thiên về một phe đảng chính trị nào, và đồng thời đưa ra một thông điệp mập mờ về cả quan điểm của Giáo Hội về việc phá thai lẫn tầm quan trọng mà Giáo Hội muốn hòa hợp trong vấn đề này bởi vì tập trung chính yếu của nó là mang đến những điều tốt đẹp chung. Khi một đảng chính trị xem lập trường chống lại sự sống như là khía cạnh hoạt động nền tảng của mình, thì Giáo Hội không có chọn lựa nào khác hơn là chối từ đảng chính trị đó. Nếu các cha sở của Giáo Hội nêu rõ cho các chính trị gia là việc phá thai thật sự là một vấn đề không thể nào được đem ra thương thuyết, và ai đã từng bị qưở trách, thì ít nhất ra, họ nên dùng quyền luân lý và chính trị của họ để làm áp lực lên những nhà chính trị khác để việc phá thai được nhìn nhận trên bình diện luân lý. Đôi lúc, phải cần có tiếng nói tiên tri để thức tỉnh họ khỏi trạng thái hôn mê của luân lý, đặc biệt là khi họ xem đó là một chuyện “thường tình”, để từ đó gây ra một sự kích động về luân lý. Nếu công khai cố tình ủng hộ việc phá thai không tạo đủ lý do về mục vụ để biện hộ cho việc từ chối lãnh nhận Mình Thánh Chúa, thì thật khó mà có thể tưởng tượng ra khi nào phải đem ra áp dụng biện pháp này theo một cách đúng đắn.
(H): Có phải vấn đề này thật sự là rất quan trọng? Vậy thì các Đức Giám Mục có nên mạo hiểm về quyền luân lý của các Ngài đối với vấn đề của những nhà lập pháp ủng hộ việc phá thai không thưa Cha?
(T): Hãy lấy kinh nghiệm của quá khứ để làm bài học. Lịch sử đã chứng tỏ được quyền phán xét của những nhà lảnh đạo Giáo Hội nào mà không đem ra thi hành tất cả những biện pháp trong quyền hạn của mình để đặt dấu chấm hết cho những tội lỗi kinh thiên động địa chống lại nhân quyền. Cũng cần nên nhớ lại những sự kiện trong những thế kỷ qua chẳng hạn như việc buôn bán nô lệ ở Phi Châu, chính sách apartheid hay sự độc tài của Hitler tại Đức Quốc, để từ đó, có phương cách hành động thích hợp. Những tình huống như vậy, vào lúc đó, trông có vẽ rất là phức tạp và muôn hình vạn trạng, sẽ được coi là dị kỳ nếu như chúng được nhìn dưới cái nhìn lịch sử của một tá điền. Một phân tích thiên vị của các sự kiện sẽ cho thấy được tình trạng hiện hành bằng việc hợp thức hóa việc phá thai thì nó chẳng kém nào vi phạm trầm trọng đến những vấn đề về nhân quyền của các thời đại khác. Mặc dầu chúng ta có thể làm quen với thực trạng tàn nhẩn của việc phá thai, thì nó có vẽ như rằng nền văn minh đã đến hồi kết thúc, và như thế, các thế hệ tương lai sẽ nhìn lại thời đại của chúng ta, và cho rằng, đó là một thời đại tàn nhẩn và độc ác nhất trong lịch sử, chứ không phải là những cuộc chiến tranh hay khủng bố nào cả, mà đặc biệt là sự hủy diệt vô trùng của những thành viên mất khả năng tự vệ trong xã hội, là những người nghèo nhất trong số các người nghèo, bởi vì họ không có lấy một tiếng nói để tự vệ. Hơn thế nữa, tình chất trọng đại duy nhất của cuộc khủng khoảng chính là giờ đây đã có hơn 40 triệu cái chết đã được hoạch định của những trẻ em chưa được chào đời chỉ riêng tại Hoa Kỳ mà thôi kể từ khi việc phá thai được hợp thức hóa vào năm 1973-thì nhiêu đó thôi cũng đủ khiến cho việc phá thai là một vấn đề lớn nhất về công bình xã hội trong tất cả mọi thời đại.