Nhận định của Elizabeth Lev
ROME (Zenit.org).- Ào ạt những tin tức và phẩm bình được in ra trên báo chí chung quanh cuộc gặp gỡ của Đức giáo hoàng Benedict XVI với giới nghệ thuật vào thứ Bẩy tuần trước. Một số báo chí khen ngợi âm nhạc và các minh tinh điện ảnh nuớc Ý; những tờ báo khác lại chú trọng đến nguy cơ về chính trị khi Tòa thánh mời các nhà đạo diễn Israel hoặc các kiến trúc sư người Iraq. Nhưng điều mà mỗi nhà bình luận hình như cùng đồng thuận là đã có một cuộc “ly dị” giữa nghệ thuật và Giáo hội.
Điều đó nghe có vẻ kỳ lạ đối với tôi là một người chuyên về lịch sử nghệ thuật. Tôi tự hỏi: nghệ thuật đã kết hôn với Giáo hội bao giờ vậy? Vào lúc nào hai bên như hai nửa không thể tách rời và bình đẳng đã ghép lại chung thành một? Chẳng phải chính xác hơn chăng khi coi cuộc ly gián hiện nay giữa các nghệ sĩ và văn hóa Kitô giáo là biểu hiện một thời niên thiếu của nghệ thuật vẫn còn kéo dài không chịu trưởng thành?
Suốt trên một ngàn năm Giáo hội đã là người bảo trợ lớn lao nhất cho nghệ thuật, làm sống dậy nghệ thuật cổ đại đang hấp hối, cứu vớt các nghệ sĩ và công trình của họ thoát khỏi chứng điên cuồng của chủ nghĩa bài thánh tượng, cung ứng cho các nhà họa sĩ và điêu khắc gia thời Phục hưng một cơ hội vượt lên trên trạng thái thợ thủ công để trở thành “nghệ sĩ”, những người đã miệt mài cả bàn tay và khối óc trong các tác phẩm của mình.
Trong chiều hướng đó, Giáo hội hành động như một người cha nuôi dưỡng, cung cấp giáo dục và đưa ra những giới hạn, ngoài ra cũng còn cổ vũ các nhà nghệ sĩ rèn luyện tài năng của họ, học hỏi, thử nghiệm và trưởng thành trong tài năng đó.
Từ ngữ bảo trợ (patronage), biến thể từ tiếng Latinh có nghĩa là người cha, đã khơi nguồn cho bản năng sáng tạo của con người và thách thức nó đạt đến những mục tiêu cao nhất; trình bầy lịch sử nhân loại và ơn cứu độ, khuyến khích các anh chị em mình khao khát vẻ đẹp trong cuộc sống của họ.
Các họa sĩ, các nhà điêu khắc, được Giáo hội bảo trợ, đã phát triển, đạt tới tuyệt đỉnh trong các thành tựu nghệ thuật, và được danh hiệu từng mơ ước là trở thành nghệ sĩ. Thời Phục hưng đã chứng kiến những bậc thầy về kỹ thuật tạo hình, trong các bức bích họa, điêu khắc đá, hội họa theo luật phối cảnh và rút gọn; họ được chấp nhận như những nhà tư tưởng, được ghi danh vào lớp người làm nghệ thuật tự do có thế giá, đứng ngang hàng với các nhà thần học, triết gia và toán học.
Với thành tựu này, các nghệ sĩ thời kỳ Baroque vội vã cùng nhau bảo vệ Giáo hội chống lại chủ nghĩa bài trừ thánh tượng của thời Cải cách. Tiếng gọi nên thánh uy dũng của Caravaggio và thuần phục siêu nhiên bằng nghệ thuật và kiến trúc của Bernini, đã minh họa một tâm tình trung thành yêu thương của con cái đối với Giáo hội.
Nhưng khi các nghệ sĩ khám phá ra tiềm năng lớn lao của mình để xác định cũng như được ban tặng tình trạng xã hội rồi, thì họ lại không ngừng cảm thấy môi trường nuôi dưỡng của Giáo hội như là một sự kiềm chế. Những thách thức biến thành gò bó, những truyện tích thánh thiêng trở nên ngột ngạt. Thế là các nghệ sĩ rời bỏ những tiện nghi trong nhà để đi ra ngoài tìm những đề tài mới. Thiên nhiên, chính trị và khoái lạc lên tiếng kêu gọi và các nghệ sĩ dùng những tài nghệ đã được mài dũa tốt đẹp để thám hiểm một cách sinh động thế giới chung quanh họ. Họ cố nhìn thấy trong mọi cảnh trí của thiên nhiên và con người cùng một sự lớn lao vĩ đại như họ đã tìm được ở nhà, tức là trong Giáo hội.
Vào khúc quanh của thế kỷ 19, các nghệ sĩ tìm thấy được một đề tài mới làm họ say mê và nô lệ: đó là chính họ. Khi Freud cho con người lấy ngay tâm linh của mình làm tấm khung tham chiếu chính yếu, thì nghệ sĩ, như Narcissus chẳng hạn, thấy chính mình như bị lạc lối ngay trong những suy tư của mình. Chẳng bao lâu ông rời bỏ những điều đã được chính thức học hỏi, đặt mọi chú tâm vào những cảm giác và nhận thức của riêng mình. Từ đó, các nghệ sĩ theo trường phái Biểu hiện, Siêu thực, Hiện đại trở thành hồn thơ của chính họ.
Và thế là xảy ra thời niên thiếu của nghệ thuật thời nay -- giận dữ, ảm đạm, hướng vể bản thân – đã chọn lựa khiêu khích chứ không thuyết phục, kích động chứ không gợi hứng, và cuồng nộ thay cho lý trí.
Và giống như nhiều đứa trẻ trong lớp tuổi “teens” đi trước, họ đánh dấu bước đường trưởng thành bằng hành động chối bỏ những người cha của mình. Đóng đinh một con cóc trên cây thập giá, hay vấy phân trâu trên hình ảnh Đức Mẹ, và gọi đó là “nghệ thuật”. Họ nhạo báng, khinh thị và phàm tục hóa ngôi nhà tổ tiên, nhân danh một “sự tự do” không xác định rõ rệt.
Và cũng như trường hợp đối với lớp thanh thiếu niên như thế, người ta ngưng không chú ý tới họ nữa.
Đức thánh cha đã đứng ở ngưỡng cửa – Phaolô VI năm 1964, Gioan Phaolô II năm 1999 và nay Giáo hoàng Benedict vào ngày thứ Bẩy tuần trước – kêu gọi những đứa con đi lạc và giang đôi tay mở rộng đợi họ trở về.
Câu hỏi thực sự là, khi nào thì những đứa con hoang đàng quyết định xem họ đã sống quá đủ ở các chuồng heo?
* * *
Ánh sáng và bóng tối
Cũng giống như câu truyện sử thi về việc ủy thác cho Michelangelo vẽ những bích họa trên vòm nguyện đường Sistine, nỗ lực dũng cảm để tái lập cuộc đối thoại giữa nghệ thuật và Giáo hội cuối tuần qua đã có những phút vừa đớn đau vừa sung sướng.
Các nghệ sĩ thấy sáng kiến mời gặp Đức thánh cha mang lại một tinh thần cộng tác, một sự cởi mở về phía họ để nhìn Giáo hội bằng đôi mắt trưởng thành và cảm kích.
Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa đáp ứng bằng cách mời các nghệ sĩ thuộc mọi ngành: các kiến trúc sư, nhạc sĩ, tác giả, nhà sản xuất phim ảnh, cũng như các họa sĩ và nhà điêu khắc. Những nhà sử học về nghệ thuật biết rõ chúng ta có một lãnh vực bao gồm nhiều ngành học thuật; văn chương, âm nhạc và không gian đóng vai trò lớn trong nhiều công trình nghệ thuật. Cơ hội để những người nam nữ đó từ nhiều ngành hợp nhất lại dưới vòm nghệ thuật của Michelangelo cũng giống như gieo vãi hạt giống trên mảnh đất phì nhiêu mầu mỡ nhất để thấy được những gì sẽ mọc lên.
Hơn thế nữa, các nghệ sĩ đã có cơ hội được coi bộ sưu tập lớn lao về Nghệ thuật Hiện đại ở Viện bảo tàng Vatican. Hàng trăm và hàng trăm các tác phẩm chứng tỏ mối quan tâm tiếp nối trong các nỗ lực của các vị giáo hoàng, trong khi đó có một số ít những viên ngọc quý của Van Gogh, Matisse và Chagall chứng tỏ rằng các nghệ sĩ, những người đã xếp xó danh vọng và tiền tài trong trần thế này, đã có lúc đối diện với di sản lớn lao của nghệ thuật linh thánh.
Bài diễn từ của ĐGH Benedict XVI gợi lại tinh thần bảo trợ xưa. Đúc thánh cha khen ngợi sự đóng góp của nghệ thuật vào “sứ điệp bất biến về cứu độ” của Giáo hội. Nhấn mạnh đến truyền thống và tính siêu việt, Đức giáo hoàng mô tả bản chất đích thực của “nghệ thuật tạo nên khích động, làm mở ra đôi mắt mới mẻ của tâm hồn và trí óc, cho con người đôi cánh và nâng con người lên cao.” Dưới vòm nguyện đường Sistine làm say mê và bức danh họa Thánh Têrêxa xuất thần của Bernini làm choáng ngợp, người thưởng ngoạn có thể thoáng nhìn thấy được vẻ cao cả của những gì là siêu nhiên, ẩn dấu ngay bên kia đôi mắt trần tục của họ.
Trái lại, thứ nghệ thuật làm cho con người choáng váng, chẳng hạn như cái đầu bò thối rữa (của Damian Hirst) hay tượng bằng sứ Michael Jackson và vật cưng của ông là con khỉ Bubbles (của Jeff Koons), chẳng đưa lại được cái gì để đem con người ra khỏi chính bản thân mình.
Đức giáo hoàng Benedict đã cảnh giác về “vẻ đẹp quyến rũ nhưng giả dối, khơi dậy ham muốn, uy lực, chiếm hữu và thống trị.” Không sử dụng những từ ngữ hào nhoáng, hoặc thông thường đúng theo chính trị, Đức thánh cha đã khiển trách một thứ nghệ thuật “mang hình thức đồi bại, vi phạm đạo đức hoặc khích động những điều vu vơ.”
Nhưng giữa lúc hy vọng bắt đầu bừng sáng qua những biến động của nghệ thuật đương đại, một ít những đám mây đen vẫn còn đè nặng ở chân trời.
Đối với một số người thì việc tuyển chọn các nghệ sĩ tham dự đã đặt nặng quá nhiều vào những vị từ nước Ý. Tuy nước Ý quả thực đã sản sinh ra Michelangelo và Raphael, nhưng cũng nên nhớ rằng họ là những người ngoại quốc cũng đã cần phải có giấy thông hành mới vào được Kinh thành Vĩnh cửu Roma.
Việc thiếu phiên dịch và quá chú trọng đến những gì là Ý đại lợi đã làm cho buổi gặp gỡ có phong vị tỉnh lẻ một cách kỳ lạ. Một trong những nghệ sĩ hiện diện chú ý thấy 6 gian phòng đầu tiên trong khu trưng bầy nghệ thuật hiện đại là dành cho nước Ý, mà đúng ra người Ý không phải là những kẻ tiền phong của nghệ thuật đương đại.
Các nghệ sĩ không có được cơ hội để tương tác. Không có những cuộc hội thảo hay các phiên nhóm mở đường dành cho các kiến trúc sư để giao dịch hay các nhà sản xuất phim ảnh trao đổi ý kiến, nên cuộc trao đổi sinh động đã làm hứng khởi Danta và Giotto trong thời gian họ ở Padua đã có rất ít cơ hội được tái lặp.
Bất mãn đặc biệt là sự vắng mặt to tát của thế giới nói tiếng Anh. Tuy John David Mooney, tác giả những công trình điêu khắc lớn lao bằng ánh sáng, đã làm rực rỡ mọi cảnh quan từ những ngôi nhà chọc trời ở Chicago cho đến Biệt thự Giáo hoàng tại Castel Gandolfo, và thiên tài về video là Bill Viola, cả hai đã được mời, nhưng nhiều người khác đã không được chú ý tới.
Đáng chú ý là sự vắng mặt của những nhà sản xuất và diễn viên phim Passion of the Christ (Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô), một trong những công trình nghệ thuật Công giáo thành tựu nhất ở thời đại chúng ta, cũng như ông Duncan Stroik là kiến trúc sư hàng đầu những công trình linh thánh tại Hoa kỳ. Nước Mỹ đã tài trợ nghệ thuật và thành cột trụ cho các nhà bảo trợ nghệ thuật tại Viện bảo tàng Vatican, đã chi trả cho công trình hồi phục và bảo tồn các bộ sưu tập. Mặc dầu với những sáng kiến lớn lao và năng lực về kinh tế mà thế giới nói tiếng Anh truyền vào nghệ thuật, người Mỹ và người Anh rõ rệt là một thiểu số trong buổi gặp gỡ này.
Khía cạnh chói tai nhất trong biến cố này đối với đôi tai của một nhà chép sử nghệ thuật như tôi đây, đó là việc lặp lại câu thần chú cổ xưa nghe đã nhàm chán: “nghệ thuật phải được tự do.” Caravaggio đã không được tự do muốn làm gì tuỳ thích, và khi ông làm thế, tác phẩm của ông đã bị loại bỏ. Bernini, Velasquez hoặc Jan Van Eyck đã không tự do thực hiện bất cứ sở thích thoáng qua nào. Cái ý tưởng cho rằng có thể đưa cuốn Tin Mừng cho một nghệ sĩ và để trí tưởng tượng của ông ta đi phiêu lưu tùy thích thì cũng rất giống trường hợp để cho một nhà thần học giải thích Thánh kinh theo bất cứ đường lối nào ông ta cho là hay nhất.
Nhưng một niềm nao nức đợi chờ đã không hoàn toàn bị lấy mất đi khỏi nghệ thuật. Trong một tinh thần dấn thân sáng suốt, Tòa thánh Vatican đã đề nghị dựng một khu tại cuộc triển lãm tổ chức mỗi hai năm tại Venice (Venice Biennale), một trong những cuộc trưng bầy nghệ thuật đương đại quan trọng nhất trên thế giới. Dự án đã đề nghị gồm có các cảnh tượng lấy từ sách Khởi nguyên, được giao cho các nghệ sĩ khác nhau thực hiện không chỉ dựa theo văn bản Thánh kinh mà còn theo những chủ đề lớn lao nhất mà con người có thể xét tới: công trình sáng thế, sự ác đi vào trần gian, tội ám sát đầu tiên, nguyên uỷ của tình thương v.v…
Uỷ nhiệm đầy thử thách này, mời gọi các nghệ sĩ nhìn ra bên ngoài kinh nghiệm riêng của họ và suy tư trong tầm mức vũ trụ, là một bước đầu và quan trọng hướng đến sự hòa giải giữa nghệ thuật và Giáo hội.
Nguồn: Elizabeth Lev/Zenit.org
Bà Elizabeth Lev dạy môn nghệ thuật và kiến trúc Kitô giáo tại trường Đại học Duquesne (khuôn viên Ý) và chương trình nghiên cứu Công giáo của trường Đại học Thánh Tôma.
ROME (Zenit.org).- Ào ạt những tin tức và phẩm bình được in ra trên báo chí chung quanh cuộc gặp gỡ của Đức giáo hoàng Benedict XVI với giới nghệ thuật vào thứ Bẩy tuần trước. Một số báo chí khen ngợi âm nhạc và các minh tinh điện ảnh nuớc Ý; những tờ báo khác lại chú trọng đến nguy cơ về chính trị khi Tòa thánh mời các nhà đạo diễn Israel hoặc các kiến trúc sư người Iraq. Nhưng điều mà mỗi nhà bình luận hình như cùng đồng thuận là đã có một cuộc “ly dị” giữa nghệ thuật và Giáo hội.
Điều đó nghe có vẻ kỳ lạ đối với tôi là một người chuyên về lịch sử nghệ thuật. Tôi tự hỏi: nghệ thuật đã kết hôn với Giáo hội bao giờ vậy? Vào lúc nào hai bên như hai nửa không thể tách rời và bình đẳng đã ghép lại chung thành một? Chẳng phải chính xác hơn chăng khi coi cuộc ly gián hiện nay giữa các nghệ sĩ và văn hóa Kitô giáo là biểu hiện một thời niên thiếu của nghệ thuật vẫn còn kéo dài không chịu trưởng thành?
Suốt trên một ngàn năm Giáo hội đã là người bảo trợ lớn lao nhất cho nghệ thuật, làm sống dậy nghệ thuật cổ đại đang hấp hối, cứu vớt các nghệ sĩ và công trình của họ thoát khỏi chứng điên cuồng của chủ nghĩa bài thánh tượng, cung ứng cho các nhà họa sĩ và điêu khắc gia thời Phục hưng một cơ hội vượt lên trên trạng thái thợ thủ công để trở thành “nghệ sĩ”, những người đã miệt mài cả bàn tay và khối óc trong các tác phẩm của mình.
Trong chiều hướng đó, Giáo hội hành động như một người cha nuôi dưỡng, cung cấp giáo dục và đưa ra những giới hạn, ngoài ra cũng còn cổ vũ các nhà nghệ sĩ rèn luyện tài năng của họ, học hỏi, thử nghiệm và trưởng thành trong tài năng đó.
Từ ngữ bảo trợ (patronage), biến thể từ tiếng Latinh có nghĩa là người cha, đã khơi nguồn cho bản năng sáng tạo của con người và thách thức nó đạt đến những mục tiêu cao nhất; trình bầy lịch sử nhân loại và ơn cứu độ, khuyến khích các anh chị em mình khao khát vẻ đẹp trong cuộc sống của họ.
Các họa sĩ, các nhà điêu khắc, được Giáo hội bảo trợ, đã phát triển, đạt tới tuyệt đỉnh trong các thành tựu nghệ thuật, và được danh hiệu từng mơ ước là trở thành nghệ sĩ. Thời Phục hưng đã chứng kiến những bậc thầy về kỹ thuật tạo hình, trong các bức bích họa, điêu khắc đá, hội họa theo luật phối cảnh và rút gọn; họ được chấp nhận như những nhà tư tưởng, được ghi danh vào lớp người làm nghệ thuật tự do có thế giá, đứng ngang hàng với các nhà thần học, triết gia và toán học.
Với thành tựu này, các nghệ sĩ thời kỳ Baroque vội vã cùng nhau bảo vệ Giáo hội chống lại chủ nghĩa bài trừ thánh tượng của thời Cải cách. Tiếng gọi nên thánh uy dũng của Caravaggio và thuần phục siêu nhiên bằng nghệ thuật và kiến trúc của Bernini, đã minh họa một tâm tình trung thành yêu thương của con cái đối với Giáo hội.
Nhưng khi các nghệ sĩ khám phá ra tiềm năng lớn lao của mình để xác định cũng như được ban tặng tình trạng xã hội rồi, thì họ lại không ngừng cảm thấy môi trường nuôi dưỡng của Giáo hội như là một sự kiềm chế. Những thách thức biến thành gò bó, những truyện tích thánh thiêng trở nên ngột ngạt. Thế là các nghệ sĩ rời bỏ những tiện nghi trong nhà để đi ra ngoài tìm những đề tài mới. Thiên nhiên, chính trị và khoái lạc lên tiếng kêu gọi và các nghệ sĩ dùng những tài nghệ đã được mài dũa tốt đẹp để thám hiểm một cách sinh động thế giới chung quanh họ. Họ cố nhìn thấy trong mọi cảnh trí của thiên nhiên và con người cùng một sự lớn lao vĩ đại như họ đã tìm được ở nhà, tức là trong Giáo hội.
Vào khúc quanh của thế kỷ 19, các nghệ sĩ tìm thấy được một đề tài mới làm họ say mê và nô lệ: đó là chính họ. Khi Freud cho con người lấy ngay tâm linh của mình làm tấm khung tham chiếu chính yếu, thì nghệ sĩ, như Narcissus chẳng hạn, thấy chính mình như bị lạc lối ngay trong những suy tư của mình. Chẳng bao lâu ông rời bỏ những điều đã được chính thức học hỏi, đặt mọi chú tâm vào những cảm giác và nhận thức của riêng mình. Từ đó, các nghệ sĩ theo trường phái Biểu hiện, Siêu thực, Hiện đại trở thành hồn thơ của chính họ.
Và thế là xảy ra thời niên thiếu của nghệ thuật thời nay -- giận dữ, ảm đạm, hướng vể bản thân – đã chọn lựa khiêu khích chứ không thuyết phục, kích động chứ không gợi hứng, và cuồng nộ thay cho lý trí.
Và giống như nhiều đứa trẻ trong lớp tuổi “teens” đi trước, họ đánh dấu bước đường trưởng thành bằng hành động chối bỏ những người cha của mình. Đóng đinh một con cóc trên cây thập giá, hay vấy phân trâu trên hình ảnh Đức Mẹ, và gọi đó là “nghệ thuật”. Họ nhạo báng, khinh thị và phàm tục hóa ngôi nhà tổ tiên, nhân danh một “sự tự do” không xác định rõ rệt.
Và cũng như trường hợp đối với lớp thanh thiếu niên như thế, người ta ngưng không chú ý tới họ nữa.
Đức thánh cha đã đứng ở ngưỡng cửa – Phaolô VI năm 1964, Gioan Phaolô II năm 1999 và nay Giáo hoàng Benedict vào ngày thứ Bẩy tuần trước – kêu gọi những đứa con đi lạc và giang đôi tay mở rộng đợi họ trở về.
Câu hỏi thực sự là, khi nào thì những đứa con hoang đàng quyết định xem họ đã sống quá đủ ở các chuồng heo?
* * *
Ánh sáng và bóng tối
Cũng giống như câu truyện sử thi về việc ủy thác cho Michelangelo vẽ những bích họa trên vòm nguyện đường Sistine, nỗ lực dũng cảm để tái lập cuộc đối thoại giữa nghệ thuật và Giáo hội cuối tuần qua đã có những phút vừa đớn đau vừa sung sướng.
Các nghệ sĩ thấy sáng kiến mời gặp Đức thánh cha mang lại một tinh thần cộng tác, một sự cởi mở về phía họ để nhìn Giáo hội bằng đôi mắt trưởng thành và cảm kích.
Hội đồng Giáo hoàng về Văn hóa đáp ứng bằng cách mời các nghệ sĩ thuộc mọi ngành: các kiến trúc sư, nhạc sĩ, tác giả, nhà sản xuất phim ảnh, cũng như các họa sĩ và nhà điêu khắc. Những nhà sử học về nghệ thuật biết rõ chúng ta có một lãnh vực bao gồm nhiều ngành học thuật; văn chương, âm nhạc và không gian đóng vai trò lớn trong nhiều công trình nghệ thuật. Cơ hội để những người nam nữ đó từ nhiều ngành hợp nhất lại dưới vòm nghệ thuật của Michelangelo cũng giống như gieo vãi hạt giống trên mảnh đất phì nhiêu mầu mỡ nhất để thấy được những gì sẽ mọc lên.
Hơn thế nữa, các nghệ sĩ đã có cơ hội được coi bộ sưu tập lớn lao về Nghệ thuật Hiện đại ở Viện bảo tàng Vatican. Hàng trăm và hàng trăm các tác phẩm chứng tỏ mối quan tâm tiếp nối trong các nỗ lực của các vị giáo hoàng, trong khi đó có một số ít những viên ngọc quý của Van Gogh, Matisse và Chagall chứng tỏ rằng các nghệ sĩ, những người đã xếp xó danh vọng và tiền tài trong trần thế này, đã có lúc đối diện với di sản lớn lao của nghệ thuật linh thánh.
Bài diễn từ của ĐGH Benedict XVI gợi lại tinh thần bảo trợ xưa. Đúc thánh cha khen ngợi sự đóng góp của nghệ thuật vào “sứ điệp bất biến về cứu độ” của Giáo hội. Nhấn mạnh đến truyền thống và tính siêu việt, Đức giáo hoàng mô tả bản chất đích thực của “nghệ thuật tạo nên khích động, làm mở ra đôi mắt mới mẻ của tâm hồn và trí óc, cho con người đôi cánh và nâng con người lên cao.” Dưới vòm nguyện đường Sistine làm say mê và bức danh họa Thánh Têrêxa xuất thần của Bernini làm choáng ngợp, người thưởng ngoạn có thể thoáng nhìn thấy được vẻ cao cả của những gì là siêu nhiên, ẩn dấu ngay bên kia đôi mắt trần tục của họ.

Trái lại, thứ nghệ thuật làm cho con người choáng váng, chẳng hạn như cái đầu bò thối rữa (của Damian Hirst) hay tượng bằng sứ Michael Jackson và vật cưng của ông là con khỉ Bubbles (của Jeff Koons), chẳng đưa lại được cái gì để đem con người ra khỏi chính bản thân mình.
Đức giáo hoàng Benedict đã cảnh giác về “vẻ đẹp quyến rũ nhưng giả dối, khơi dậy ham muốn, uy lực, chiếm hữu và thống trị.” Không sử dụng những từ ngữ hào nhoáng, hoặc thông thường đúng theo chính trị, Đức thánh cha đã khiển trách một thứ nghệ thuật “mang hình thức đồi bại, vi phạm đạo đức hoặc khích động những điều vu vơ.”
Nhưng giữa lúc hy vọng bắt đầu bừng sáng qua những biến động của nghệ thuật đương đại, một ít những đám mây đen vẫn còn đè nặng ở chân trời.
Đối với một số người thì việc tuyển chọn các nghệ sĩ tham dự đã đặt nặng quá nhiều vào những vị từ nước Ý. Tuy nước Ý quả thực đã sản sinh ra Michelangelo và Raphael, nhưng cũng nên nhớ rằng họ là những người ngoại quốc cũng đã cần phải có giấy thông hành mới vào được Kinh thành Vĩnh cửu Roma.
Việc thiếu phiên dịch và quá chú trọng đến những gì là Ý đại lợi đã làm cho buổi gặp gỡ có phong vị tỉnh lẻ một cách kỳ lạ. Một trong những nghệ sĩ hiện diện chú ý thấy 6 gian phòng đầu tiên trong khu trưng bầy nghệ thuật hiện đại là dành cho nước Ý, mà đúng ra người Ý không phải là những kẻ tiền phong của nghệ thuật đương đại.
Các nghệ sĩ không có được cơ hội để tương tác. Không có những cuộc hội thảo hay các phiên nhóm mở đường dành cho các kiến trúc sư để giao dịch hay các nhà sản xuất phim ảnh trao đổi ý kiến, nên cuộc trao đổi sinh động đã làm hứng khởi Danta và Giotto trong thời gian họ ở Padua đã có rất ít cơ hội được tái lặp.
Bất mãn đặc biệt là sự vắng mặt to tát của thế giới nói tiếng Anh. Tuy John David Mooney, tác giả những công trình điêu khắc lớn lao bằng ánh sáng, đã làm rực rỡ mọi cảnh quan từ những ngôi nhà chọc trời ở Chicago cho đến Biệt thự Giáo hoàng tại Castel Gandolfo, và thiên tài về video là Bill Viola, cả hai đã được mời, nhưng nhiều người khác đã không được chú ý tới.
Đáng chú ý là sự vắng mặt của những nhà sản xuất và diễn viên phim Passion of the Christ (Cuộc khổ nạn của Chúa Kitô), một trong những công trình nghệ thuật Công giáo thành tựu nhất ở thời đại chúng ta, cũng như ông Duncan Stroik là kiến trúc sư hàng đầu những công trình linh thánh tại Hoa kỳ. Nước Mỹ đã tài trợ nghệ thuật và thành cột trụ cho các nhà bảo trợ nghệ thuật tại Viện bảo tàng Vatican, đã chi trả cho công trình hồi phục và bảo tồn các bộ sưu tập. Mặc dầu với những sáng kiến lớn lao và năng lực về kinh tế mà thế giới nói tiếng Anh truyền vào nghệ thuật, người Mỹ và người Anh rõ rệt là một thiểu số trong buổi gặp gỡ này.
Khía cạnh chói tai nhất trong biến cố này đối với đôi tai của một nhà chép sử nghệ thuật như tôi đây, đó là việc lặp lại câu thần chú cổ xưa nghe đã nhàm chán: “nghệ thuật phải được tự do.” Caravaggio đã không được tự do muốn làm gì tuỳ thích, và khi ông làm thế, tác phẩm của ông đã bị loại bỏ. Bernini, Velasquez hoặc Jan Van Eyck đã không tự do thực hiện bất cứ sở thích thoáng qua nào. Cái ý tưởng cho rằng có thể đưa cuốn Tin Mừng cho một nghệ sĩ và để trí tưởng tượng của ông ta đi phiêu lưu tùy thích thì cũng rất giống trường hợp để cho một nhà thần học giải thích Thánh kinh theo bất cứ đường lối nào ông ta cho là hay nhất.
Nhưng một niềm nao nức đợi chờ đã không hoàn toàn bị lấy mất đi khỏi nghệ thuật. Trong một tinh thần dấn thân sáng suốt, Tòa thánh Vatican đã đề nghị dựng một khu tại cuộc triển lãm tổ chức mỗi hai năm tại Venice (Venice Biennale), một trong những cuộc trưng bầy nghệ thuật đương đại quan trọng nhất trên thế giới. Dự án đã đề nghị gồm có các cảnh tượng lấy từ sách Khởi nguyên, được giao cho các nghệ sĩ khác nhau thực hiện không chỉ dựa theo văn bản Thánh kinh mà còn theo những chủ đề lớn lao nhất mà con người có thể xét tới: công trình sáng thế, sự ác đi vào trần gian, tội ám sát đầu tiên, nguyên uỷ của tình thương v.v…
Uỷ nhiệm đầy thử thách này, mời gọi các nghệ sĩ nhìn ra bên ngoài kinh nghiệm riêng của họ và suy tư trong tầm mức vũ trụ, là một bước đầu và quan trọng hướng đến sự hòa giải giữa nghệ thuật và Giáo hội.
Nguồn: Elizabeth Lev/Zenit.org
Bà Elizabeth Lev dạy môn nghệ thuật và kiến trúc Kitô giáo tại trường Đại học Duquesne (khuôn viên Ý) và chương trình nghiên cứu Công giáo của trường Đại học Thánh Tôma.