Seoul, Nam Hàn (Tin tổng hợp) - Ông Kim Dae-jung (Kim Đại Trung), tên thánh là Thomas More, vị tổng thống Công giáo đầu tiên của Nam Hàn, đã qua đời chiều hôm qua, thứ Ba 18 tháng 8, hưởng thọ 85 tuổi.
Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã lên tiếng khen ngợi ông vì sự nghiệp cổ võ cho nhân quyền và kiến tạo hòa bình.
Vị cựu tổng thống đã được đưa vào bệnh viện tại Seoul (Hán Thành) hôm 13 tháng 7 với bệnh chứng sưng phổi.
Hồng y Nicholas Cheong Jin-suk, tổng giám mục Seoul, đã công bố một điện thư phân ưu sau khi tin về cái chết của ông được loan tải. Theo nguồn tin của thông tấn xã UCA, Hồng y Nicholas Cheong Jin-suk đã khen ngợi ông Kim, người Hàn quốc đầu tiên được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa bình, vì đã tận tình cổ võ cho nhân quyền, đã dân chủ hóa đất nước Nam Hàn, và hoạt động cho hòa bình trên toàn bán đảo Triều tiên.
Hồng y cũng nói rằng ông đã tha thứ cho các đối thủ chính trị trước đây từng bắt bớ, đày đọa và muốn cướp đi sinh mạng của ông.
Ngài cũng khen ngợi đức tin của ông, trưng dẫn chính lời tuyên bố của tổng thống Kim: “Được biết rằng Chúa Giêsu đã bị đóng đinh trên thập giá vì nhân loại, nên tôi đã có thể chịu đựng được mọi gian khổ và thử thách.”
Nhật báo L'Osservatore Romano của Tòa thánh viết: Đức tin Công giáo của Kim Dae-jung là bí quyết nâng cao tinh thần của ông.
Hòa thượng Jikwan, lãnh đạo Thiền tông Jogve, là tông phái Phật giáo lớn nhất tại Hàn quốc, đã khen ngợi tổng thống là một “người đi tiền phong trong công cuộc dân chủ hóa.” Trong điện văn phân ưu, hòa thượng ước mong nhờ cái chết của ông Kim mà đất nước được thống nhất.
Mục sư Kwon Oh-sung, tổng thư ký Hội đồng Quốc gia các Tôn giáo tại Hàn quốc, nói rằng cựu tổng thống Kim đã đặt nhân quyền và hòa bình làm những giá trị căn bản cho xã hội. Mục sư hy vọng người dân Hàn quốc sẽ tiếp tục công trình xây dựng trên những thành quả của ông Kim.
Kim Dae-jung được lãnh nhận phép thanh tẩy năm 1956 khi ông còn là một chính trị gia trẻ tuổi. Ông thường công khai tuyên xưng đức tin của mình..png)
Một trong những dịp đó là vào ngày 4 tháng 7 năm 1999 khi ông thăm viếng Hoa kỳ để nhận lãnh huân chương Tự do Philadelphia:
“Tôi đã trải qua một cuộc hành trình mưu cầu tự do dài lâu suốt cả cuộc đời. Trên đường đi đó, tôi được nhiều sức mạnh nâng đỡ. Sức mạnh đầu tiên là Đức Kitô, Đấng tôi hằng tin tưởng. Người đã xả thân trên thánh giá, Người dậy chúng ta phương cách tìm được tự do trong tinh thần. Thập giá chính là nơi rèn luyện cho tôi đi tới tự do.”
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Thông tấn xã UCA năm 1993 ông nói rằng “tất cả những thử thách khó khăn của tôi trong quá khứ -- như thường xuyên bị bắt giữ, giam cầm, tra tấn và bị ép buộc phải lưu đầy -- đã xảy ra theo tiến trình cứu chuộc của Chúa Kitô, và theo ý nghĩa đó, tôi cũng được tham dự vào công cuộc cứu độ của Thiên Chúa.”
Ông nói chính Chúa Kitô đã cứu ông thoát chết khi ông bị một điệp viên Nam Hàn tại Tokyo bắt cóc năm 1973 và âm mưu dìm ông chết đuối.
Trong thời gian Nam Hàn bị phe độc tài quân phiệt lãnh đạo, ông đã bị lưu đày hai lần. Ông sống sót hai cuộc âm mưu ám sát trong thập niên 1970, và thoát được án tử hình xử năm 1980 của tòa án quân sự.
Do những yêu cầu ân xá đến từ cộng đồng quốc tế và của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, ông được phóng thích năm 1982.
Ông đã phục vụ đất nước trong chức vụ tổng thống thứ 15 của Nam Hàn, nhiệm kỳ từ tháng Hai 1998 đến tháng Hai 2003. Năm 2000, ông được trao tặng giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực hòa giải với Bắc Hàn.
Trong bài diễn từ đọc lúc nhận lãnh giải thưởng cao quý này, ông nói: “Trong cuộc đời của tôi, tôi đã sống với niềm xác tín rằng công lý sẽ thắng thế. Công lý có thể thất bại trong thời gian sống của một ai đó, nhưng chung cuộc trong dòng chảy của lịch sử, nó sẽ thắng.”
Ông mất đi, để lại phu nhân là bà Lee Hee-ho, một tín hữu theo đạo Methodist, và ba người con trai.
Các nhà lãnh đạo tôn giáo đã lên tiếng khen ngợi ông vì sự nghiệp cổ võ cho nhân quyền và kiến tạo hòa bình.
Vị cựu tổng thống đã được đưa vào bệnh viện tại Seoul (Hán Thành) hôm 13 tháng 7 với bệnh chứng sưng phổi.
Hồng y Nicholas Cheong Jin-suk, tổng giám mục Seoul, đã công bố một điện thư phân ưu sau khi tin về cái chết của ông được loan tải. Theo nguồn tin của thông tấn xã UCA, Hồng y Nicholas Cheong Jin-suk đã khen ngợi ông Kim, người Hàn quốc đầu tiên được trao tặng giải thưởng Nobel Hòa bình, vì đã tận tình cổ võ cho nhân quyền, đã dân chủ hóa đất nước Nam Hàn, và hoạt động cho hòa bình trên toàn bán đảo Triều tiên.
Hồng y cũng nói rằng ông đã tha thứ cho các đối thủ chính trị trước đây từng bắt bớ, đày đọa và muốn cướp đi sinh mạng của ông.
Ngài cũng khen ngợi đức tin của ông, trưng dẫn chính lời tuyên bố của tổng thống Kim: “Được biết rằng Chúa Giêsu đã bị đóng đinh trên thập giá vì nhân loại, nên tôi đã có thể chịu đựng được mọi gian khổ và thử thách.”
Nhật báo L'Osservatore Romano của Tòa thánh viết: Đức tin Công giáo của Kim Dae-jung là bí quyết nâng cao tinh thần của ông.
Hòa thượng Jikwan, lãnh đạo Thiền tông Jogve, là tông phái Phật giáo lớn nhất tại Hàn quốc, đã khen ngợi tổng thống là một “người đi tiền phong trong công cuộc dân chủ hóa.” Trong điện văn phân ưu, hòa thượng ước mong nhờ cái chết của ông Kim mà đất nước được thống nhất.
Mục sư Kwon Oh-sung, tổng thư ký Hội đồng Quốc gia các Tôn giáo tại Hàn quốc, nói rằng cựu tổng thống Kim đã đặt nhân quyền và hòa bình làm những giá trị căn bản cho xã hội. Mục sư hy vọng người dân Hàn quốc sẽ tiếp tục công trình xây dựng trên những thành quả của ông Kim.
Kim Dae-jung được lãnh nhận phép thanh tẩy năm 1956 khi ông còn là một chính trị gia trẻ tuổi. Ông thường công khai tuyên xưng đức tin của mình.
.png)
Một trong những dịp đó là vào ngày 4 tháng 7 năm 1999 khi ông thăm viếng Hoa kỳ để nhận lãnh huân chương Tự do Philadelphia:
“Tôi đã trải qua một cuộc hành trình mưu cầu tự do dài lâu suốt cả cuộc đời. Trên đường đi đó, tôi được nhiều sức mạnh nâng đỡ. Sức mạnh đầu tiên là Đức Kitô, Đấng tôi hằng tin tưởng. Người đã xả thân trên thánh giá, Người dậy chúng ta phương cách tìm được tự do trong tinh thần. Thập giá chính là nơi rèn luyện cho tôi đi tới tự do.”
Trong cuộc phỏng vấn dành cho Thông tấn xã UCA năm 1993 ông nói rằng “tất cả những thử thách khó khăn của tôi trong quá khứ -- như thường xuyên bị bắt giữ, giam cầm, tra tấn và bị ép buộc phải lưu đầy -- đã xảy ra theo tiến trình cứu chuộc của Chúa Kitô, và theo ý nghĩa đó, tôi cũng được tham dự vào công cuộc cứu độ của Thiên Chúa.”
Ông nói chính Chúa Kitô đã cứu ông thoát chết khi ông bị một điệp viên Nam Hàn tại Tokyo bắt cóc năm 1973 và âm mưu dìm ông chết đuối.
Trong thời gian Nam Hàn bị phe độc tài quân phiệt lãnh đạo, ông đã bị lưu đày hai lần. Ông sống sót hai cuộc âm mưu ám sát trong thập niên 1970, và thoát được án tử hình xử năm 1980 của tòa án quân sự.
Do những yêu cầu ân xá đến từ cộng đồng quốc tế và của Đức giáo hoàng Gioan Phaolô II, ông được phóng thích năm 1982.
Ông đã phục vụ đất nước trong chức vụ tổng thống thứ 15 của Nam Hàn, nhiệm kỳ từ tháng Hai 1998 đến tháng Hai 2003. Năm 2000, ông được trao tặng giải Nobel Hòa bình vì những nỗ lực hòa giải với Bắc Hàn.
Trong bài diễn từ đọc lúc nhận lãnh giải thưởng cao quý này, ông nói: “Trong cuộc đời của tôi, tôi đã sống với niềm xác tín rằng công lý sẽ thắng thế. Công lý có thể thất bại trong thời gian sống của một ai đó, nhưng chung cuộc trong dòng chảy của lịch sử, nó sẽ thắng.”
Ông mất đi, để lại phu nhân là bà Lee Hee-ho, một tín hữu theo đạo Methodist, và ba người con trai.