Vai trò của Linh mục trong các việc công cộng

(Bài viết của Đức TGM Charles J. Chaput, O.F.M. Cap, TGM Denver, đây là bài thuyết trình tại Providence, Rhode Island, ngày 21 tháng 4, 2008)

Công việc lãnh đạo Công Giáo trong trong phạm vi trần thế là công việc của giáo dân, chứ không phải của các giáo sĩ hay tu sĩ. Vai trò của linh mục thường thì rất phụ thuộc trong các việc công cộng, nếu hiểu là các việc chính trị.

Thật là nguy hiểm cho Hội Thánh khi gắn liền với một đảng chính trị. Tôi không có quyền bảo dân chúng phải bầu cho John McCain hay Hillary Clinton hoặc Barack Obama. Dù trước kia tôi đã hoạt động cho việc tranh cử của Jimmy Carter khi tôi còn trẻ, tôi không nghĩ là có người Công Giáo nào ngày nay cảm thấy dễ chịu với cả hai đảng chính trị - Dân Chủ hoặc Công Hòa.

Nhưng điều đó không gỡ chúng ta khỏi lưỡi câu, có đúng không? Vấn đề là Hội Thánh dạy chân lý về luân lý, và chân lý có trách nhiệm về cách cư xử của con người - kể cả cách cư xử về xã hội, kinh tế, và chính trị. Hội Thánh không bao giờ chính thức là một tổ chức chính trị, nhưng việc Hội Thánh làm chứng cho chân lý luôn luôn đưa đến những hậu quả chính trị. Thí dụ, việc giết các trẻ em chưa sinh ra là một hình thức giết người. Nó là một xâm phạm nặng nề đến phẩm giá con người, bởi vì tất cả các quyền khác đều lệ thuộc vào quyền sống. Nó không phải chỉ là một vấn đế quan trọng duy nhất mà quốc gia chúng ta phải đương đầu với. Nhưng nó là vấn đề căn bản trong lịch sử dân tộc chúng ta lúc này. Chúng ta không thể phớt lờ nó. Hợp tác với việc phá thai hoặc ngấm nhầm thả dung túng nó là một tội ác trầm trọng. Chúng ta có thể từ từ tìm cách giới hạn và loại trừ nạn phá thai, nhưng chúng ta không bao giờ được phép chấp nhận nó như là một điều mà người ta gọi là quyền lợi. Và nếu chân lý này làm cho một vài chính trị gia cảm thấy bất bình, thì đó là vấn đề của họ. Đó không phải lỗi của Hội Thánh.

Người tín hữu giáo dân Công Giáo có nhiệm vụ thay đổi lối suy tư của đảng phái và các nhà lãnh đạo chính trị của họ bằng những khí cụ Đức Tin Công Giáo của mình. Nhưng các linh mục có nhiệm vụ cung cấp những khí cụ ấy cho dân chúng - để đào luyện các tín hữu giáo dân Công Giáo ngõ hầu họ có thể suy nghĩ và hành động như những môn đệ của Đức Kitô, theo một đường lối được hướng dẫn bởi giáo huấn của Hội Thánh. Cũng như các tín hữu giáo dân phải trở nên men của Đức Chúa Giêsu Kitô nơi công cộng thế nào, thì các linh mục cũng phải trở nên men của Người trong đời sống dân chúng như thế.

Là các linh mục, chúng ta biết rằng trong Mùa Phục Sinh, Hội Thánh mời gọi chúng ta suy niệm về Sách Tông Đồ Công Vụ một cách đặc biệt. Nên nhớ rằng tên của cuốn sách là Tông Đồ Công Vụ - không phải là Ý Tốt, hay Các Chương Trình Tuyệt Diệu, hoặc Các Bằng Chứng Khiếm Diện Hợp Lý của Các Tông Đồ, nhưng là Công Vụ (hành động) của các ngài. Các lời nói quan trọng. Các việc làm còn quan trọng hơn nhiều. Đức Kitô đã nói rằng Người yêu chúng ta. Rồi Người đã chết để chứng minh tình yêu ấy. Người nói rằng Người phải sống lại để cho chúng ta sự sống mới. Rồi Người đã thật sự làm điều ấy. Và khi những Tông Đồ đầu tiên nói rằng các ngài tin vào Đức Chúa Giêsu Kitô, các ngài đã hành động như các đã nói, và vì các ngài đã làm thế - cho nên sau đó các ngài đã chứng minh điều ấy bằng cách lật ngược thế giới bằng Tin Mừng.

Chỉ một dúm người đơn giản và bất toàn đã làm một cuộc cách mạng lớn lao nhất trong lịch sử - một cuộc cách mạng thế giới bằng tình yêu của Thiên Chúa. Và Đức Kitô, qua Hội Thánh đã truyền chức cho các bạn và tôi để đi theo bước chân của các ngài cùng làm giống hệt như các ngài. Vì thế mà bài đọc từ Sách Tông Đồ Công Vụ luôn là bài đọc thứ nhất của mỗi ngày trong Mùa Phục Sinh – là mùa của đời sống mới.

Trọng tâm của những bài đọc này thường là các bài giảng của Thánh Phêrô, và Thánh Phêrô luôn giảng về việc Chúa Phục Sinh. Nhưng Phục Sinh không phải chỉ là nội dung của giáo huấn của Thánh Phêro; mà còn là phương tiện hay năng lượng của các giáo huấn của ngài và toàn thể mục vụ của ngài. Clarence Jordan, một mục sư Tin Lành đã nói, “Bằng chứng cao cả nhất rằng Chúa Giêsu vẫn còn sống không phải là ngôi mộ trống mà là nhóm anh em đầy Thánh Thần; không phải là tảng đá được lăn ra, mà là một Hội Thánh bị [Thần Khí] lôi cuốn.”

Dĩ nhiên là chúng ta biết rằng Đức Chúa Giêsu sống lại từ cõi chết về thể lý, và ngôi mộ thực sự trống. Nhưng ông Jordan đã vạch ra một điểm quan trọng. Điều làm cho Đức Tin Kitô giáo có sức thuyết phục ngày nay là “một Hội Thánh bị [Thần Khí] lôi cuốn,” điều này đúng về Hội Thánh, mà cũng đúng về chức linh mục - nếu không có điều đó thì không có Bí Tích Thánh Thể, và nếu không có Bí Tích Thánh Thể thì không có Hội Thánh. Sức khỏe của Hội Thánh trực tiếp tùy thuộc vào tinh thần của các linh mục. Cho nên các linh mục không những cần thành thật, chăm chỉ và trung tín, mà còn cần phải được lôi cuốn bởi tình yêu Thiên Chúa, tình yêu Hội Thánh, và tình yêu đối với Đức Tin Công Giáo.

Một đặc điểm mà nhiều linh mục thời nay đang sống là thái độ đối với Hội Thánh có thể được gọi là “tuyệt vọng về mục vụ.” Theo một nghĩa nào đó, bị cám dỗ thất vọng, hay ít ra nản lòng về Hội Thánh là điều tốt, bởi vì đó là dấu hiệu cho thấy lòng chúng ta bất ổn và đang mong muốn một cái gì tốt đẹp hơn. Nếu chúng ta không thất vọng một cách nào đó về mình và về Hội Thánh, về cách người Công Giáo sống đạo, thì có lẽ đó là dấu hiệu cho thấy chúng ta đang thỏa mãn với hoàn cảnh hiện tại. Và điều này không bao giờ tốt cả.

Tuy nhiên bởi vì trong Mùa Phục Sinh, chúng ta không được phép thất vọng thật sự. Gần đây tôi được dự lễ truyền chức của Đức Cha Gerald Dino của Toà Thượng Phụ Van Nuys theo nghi thức Byzantine. Trong lễ truyền chức Giám Mục của ngài, có nhiều lúc cộng đoàn hát, “Đức Kitô đã sống lại từ cõi chết! Qua cái chết Người đã chà đạp tử thần; và ban sự sống cho những kẻ trong mồ!” Thật là một cách tuyệt diệu để tóm tắt tinh thần Mùa Phục Sinh. Nhưng chúng ta cũng phải đau buồn cho Hội Thánh là dấu chỉ tình yêu của chúng ta. Như Thánh Phaolô đã nói, “chúng ta không đau buồn như những người không có hy vọng.” Chúng ta đã học từ câu truyện Phục Sinh trong Thánh Kinh rằng chúng ta không được tìm Chúa Phục Sinh giữa những kẻ chết nhưng giữa những người đang sống.

Chúng ta hy vọng vì Chính Đức Kitô Phục Sinh đã muốn Hội Thánh là hình thức sự hiện diện hữu hình chính của Người trên thế gian. Chúng ta biết một cách chính xác rằng trong Hội Thánh, Thiên Chúa – cũng như trong Đức Kitô – đang hòa giải thế gian với Chính Ngài. Chúng ta cần nhớ điều này bởi vì đôi khi các linh mục trở thành hoài nghi. Chúng ta quá biết mình. Đôi khi chúng ta không tin rằng Thiên Chúa có thể đổi mới bất cứ điều gì trong chúng ta. Chúng ta thích nghi với tội lỗi, thất bại và sự chết. Nhưng Mùa Phục Sinh nhắc nhở chúng ta rằng chúng ta phải xua đuổi khòi lòng chúng ta bất cứ một thất vọng hay chán nản nào mà chúng ta có bởi vì “Chúa Giêsu đã chà đạp tử thần, và ban sự sống cho những kẻ trong mồ.”

Chúng ta đã nói về việc “tân Phúc Âm hóa” hơn hai chục năm qua trong Hội Thánh, như là một loại lời nói tầm thường có ma lực. Bây giờ chúng ta hiểu nó có nghĩa gí. Và các dữ kiện của Trung Tâm Nghiên Cứu Pew thật là lộn xộn – nhưng cũng rất có giá trị. Chúng cho chúng ta thấy chính xác “Cái Căn Tính Công Giáo của Người Mỹ” đã trở nên hay thay đổi, yếu ớt, và không đáng tin cậy như thế nào. Thế đứng của Hội Thánh Công Giáo trong nước Hoa Kỳ còn bấp bênh hơn chúng ta hoài vọng, và một số lớn những người tự nhận là Công Giáo trên toàn quốc đang lầm lạc cách trầm trọng. Thực ra, chúng ta, tôi có ý nói đặc biệt là những nhà lãnh đạo Công Giáo ở thế hệ của tôi, đã không làm tròn bổn phận của chúng ta trong việc đào luyện và gìn giữ dân của mình. Chúng ta đã quá ngây thơ về sự tương đắc của nền văn hóa Hoa Kỳ về Đức Tin Công Giáo. Nói cách chung, việc thực hành bí tích và tham dự Thánh Lễ bị xuống dốc, các người trẻ không bước lên để nhận vai trò lãnh đạo trong Hội Thánh như cha mẹ và ông bà họ đã làm. Có rất nhiều trường hợp ngoại lệ, nhưng hình ảnh toàn bộ thì không mấy tốt đẹp.

Khuynh hướng bị mềm yếu này có thể được áp dụng đặc biệt cho những nơi như Colorado và các tiểu bang miền tây khác, là nơi mà Hội Thánh còn trẻ và môi trường rất thế tục. Nhưng cũng xảy ra ở đây, tại Rhode Island, và khắp mọi nơi. Ngày nay các quốc hội tiểu bang có vẻ thù nghịch nhiều với Hội Thánh Công Giáo hơn trong tám năm qua, và gương mù lạm dụng tình dục của các giáo sĩ chỉ là một lý do, nhưng thường không phải lý do quan trọng nhất. Ngay cả việc gia tăng sô người Mỹ La Tinh cũng không tự động canh tân hay chống đỡ được Hội Thánh. Các dữ kiện cho thấy mức độ những người Mỹ La Tinh ở Hoa Kỳ bỏ Công Giáo cũng tương đương như các nhóm dân khác. Ảnh hưởng việc thế tục hóa của nền chính trị và văn hóa tiêu thụ của người Mỹ cùng với ảnh hưởng của việc chọn lựa tôn giáo như trong nhà hàng làm yếu đi gốc Công Giáo của người Mỹ La Tinh.

Điều đó có nghĩa là chúng ta phải coi Hội Thánh ở nước Mỹ như một xứ truyền giáo, và mỗi linh mục chúng ta phải là linh mục truyền giáo. Có lẽ chúng ta đã biết điều này từ lâu rồi, nhưng bây giờ nó là một sự khẩn trương tức thì và thực tế. Nhân chủng Công Giáo đang thay đổi. Và môi trường chính trị cũng thay đổi. Thêm vào đó, chúng ta không thể tiếp tục tin tưởng vào tình trạng tài chánh của Hội Thánh trong nước chúng ta nếu số người Công Giáo sống đạo nòng cốt bị giảm thiểu trong thế hệ tới – là điều rất có thể và đang xảy ra.

Đương nhiên là chúng ta cần phải cân bằng những ưu tư ấy với những ưu điểm của chúng ta. So với các Hội Thánh ở những nơi khác trên thế giới, các linh mục, các giáo xứ, các chương trình của các giáo phận, các cộng đoàn canh tân, tài chánh, và các mô thức thực hành tôn giáo còn khá mạnh. Hội Thánh ở đây khỏe mạnh hơn, có nhiều sinh lực hơn và lãnh đạo tốt hơn trên nhiều cấp, hơn hầu hết khắp nơi trên thế giới. Cho nên chúng ta được tự do để làm một việc gì ngõ hầu giải quyết những khó khăn của chúng ta. Nhưng chúng ta cần phải thực tế. Những xung đột mà Hội Thánh Hoa Kỳ phải đương đầu trong thập niên qua, cả bên trong lẫn bên ngoài - từ vấn đề phá thai đến di dân, chiến tranh và hòa bình, gia đình và đời sống gia đình - sẽ còn tiếp tục trong tương lai gần. Các cuộc đấu tranh này đòi hỏi một gương lãnh đạo để nuôi dưỡng dân của chúng ta và lôi kéo những người khác đến cùng Hội Thánh. Và gương ấy phải bắt đầu từ các linh mục.

Chúng ta phải “làm” Hội Thánh một cách khác trong hai mươi lăm năm tới. Chúng ta phải làm sao để xây dựng một căn tính Công Giáo thật sự bao gồm cả La Tinh-Anglô? Chúng ta phải làm thế nào để vun trồng nhiều ơn gọi linh mục? Chúng ta phải xây dựng các thánh đường mới ra sao? Ai sẽ thay thế các cộng đồng tu sĩ đang dãy chết? Đó là những câu hỏi chiến thuật vĩ đại đang đè nặng trên chúng ta ngay bây giờ - hôm nay. Và những người được trang bị tốt nhất để suy nghĩ về những vấn đề này và dẫn đưa người khác đến việc suy nghĩ và hành động cho những điều ấy lại cũng là các linh mục của chúng ta.

Như kết quả của những điều nói trên, tôi thiết nghĩ các linh mục ngày nay cần ba điều. Điều thứ nhất là họ cần được giúp đỡ để hiểu và khai triển tài lãnh đạo cần thiết mà Thiên Chúa đã ban cho họ. Một điều khôi hài trong chức linh mục là Thiên Chúa mời gọi chúng ta để lãnh đạo dân Ngài – và thường thì không có ai trong Hội Thánh thực sự dạy chúng ta làm điều ấy. Đó là lý do tại sao ít là trong kinh nghiệm của chúng tôi ở Colorado, Viện Lãnh Đạo Công Giáo “Good Leaders, Good Shepherd – Các Nhà Lãnh Đạo Tốt, Các Mục Tử Tốt” đóng vai trò thật quan trọng, và đó cũng là lý do mà tôi thôi thúc tất cả các linh mục theo học ở đó tại Tổng Giáo Phận Denver. Những người của chúng ta đã đi qua chương trình này đánh giá nó rất cao. Văn phòng chính của viện này ở Pennsylvania, và với sự chúc lành của Đức Cha Tobin, tôi khuyến khích các bạn ghi danh ở đó hay tìm viện nào tương tự.

Thứ hai, các linh mục cần tình huynh đệ thật sự - một tinh thần bằng hữu và nâng đỡ nhau chính đáng, thân mật và huynh đệ, điều giống như đời sống trong các dòng tu có phẩm chất cao nhất nhưng được thích ứng với đời sống ngoài đời. Trong những năm sắp tới, các linh mục “một mình” - loại người mà tất cả chúng ta đều biết, những người tìm thấy chỗ an toàn trong những phạm vi và thói quen lập dị mà họ xây chung quanh chức linh mục của họ như một đồn lũy - sẽ không thể đứng vững được. Thế gian sẽ trở nên quá nặng nề cho họ. Đương nhiên, tất cả chúng ta đều nói đến việc nâng đỡ nhau. Tất cả chúng ta đều bán nước miếng về tình huynh đệ. Nhưng khi chúng ta ra về hôm nay, chúng ta phải tự hỏi mình, chúng ta thật sự đã làm gì trong tháng qua để chứng minh điều đó cho anh em mình?

Thứ ba, chúng ta cần thanh luyện. Đời linh mục, cũng như đời sống hôn nhân, là một sự lựa chọn dứt khoát - tất cả hoặc không có gì hết. Nhưng tất cả chúng ta đều có khuynh hướng thu thập những đồ phế thải của một cuộc sống thoải mái, thói quen hưởng thú vui làm lụt mục đích mà chúng ta tự mình cam quyết theo đuổi trong ngày chúng ta chịu chức. Nếu chúng ta muốn dân chúng sống Đức Chúa Giêsu Kitô cách mãnh liệt và can đảm, tại sao họ phải làm thế nếu họ không thấy điều ấy và thán phục điều ấy nơi các linh mục của Hội Thánh?

Nhu cầu khẩn thiết nhất của Hội Thánh trong thời đại chúng ta là một cuộc tái sanh Đức Tin và tinh thần truyền giáo trong dân của chúng ta. Nhưng điều ấy sẽ không bao giờ xảy ra, và không thể xảy ra, cho đến khi chính chúng ta có một cuộc canh tân đời sống linh mục. Các linh mục phải là những người mà Đức Kitô mời gọi họ trở nên – các bằng hữu và môn đệ của Người – và cần kêu gọi chúng ta là các giám mục cũng trở nên như thế. Nếu chúng ta có thể cùng nhau hoàn thành việc canh tân đời sống linh mục, với ân sủng của Đức Chúa Giêsu Kitô, rồi Thiên Chúa sẽ làm được bất cứ việc gì qua chúng ta. Thiên Chúa đã một lần làm thế. Đó là lý do tại sao chúng ta ở đây hôm nay.

Tôi xin kết luận bằng vài lời về bốn cột trụ của việc đào luyện linh mục – các diện nhân bản, linh đạo, trí tuệ, và mục vụ. Trong khi tôi cử hành Thánh Lễ tuần lễ sau Phục Sinh, tôi nhận thấy những bình diện này của việc đào luyện chẳng khác gì phẩm chất của Hội Thánh Sơ Khai được diễn tả trong Sách Tông Đồ Công Vụ. TĐCV kể cho chúng ta rằng các môn đệ tiên khởi “đã chuyên cần tuân giữ các giáo huấn của các Tông Ðồ, và tham gia đời sống cộng đồng, tham dự lễ bẻ bánh, và cầu nguyện.”

Chữ chuyên cần tuân giữ có nghĩa là dâng hiến tâm hồn, trí khôn, và toàn thể con người chúng ta. Trong khi chịu chức, chúng ta đã hiến dâng cuộc đời chúng ta cho các giáo huấn của các tông đồ. Đời sống trí thức của Hội Thánh khộng phải dành riêng hay ưu tiên cho các nhà thần học. Đời sống trí thức Công Giáo phải là một tình yêu mà mỗi linh mục chia sẻ.

Đời sống cộng đồng – đây là nơi chúng ta lãnh nhận việc đào luyện liên tục về nhân bản như thế nào - đối với chúng ta là sự liên hệ của chúng ta với các huynh đệ của chúng ta trong đời linh mục. Chúng ta cũng cảm nghiệm được sự liên hệ này với những người trong các giáo xứ, và qua những liên hệ này chúng ta học để trở nên nhân bản hơn.

Chúng ta tìm thấy cách đào luyện mục vụ của chúng ta trong “việc bẻ bánh.” Bí tích Thánh Thể nằm ở tâm điểm của công tác mục vụ của chúng ta, và trong việc cử hành Thánh Lễ, cũng như trong việc suy niệm chung với nhau, mà chúng ta học để trở nên những mục tử tốt hơn khi chúng ta giảng, khi chúng ta cử hành bí tích hòa giải, khi chúng ta sức dầu bệnh nhân, và khi chúng ta chuẩn bị dân của chúng ta để họ lãnh nhận bí tích hôn phối và rửa tội.

Và sau cùng, tôi không thể nhấn mạnh cho đủ: Chúng ta phải chuyên cần cầu nguyện suốt đời. Đời sống linh thiêng của chúng ta là một động cơ điều động toàn thể đời sống chúng ta. Nếu chúng ta không cầu nguyện, thì chúng ta không thể tự nhận rằng mình có liên hệ thật sự với Chúa Giêsu phục sinh từ cõi chết. Cầu nguyện là một dấu chỉ Đức Tin của chúng ta, rằng Chúa Giêsu chưa từ giã chúng ta nhưng vẫn còn ở với chúng ta.

Đức Hồng Y John Henry Newman đã viết về những cách lãnh đạo khác nhau trong Hội Thánh. Ngài đã nói về lãnh đạo trí tuệ, lãnh đạo cầu nguyện, và lãnh đạo chính trị. Tôi mong ước các linh mục của nước Hoa Kỳ có những đặc tính lãnh đạo Công Giáo chân chính ấy. Thật là sống còn cho chúng ta phải trở nên những nhà lãnh đạo về trí tuệ, biết về Đức Tin của chúng ta, hiểu về văn hóa của chúng ta, và nhờ đó, trở thành những hướng dẫn viên cho việc mở mang kiến thức của các Kitô hữu của chúng ta. Các thánh là hiện thân của đời sống cầu nguyện của Hội Thánh, nhưng điều quan trọng cho mỗi người chúng ta là nhớ rằng mỗi cá nhân cũng được mời gọi nên thánh. Sự thánh thiện phải hình thành việc lãnh đạo của chúng ta trong mọi điều chúng ta nói hay làm. Và các linh mục cũng được mời gọi để lãnh đạo chính trị. Chúng ta chịu trách nhiệm về việc cai quản Hội Thánh – trong các giáo xứ của chúng ta, mà cả trong các giáo phận của chúng ta. Chúng ta phải cai quản như một mục tử nhân lành và một người cha nhân hậu, bằng cách thương yêu dân của chúng ta, và cung cấp cho họ một sự lãnh đạo rõ ràng và can đảm khi cần đến, dù ngay cả lúc không được quần chúng ủng hộ.

Tôi xin dùng điểm cuối cùng về lãnh đạo để kết luận bởi vì tuần rồi tôi đã ở Washington và bị đánh động bởi sức mạnh, sự đơn giản, và tốt lành của ĐứC Thánh Cha Bênêđictô XVI như là một mục tử. Nhiều năm qua tôi đã kính phục [Đức Hồng Y] Joseph Ratzinger như là một tư tưởng gia, nhưng tôi đã không mong mỏi được đánh động bởi chuyến tông du của ngài. Ngài có một ơn gọi là xác quyết chính thống. Điều này nghe có vẻ phức tạp - bởi vì chung cuộc ngài là một thần học gia – nhưng thật sự không phải thế.

ĐTC Bênêđictô có tài là rất thẳng thắn về tội lỗi và kêu gọi mọi người trở lại chung thủy. Nhưng đồng thời ngài làm sáng tỏ sự chung thủy ấy với nhiệt tình bằng cách tỏ ra vẻ đẹp của nó và làm cho những người nghe ngài không cưỡng lại được. Lời cảnh cáo của ngài về “việc phản đạo âm thầm” của nhiều giáo dân Công Giáo và ngay cả một số giáo sĩ vẫn còn ở bên tai tôi vì ngài nói điều đó với một tinh thần yêu thương, chứ không khiển trách. Phản đạo (apostasy) là một từ hay. Nó đến từ động từ apostanai của Hy Lạp – có nghĩa là làm loạn hoặc đào ngũ, nghĩa đen là “đứng tránh thật xa.” Đối với ĐTC Bênêđictô, dân của chúng ta hay các giáo sĩ không cần công khai chối đạo để trở thành phản đạo. Họ chỉ cần thinh lặng khi bí tích Thánh Tẩy của họ đòi họ phải nói, hèn nhát khi Chúa Giêsu cần họ và xin họ có can đảm.

ĐTC Bênêđictô đã diễn tả cộng đồng Công Giáo Hoa Kỳ cách hoa mỹ như là to lớn và có ảnh hưởng – nhưng quan trọng hơn hế là có nguồn gốc đa dạng, có sáng kiến, quảng đại, và đầy nhiệt tình tôn giáo. Ngài đã nhắc nhở chúng ta rằng Người Công Giáo Mỹ cần dùng số đông, ảnh hưởng, sáng kiến, đại lượng và nhiệt tình tôn giáo của mình để bước vào nơi công cộng trong một cách sống hy sinh, linh hoạt, trung tín và ban phát sự sống. Ngài mời gọi chúng ta đem niềm hy vọng Kitô giáo vào những cuộc tranh luận công cộng, rõ ràng và đoàn kết trong sự hiện diện của Công Giáo ở trong xã hội, và trở nên men trong đơì sống công cộng của dân tộc chúng ta. Công việc này cần phải bắt đầu ở đây, hôm nay, và ngay bây giờ.