Lí trí và đức tin
Sau đây là bài Thuyết trình mùa chay tại Nhà Thờ Chính Tòa Ðức Bà Paris Chúa Nhật 25 tháng 2 năm 2007 của triết gia Pierre Manent, do Văn Hào chuyển ngữ:
Sự thật là gì ? Ðó là một câu hỏi mà chúng ta hiếm khi đặt ra bằng những từ như vậy, nhưng chúng ta thường nêu ra, khi chúng ta chất vấn liệu chúng ta có thấy rõ cái chúng ta thấy không. Chúng ta có thấy rõ cái chúng ta thấy không ? Ðể kiểm tra cái chúng ta thấy, chúng ta cố thử sờ vào cái chúng ta thấy. Sự thật cần một viên đá thử vàng (pierre de touche). Sự thật chính nó là viên đá ấy. Chúng ta cảm thấy ở trong sự thật khi chúng ta có thể sờ được cái chúng ta thấy. Chúng ta không ở trong sự thật khi chúng ta không sờ mó được cái chúng ta thấy- hoặc đúng hơn nữa là, không sờ được cái chúng ta tưởng là thấy. Ðứa trẻ cố bắt lấy cái bóng của nó; người lớn đã học phân biệt giữa cái nó tưởng thấy được và cái nó có thể nắm bắt được. Lí trí, ta có thể nói, là cái cho phép chúng ta liên kết thị giác và xúc giác. Ðiều này thường rất khó với chúng ta, khác với con mèo khi nhìn thấy con chuột thì không ngần ngại chồm lấy con chuột. Chỉ cần nhìn qua là chồm lấy ngay ! Những cử chỉ của chúng ta còn kém ân cần hơn những cử chỉ của con mèo rất nhiều, chúng ta là một loài lạc lõng và khập khiễng bởi vì chúng ta khó liên kết thị giác và xúc giác. Chúng ta gặp khó khăn, điều đó có nghĩa, chúng ta cần đến lí trí, còn lí trí là một việc làm. Tại sao chúng ta sai lầm, tại sao chúng ta có khả năng lầm lẫn ? Bởi vì chúng ta có một con mắt lớn hơn con mắt của con mèo rất nhiều, lớn hơn con mắt của cả con hổ nữa, bời vì chúng ta có một con mắt rộng lớn, đó là con mắt của lí trí. Chúng ta có thể thấy những gì hiện hữu, và những gì có thể hiện hữu, bởi vì sự thông hiểu của chúng ta thì mở ra với bản thể. Chúng ta thậm chí còn có thể thấy cái không hiện hữu bởi vì chúng ta tưởng tưởng. Sự chênh lệch giữa cái vô tận của cái chúng ta khái niệm, và cái hạn hẹp của cái chúng ta có thể sờ mó và kiểm chứng. Lí trí một cách không mệt mỏi không ngừng chạy từ bên này đến bên kia, từ hữu thể được khái niệm đến hữu thể được kiểm chứng.
Tôi sẽ không tìm cách định nghĩa đức tin là gì, vì không phải là thần học gia và không có quyền làm việc đó. Tôi chỉ nêu ra ở đây rằng khái niệm đức tin theo nghĩa mạnh của từ làm chúng ta quan tâm tìm hiểu tối nay được xuất hiện với ki tô giáo và khái niệm đức tin vẫn là cái riêng của ki tô giáo. Với việc Nhập Thể, sự thật đã tỏ cho thấy và cho sờ được. Nguyên lí của hữu thể được đưa ra là cái nhận thấy của thánh Tô-Ma. Nhưng rồi nguyên lí đó lại rút lui. « Phúc thay những ai đã không thấy mà sẽ tin ». Những người sẽ có đức tin. Ðức tin đạt đến đối tượng của nó mà không thấy nó cũng không sờ đến nó. Thay vì không ngừng đi lại, thay vì làm việc, đức vượt qua nỗ lực của con người, trông chờ tất cả, hy vọng tất cả, đón nhận tất cả từ Thiên Chúa.
Lí trí thì thiết yếu với hữu thể của chúng ta hơn đức tin. Lí trí làm nên con người. Chúng ta chỉ là những con người nhờ khả năng lầm lạc và tìm lại được chính mình. Ai khinh thường lí trí thì khinh thường chính hữu thể mình. Cái cao cả của Âu Châu, cái làm nên Âu Châu duy nhất giữa các nền văn minh lớn, đó là vì nó chưa bao giờ chặn đứng việc làm của lí trí, không bao giờ mệt mỏi, không ngừng biến lí trí thành viên đá thử vàng. Ðức tin của Âu Châu, đức tin ki tô giáo, dân Âu Châu đã không ngừng đưa đức tin xuất hiện trước tòa lí trí, kể cả trong những thời kỳ mà chúng ta gọi là « thơì kỳ của đức tin ».
Ðức tin ki tô giáo chấp nhận xuất hiện trước tòa lí trí. Cái riêng của Thiên Chúa ki tô giáo là để cho con người có quyền làm cố vấn cho chính mình, sắp đặt việc chu toàn chương trình cứu độ nhằm phó mặc cho tự do của con người. Chính vì vậy ki tô giáo không phải là một thứ luật lệ, nhưng là một đức tin. Chính vì thế Kinh Thánh không phải là một giảng dạy được tuyên phán từ trời như Sách Coran. Kinh Thánh là niên đại với nhiều biến cố từ một giao ước thường bị rạn nứt, và luôn được nối kết lại, giữa lòng tốt của Thiên Chúa và tự do của con người. Những chất vấn của lí trí không để cho đức tin không lời đối đáp. Ai không ngừng kiểm chứng thì sẽ không tìm thấy bao giờ sự thật là cùng đích, theo nghĩa kép của từ, của việc tìm kiếm của lí trí. Chính lí trí sẽ không hoạt động vô ích nếu không có một điểm mà nơi đó sự thật của con người qui tụ, một điểm mà đức tin hướng đến, và niềm hy vọng và đức ái dẫn chúng ta đi ? Việc làm của lí trí có cần thiết, và cao qúi thế nào đi nữa, cũng đến lúc cần chấp nhận để sự thật đến với chúng ta.
Trong bốn thế kỷ đầu, chúng ta đã xây dựng một trật tự lí trí, chiếu theo kinh nghiệm và kiểm chứng. Chúng ta đã tổ chức để được tự do, tự do hết mức có thể được. Không truyền thống nào, không đề nghị nào, không kinh nghiệm nào được kế thừa lại không hạn chế khả năng của chúng ta tổ chức lại thế giới theo ý chúng ta, dùng những tên gọi mới cho những đồ cũ, hoặc những tên gọi cũ cho những cái mới, ví dụ chúng ta gọi là hôn nhân, hôn thú tất cả những gì chúng ta thấy hài lòng gọi như vậy. Chúng ta đã xây dựng cái mà Jean- Jacques Rousseau gọi là « những bộ máy khổng lồ của hạnh phúc và khoái lạc » nơi mà chúng ta chắc chắn chỉ bắt gặp ý muốn chúng ta mà thôi.
Trật tự tự do và dân chủ đó thì phong phú về những lợi ích đủ loại, và vì vậy nó đáng được mến mộ và bảo quản. Trật tự đó chỉ có một nhược điểm là có xu hướng lạnh lùng với sự thật. Không phải ngẫu nhiên, hay vì một sự yếu đuối không tách rời được khỏi mọi qui luật con người, nhưng là vì chính qui luật xây dựng của nó. Nó phó cho khoa học nhiệm vụ tìm đến sự thật trong một tương lai bất định, kể cả nhiệm vụ tìm ra nguyên do đích thật của đức tin trong định vị của não-, còn lại nó tự mãn gọi là « giá trị » những thành kiến ít được kiểm chứng nhất. Ai lo lắng về sự thật thì bị cho là đáng lo đối với nó. Ai lo âu về sự thật thì bị cho là không thể khoan nhường đối với nó.
Nhưng nếu loài người không lo lắng về sự thật, nếu loài người không lo âu về sự thật, thì loài người mất đi phẩm giá, thế thì quả thật là một việc lạm dụng ngôn ngữ khi nhận ra những quyền của loài người. Ðâu là những quyền của một loài lầm lạc không lo âu tìm kiếm mục đích (bến độ) đời mình ?
Trật tự chính trị của chúng ta, không phải không thận trọng, phân chia lí trí và đức tin. Với tư cách là trật tự chính trị, có nghĩa là công cộng, hiểu là chỉ dựa vào lí trí. Còn đức tin thuộc về những xác tín sâu xa và đời sống riêng của cá nhân. Việc phân chia này khi xưa thì cần thiết và bổ ích. Ðồng thời, việc đó cũng làm yếu đi lí trí và đức tin. Lí trí, được ngăn cản khỏi mọi chất vấn tận căn, tự mãn thiết lập những công nghệ, kể cả những công nghệ xã hội, càng ngày càng hoàn thiện hơn. Ðức tin ẩn náu, và đôi khi co rúm, trong thâm tâm, và có nguy cơ bị nhầm lẫn với cảm thức tôn giáo- ngày càng mang nặng tính cảm thức, nhưng lại càng mang nhẹ tính tôn giáo.
Ðể là tất cả những gì có thể là, hoặc để tiến gần mục đích đó, lí trí và đức tin cần đến nhau. Không phải đức tin và lí trí cần lẫn lộn với nhau, mà cần đáp trả cho nhau, hay, nói đúng hơn, cần chất vấn lẫn nhau.
Lí trí đòi hỏi người tin những lí do tin, không phải là đức tin có thể mãi mãi đơn thuần là lí trí, nhưng, bởi vì mỗi người phải có khả năng giải thích điều mình nghĩ và việc mình làm, kẻ tin phải thiết lập và trình bày những lí do mình tin, trước tiên vào một Thiên Chúa, tiếp đến vào Thiên Chúa đó đã kết những giao ước với chúng ta theo Kinh Thánh kể lại.
Ðức tin đòi hỏi kẻ không tin hoặc kẻ vô thần làm thế nào để lập mối dây nhân sinh nếu không có sự hiệp thông thiêng liêng, làm thế nào để hiểu được chính mình nếu con người không được định về đâu cả.
Việc đối thoại sẽ không đi đến hồi kết, nhưng không phải không có hiệu quả. Mỗi người sẽ nhận biết mình hơn. Ðôi khi con người sẽ từ bỏ điều mình nghĩ vì lập trường khác bởi vì con người thấy lập trường khác đúng hơn. Thay đổi vì sự thật, thay đổi đi tìm sự thật, đó là mạo hiểm đẹp mà chỉ con người mới có khả năng làm, và trước mạo hiểm đó con người càng ngày càng lùi lại ngày nay.
Việc đối thoại giữa đức tin và li trí không nhất thiết phải là yên bình, thậm chí không phải lúc nào cũng « tôn trọng » theo nghĩa mà chúng ta dùng ngày nay cho tính từ này. Chúng ta đề cao nhiều đến sự tôn trọng, nhưng chúng ta thường nhầm lẫn về cái cần được tôn trọng, về cái đáng được tôn trọng. Sự tôn trọng đề cập đến con người, bởi vì, Kant đã nói, « nhân loại » với tư cách như vậy, việc làm người, là một phẩm giá. Nhưng sự tôn trọng sẽ khác đi khi đề cập đến những hành động, những tư tưởng và những lời nói của con người, chúng vốn chỉ là đối tượng của một sự đánh giá hợp thức, dù đó sự đánh giá khen ngợi hay nhục mạ. Vì vậy những người thuộc chủ nghĩa duy lí phê bình tôn giáo là việc hợp lí, ngay cả phê bình cách khắt khe, dù là tôn giáo nói chung hay một tôn giáo cụ thể nào đó.
Ðối với đa số những người theo chủ nghĩa duy lí nghiêm túc, tôn giáo là sự yếu đuối của trí óc. Tôi không thấy tại sao họ lại không quyền nói như vậy. Tôi cũng không thấy tại sao những người trong số họ có não trạng chế nhạo lại không chế nhạo tôn giáo. Tóm lại, người tin thì thấy, hoặc tin là thấy, thì nghe hoặc tin là nghe, những thứ mà người theo chủ nghĩa duy lí không nghe, không thấy, làm sao anh ta ít ra lại không cười nhạo về người đó ? Thay vì than vãn kêu xin tôn trọng đức tin của họ, những người tin có thể làm cho đức tin của họ đươc tôn trọng hơn khi chỉ cho thấy họ có khả năng bảo vệ đức tin, kể cả khi tranh cãi với đấu trường duy lí, nơi mà người ta thường không sử dụng tốt nhất khả năng lí trí của họ.
Tôi không biện luận để người ta vui vẻ trao đổi những chửi bới hoặc những lời mỉa mai cay độc, đơn thuần chỉ để ta xem trọng vấn đề sự thật. Dostoïevski nói đâu đó rằng nếu phải chọn giữa Ðức Ki Tô và sự thật, ông sẽ chọn Ðức Ki Tô. Lời nói đó luôn luôn xuất hiện nơi tôi như là sự điên rồ tột độ. Chỉ có sự thật mới xứng đáng được chọn.
Những điều trên sẽ không cần được nói ra trong một đất nước như nước Pháp. Hơn bất cứ nước nào ở Âu Châu, hướng đi của lịch sử thiêng liêng, luân lí và chính trị chính là việc đối thoại, đó là chọn lựa ưu tiên giữa lí trí và đức tin- nói đúng ra là giữa Voltaire và Pascal, Voltaire là người không luôn luôn tôn trọng những người tin, và Pascal là người theo đuổi chủ nghĩa duy lí khá mãnh liệt.
Nhưng nếu những người tin Chúa ngày nay đòi hỏi sự tôn trọng, có lẽ không phải hoàn toàn vì nhát gan, mà phải nói đúng hơn là vì họ mang cái nhìn của người theo chủ nghĩa duy lí, và họ thấy đức tin như một sự sống sót không thể coi thường ánh sáng chung của lí trí, và vì vậy cần được bảo vệ như một phần của cuộc sống. Như vậy tôn giáo khép lại trên chính nó trong pháo đài được cho là không thể xâm phạm từ giác cảm về cái mình, thả lỏng không gian chung với sự trần truồng của nó và để nó bị xóa đi hết mọi dấu tích tôn giáo. Trong một xã hội đã thoát khỏi tôn giáo, người tin Chúa không nghĩ là có thể thoát ra khỏi thâm tâm mình.
Thế nhưng, người tin, như người theo chủ nghĩa duy lí hoặc kẻ không tin, cũng luôn luôn ở « ngoài mình », luôn ở trong những mối dây con nhân sinh nhằm nổ lực trở nên mạnh mẽ hơn, công chính hơn, hay hiền hòa hơn. Người tin Chúa và kẻ theo duy lí chủ nghĩa hoặc người vô thần đều phải giải thích những mối dây đó. Chúng ta cố gắng xây dựng một xã hội trong những giới hạn của lí trí. Với lí trí chúng ta đã xây dựng những « bộ máy đồ sộ đem lại hạnh phúc và khoái lạc » bảo vệ những quyền lợi của chúng ta. Và lí trí cho phép mỗi người thấu hiểu, toan tính lợi ích và làm sao để nó phù hợp với lợi ích của những người khác. Nhưng việc phô trương cái mình, việc mở rộng cái mình, việc tham gia của cái mình đó lớn hơn chính mình do mối dây nhân sinh mang lại, từ qui mô nhỏ nhất đến rộng lớn nhất, lí trí có thể lập ra nó, và trước hết lí trí có thể hiểu nó ? Lí trí có thể hiểu được mối dây đó nếu lí trí làm việc hết khả năng trong việc tìm kiếm hữu thể, cái hữu thể mà con người không thể khái niệm là cao cả hơn. Nhưng rồi, đến lúc cho đi hết sức mình, lí trí phải chọn lựa hoặc chấp nhận hoặc bỏ đi nỗ lực của nó, nhưng không thể bỏ đi chuyển động của lí trí, và chấp nhận để cho hữu thể lớn lao nhất đến với lí trí, và con người lí trí phải đồng ý hay không, để cho sự thật đến với mình.
Một trong những người tiên phong của chủ nghĩa duy lí hiện đại, triết gia Bacon, nhận thấy rằng Pilate, khi đã hỏi « sự thật là gì » không trông chờ câu trả lời. Lí trí thì chất vấn, nhưng thường không lắng nghe cấu trả lời, nhưng người tin Chúa thì cho là đã có câu trả lời, nhưng lại thường không nghe câu hỏi. Người theo chủ nghĩa duy lí và người tin Chúa không đi khập khiễng cùng một bàn chân như nhau. Vì thế họ cần nâng đỡ lẫn nhau dù thế nào đi nữa, và loài khập khiễng vốn là chúng ta đây tiến về sự thật. Có lẽ vậy.