Sự thật về hồ sơ các linh mục cộng tác với sở An Ninh Mật Vụ Cộng Sản Ba Lan (2).



Tiếp theo

Cuộc phỏng vấn sử gia Linh Mục Peter Raina.

WARSAW, Ba Lan, 30-07-06 (Zenit.org).- Sử gia Linh Mục Peter Raina cho rằng một số giáo sĩ sống dưới thời cộng sản Ba Lan đã bị gán ghép cho cái tội là làm nhân viên tình báo cho chính phủ cộng sản.

Linh Mục Peter Raina là tác giả một số sách về Lịch Sử Giáo Hội Cận Đại, đã trả lời cuộc phỏng vấn của cơ quan tin tức Zenit. Nội dung cuộc phỏng vấn nhằm trình bày sự thật về mối tương quan giữa giáo sĩ và cộng sản Ba Lan.

Linh Mục Peter Raina đậu Tiến Sĩ tại đại học Warsaw, Ba Lan, đã dây mộn Lịch Sử Cận Đại tại đại học Berlin. Ngài đã viết nhiều bài tham luận và những bài báo về Linh Mục Jerzy Popieluszko, người bị chế độ cộng sản Ba Lan giết, và Linh Mục Konrad Hejmo, người bị các cơ quan truyền thông cáo buộc là nhân viên tình báo của Mật Vụ Ba Lan tại Tòa Thánh Vatican.

Cuộc phỏng vấn do Wlodzimierz Redzioch thực hiện cho hãng thông tấn Công Giáo Zenit, một cơ quan ngôn luận bán chính thức của Tòa Thánh Vatican.

HỎI: Làm sao Sở An Ninh Mật Vụ đã thành công trong việc buộc các linh mục phải hợp tác, và sự hợp tác bao gồm những điều gì?

TRẢ LỜI : Sở An Ninh Mật Vụ đã dùng 2 phương pháp. Phương pháp thứ nhất là chính sách chống lại Giáo Hội, thí dụ việc hủy bỏ các lớp tôn giáo trong nhà trường, cấm tổ chức các nghi lễ tôn giáo, không cho Giáo Hội được dùng các phương tiện truyền thông đại chúng. Phương pháp thứ hai khủng bố tâm lý.

Cách thức khủng bố linh mục thì nhiều, đây chi kể ra một ít: Linh mục càng hăng say họat động thì càng bị cáo buộc là có những hoạt động chống lại nhà nước và có dính líu đến kẻ thù đế quốc. Họ cố gắng ngụy tạo ra các phiên tòa rồi đưa ra bản án tử hình hay tù chung thân. Một số linh mục như Linh Mục Kacxynski đã chết rũ tù. Họ cố gắng dùng các âm mưu làm hại các linh mục để rồi hăm dọa các linh mục ấy. Cách thường dùng nhất là sở An Ninh Mật Vụ thu thập tin tức về thói quen của mỗi linh mục, xem vị nào thích rượu, thích đàn bà, vị nào chán nản công việc của mình.

Thông thường, điệp viên phụ nữ được dùng để chiêu dụ các linh mục, tạo ra các tình huống làm hại các vị ấy. Ví dụ bí mật chụp hình hay tuyên bố là mình có thai. Thế rồi Sở An Ninh Mật Vụ bắt đầu hăm dọa, đề nghị linh mục ấy hợp tác với sở An Ninh Mật Vụ. Sự hợp tác bao gồm việc cung cấp tin tức tình hình của giáo xứ, những hoạt động của các linh mục trong giáo xứ, chỉ đạo công tác lên án Giám Mục v.v..

Tại mỗi tỉnh, Văn Phòng Theo Dõi Tôn Giáo hoạt động dưới sự chỉ đạo của Sở An Ninh Mật Vụ. Mỗi khi vị Giám Mục nào ra một lá thư mục vụ có điểm nào chỉ trích hệ thống cộng sản, thì tỉnh ủy triệu tất cả các Giám Mục lại giải thích, hoặc làm sáng tỏ vấn đề nêu trong lá thư mục vụ.

Trong các trường hợp như thế, viên chức chính quyền luôn dùng phương pháp “Củ Cà Rốt và Que Roi”. Họ chuyển từ đe dọa sang giúp đỡ. Ví dụ vị Giám Mục nào hứa sẽ tự tránh xa vị Giám Mục đưa ra lời chỉ trích thì chính quyền sẽ cho phép xây nhà thờ mới.

Nói chung, các Giám Mục đều không chịu hợp tác nên đã không có nhiều nhà thờ mới. Công an kiểm soát sự chi tiêu và thuế má của các nhà thờ một cách đầy ác ý, các chủng sinh bị đối xử một cách khắt nghiệt trong thời gian thi hành nghĩa vụ quân sự.

Cơ quan kiểm duyệt nhà nước luôn luôn giới hạn số ấn bản tạp chí Công Giáo. Số ấn bản có tăng hay không là tùy báo cáo của Văn Phòng Theo Dõi Tôn Giáo. Văn phòng này hợp tác chặt chẽ với sở An Ninh Mật Vụ.

Với những Linh Mục giám đốc tờ báo hay thư ký tòa soạn, người ta áp dụng phương pháp mà tôi gọi là “ có qua có lại” Chính quyền hứa sẽ cho tăng số ấn bản, hoặc cấp thêm giấy in báo, để đổi lại, người phụ trách tờ báo ấy phải hứa sẽ hợp tác với chính quyền bằng cách cung cấp tất cả những tin tức liên quan đến các thành viên trong Ban Biên Tập tờ báo.

Một số giáo sĩ phụ trách báo chí được bề trên cho phép chấp nhận sự dụ dỗ của chính quyền, cho hợp tác với họ vì theo các bề trên việc gia tăng ấn bản báo chí Công Giáo là ưu tiên hàng đầu.

Một trong những vũ khí thông thường nhất mà Sở An Ninh Mật Vụ áp dụng là cấp giấy xuất cảnh ra ngoại quốc cho những ai hợp tác. Mỗi công dân xin giấy xuất cãnh đều được sở An Ninh Mật Vụ gặp riêng. Những trường hợp này, lại cũng có điều kiện “Có Qua Có Lại”. Người được cấp giấp xuất cảnh phải hứa sẽ cung cấp tin tức về những người Sở An Ninh Mật Vụ muốn biết.

Nguyên tắc này cũng áp dụng cho các linh mục muốn được du học ở ngoại quốc. Nhiều linh mục mơ được được viếng thăm Roma và được học tại các Giáo Hoàng Học Viện, hoặc các linh mục muốn đi truyền giáo, đều phải xin giấy phép xuất cảnh. Để thoả mãn Sỡ An Ninh Mật Vụ, các linh mục thường chỉ kể lại những sự kiện không mấy quan trọng. Tuy nhiên nhân viên an ninh cũng ghi chép tất cả những điều linh mục đó nói ra.

HỎI: Các nhân viên của bộ máy đàn áp ngày xưa bây giờ có bị lên án về tội ác của họ sau khi chế độ cộng sản sụp đổ không?

TRẢ LỜI: Thật đáng tiếc, không. Một số người gây nên tội ác vào thời Stalin trong những năm của thập niên 1950 thì có bị lên án. Nhưng những người gây tội ác vào thời gian sau này, ở thập niên 60 đến 80 thì không. Vấn đề miễn trừng phạt này là do lỗi của chính quyền thời hậu cộng sản.

HỎI: Cái đống hồ sơ vĩ đại của Sở An Ninh Mật Vụ bây giờ thế nào rồi?

TRẢ LỜI: Nhiều chuyện kỳ cục, ngoài quy uớc đã xẩy ra nhiều lần cho cái đống hồ của Sở An Ninh Mật Vụ. Tôi nêu ra một ví dụ vào thời gian mà thủ tướng Tadeussz Mazowiecki cầm đầu chính quyền thời hậu cộng sản.

Thủ Tướng bổ nhiệm người bạn thân của ông là ông Kozlowski làm Bộ Trưởng Nội Vụ. Ông này trước kia là phụ tá chủ biên tờ tuần báo Tygodnik Powszechny phát hành ở Krakow.

Ông Bộ Trưởng Kozlowski đã cấp giấy phép cho 4 người được phép nghiên cứu hồ sơ của Sở An Ninh Mật Vụ trong vòng 6 tuần lễ. Trong số 4 người này, có 2 người trước kia hoạt động cho đảng đối lập, còn hai người kia thì một người là sử gia và một người là nhà báo.

Chỉ nguyên cái việc Bộ Trưởng Kozlowski cho phép các người lạ xem hồ sơ mật của quốc gia đã là hành động bất hợp pháp rồi, phải bị trừng phạt theo luật quốc gia.

Chính thức ra, những người này yêu cầu xem các hồ sơ của bộ Nội Vụ, nhưng chính nhân viên của bộ này lại nói trong chổ riêng tư là đã có người nào đó huỷ họai hồ sơ rồi. Hơn nữa chính cái ông sử gia trong nhóm 4 người này mới đây đã công khai thú nhận là mình có hợp tác với Sở An Ninh Mật Vụ trong những năm của thập niên 70, trong thời gia học ở Liên Bang Đức.

Còn về ông nhà báo, trong văn khố, không ai biết ông đã làm gì. Nhưng có một sự kiện mà người ta mới khám phá ra là các người trong ban biên tập của tờ báoTygodnik Powszechny đều đã cộng tác với Sở An Ninh Mật Vụ. Vào thời gian được tự do ngôn luận như bây giờ thì vấn đề càng gây bất đồng hơn nửa nếu người ta nghĩ đến những chuyện xung quanh của sự việc

Theo quyết định của Quốc Hội Ba Lan, văn khố của Sở An Ninh Mật Vụ phải được đưa sang để ở Viện Ký Ức Quốc Gia. Nhưng chuyện không phải như thế. Một phần văn khố được giữ ở bộ nội vu và điều trái ngược là cựu viên chức của Sở An Ninh Mật Vụ xưa được mướn đề xếp đặt lại hồ sơ. Chúng ta chỉ có thể suy đoán hậu quả của công việc như thế.

HỎI: Động lực nào và nguyên nhân mà truyền thông đã đem hàng giáo sĩ ra để lăng mạ tại Ba Lan.?

TRẢ LỜI : Tôi chắc chắn rằng đàng sau vụ lăng mạ các giáo sĩ là tập đoàn Cộng Sản cùng với tập đoàn giang hồ cấp tiến muốn sĩ nhục giáo hội trước con mắt dân chúng. Không phải tình cờ họ đã lựa chọn những người có đức tính trổi vượt trong xã hội và thời điểm để đem ra lăng mạ cũng không phải là tình cờ. Các tập đoàn nói trên đây sợ ĐGH Gioan Phaolô II, chúng phải chờ đến khi ĐGH qua đời mới tung ra mặt trận chống Giáo Hội Công Giáo.

HỎI : Việc cáo buộc các vị Linh Mục căn cứ trên những phúc trình do các nhân viên của Sở An Ninh Mật Vụ viết. Vậy giá trị trung thực của những tài liệu này như thế nào?

TRẢ LỜI: Những tài liệu của Sở An Ninh Mật Vụ mà tôi có thể tham khảo đều khả tín, nhưng mỗi tài liệy phải được đọc rất cẩn thận và người ta phải biết đánh giá tài liệu đó.

Chúng ta không được quên đặt câu hỏi những phúc trình này được người ta viết như thế nào. Thông thường các chức việc đều thêm thắt vào bản phúc trình số dữ kiện để người khác nhìn vào thấy đây là phúc trình tốt. Người ta có thể thấy nhiều viên chức nói họ đã trả tiền cho các điệp viên, nhưng thực ra số tiền ấy đã rơi vào túi của họ. Cũng nên nhấn mạnh một điều là một người có gặp nhân viên An Ninh Mật Vụ thật, thì chưa chắc người đó đã là cộng tác viên của họ.

Do vậy, trước khi cáo buộc một ai, người đó phải bảo đảm rằng, người bị cáo buộc đã ký vào văn kiện nhận sự hợp tác hay đã ký nhận tiền. Người ta không thể công khai tuyên bố người này, người nọ là điệp viên, đã hợp tác với Sở An Ninh Mật Vụ vì đã có lần gặp nhân viên của sở này. Làm vậy là phỉ báng người đó.

HỎI: Từ khi Đức Hồng Y Stanislaw Dziwisz trở thành Tổng Giám Mục của Krakow thì bắt đầu có chiến dịch cáo buộc các linh mục trong thành phố đó đã là những cộng tác viên của Sở Mật Vụ?

TRẢ LỜI: Những lời cáo buộc đó lại được một linh mục làm lớn chuyện thêm. Cha Isakowski-Zalewski, đã không được phép đức Tổng Giám Mục, cũng không có sự chuẩn bị về khoa học, tự động đứng ra nghiên cứu các hồ sơ của Sở An Ninh Mật Vụ. Sau đó linh mục này mở cuộc họp báo công bố tên các linh mục đã nhận làm điệp viên.

HỎI: Đức Hồng Y Dziwisz chống lại việc làm trên đây của LM. Isakowski-Zalewski. Quyết định đã bị vài cơ quan truyền thông Ý Đại Lợi lên tiếng chỉ trích ĐHY. Vậy theo cha, cha lượng định thế nào về quyết định của ĐHY?

TRẢ LỜI: Quyết định của ĐHY Dziwisz rất hợp lý vì LM Isakowski-Zalewski đã không hành xử đúng cung cách, kể cả việc tuân theo luật pháp. Nếu LM đó có được những hồ sơ của Viện Ký Ức Quốc Gia, thì ngài tự do được in ấn nội dung những hồ sơ đó. Nhưng tại sao vị linh mục đó lại đe dọa công bố tên của các LM khác? Và làm thế nào Viện Ký Ức Quốc Gia đã cho LM ấy những hồ sơ liên hệ đến những người khác

Theo luật, Viện Nghiên Cứu chỉ có thể cung cấp hồ sơ cho những sử gia trong mục tiêu nghiên cứu. Trường hợp cha Zalewski, Ngài không tham gia vào việc nghiên cứu lịch sử, mà đúng hơn là chỉ kiếm cách để làm ầm ĩ tên tuổi của Ngài. Do vậy ĐHY Dziwisz đã có sáng kiến lập hẳn một ủy ban của giáo phận nghiên cứu hiện tượng các LM hợp tác với Sở An Ninh Mật Vụ. Điều này quan trọng và đáng tán thưởng.

HỎI: Đa số dân Ba Lan thất vọng vì dưới chế độ dân chủ, các đảng viên phạm tội ác, các người đứng ra tổ chức và thi hành hệ thống khủng bố trong chế độ cộng sản đã không bị đem ra truy tố. Trong khi đó, các nạn nhân, đúng ra là các LM lại bị cơ quan truyền thông đem ra công luận để lên án, như vậy, một lần nữa, các LM lại trở thành nạn nhân. Và có những điều lạ hơn nữa là các nhà báo, các quan tòa đã trung thành phục vụ cho nhà nước độc tài của công sảnh lại không bị truy tố. Tại sao lại có chuyện này?

TRẢ LỜI: Đúng là thể chế dân chủ đang được áp dụng ở Ba Lan, nhưng Ba Lan chưa đạt được trình độ đất nước thực sự được điều hành bởi luật pháp. Thật đáng buồn Ba Lan đang có những tranh giành chính tri, người ta đặt quyền lợi tư riêng trên ích lợi chung của quốc gia. Chủ nghĩa cơ hội đang thắng thế, truyền thông bị khống chế do chủ thuyết quá khích, không khách quan. Tôi có thể nói đây là chủ thuyết độc tài dưới hình thức mới và trong bầu khí này thì những nạn nhân của chế độ độc tài ngày xưa lại một lần nữa bị đem ra lăng nhục.