Chuyên gia bình luận về Vatican nhận định về đường hướng của Đức Thánh Cha Bênêđictô XVI



LOS ANGELES -- Ông John Allen, Jr, của tờ National Reporter, một nhà báo và bình luận gia chuyên về Vatican được rất nhiều người biết đến, có thể nói ông là tiếng nói có thẩm quyền đối với người Hoa Kỳ về những gì liên hệ tới Vatican, trong tuần qua nhân dịp kỉ niệm một năm ngày ĐTC Bênêđictô được chọn làm Giáo Hoàng ông đã viết bài sau đây từ Vatican. VietCatholic đã nhờ Anthony Lê dịch ra Việt ngữ và chúng tôi hân hạnh giới thiệu sau đây. LM Trần Công Nghị

ĐTC Bênêđictô XVI được bầu chọn làm Giáo Hoàng vào giữa Tháng Tư, và việc kỷ niệm năm đầu trong triều đại giáo hoàng của Ngài trong năm nay lại trùng vào Phục Sinh.

Tuần qua, đã có bảy dịp quan trọng để Ngài trình bày cách giảng dạy của Ngài qua: Lễ Dầu và Lễ Tiệc Ly của Chúa vào Thứ Năm Tuần Thánh, việc Chúa Chịu Khổ Nạn và Ngắm Đàng Thánh Giá vào Ngày Thứ Sáu Tuần Thánh, Lễ Vọng Phục Sinh vào ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Lễ Phục Sinh Vào Ngày Chủ Nhật, và buổi đọc kinh Truyền Tin vào ngày mà người Ý gọi lạ Passquette, tức “Phục Sinh nho nhỏ” vào Ngày Thứ Hai.

Được mọi người liên tục hỏi trong suốt khoảng cùng thời gian quan trọng này để bình luận về việc báo chí thế giới nói gì về vị Giáo Hoàng và những gì mà Ngài đang làm, thỉnh thoảng tôi bị thôi thúc để trả lời rằng: “Dĩ nhiên, Ngài không phải là kiểu lãnh tụ như của Kim Jong-Il của Bắc Hàn… hãy lắng mà nghe!”

Nói một cách vắn tắt, Tuần Thánh nhấn mạnh đến ít nhất là bốn điểm chính về ĐTC Bênêđictô XVI đó là: (1) Sự nhấn mạnh của Ngài về những khía cạnh nền tảng; (2) trọng tâm của tình yêu trong cách suy nghĩ của Ngài; (3) sự khác biệt mà Ngài đã chỉ ra giữa việc phục vụ và quyền uy; và (4) khuynh hướng của Ngài hướng về Châu Phi, tức về thế giới đang phát triển.

Trở Về Những Nền Tảng Căn Bản

Điểm qua những chủ đề mà Đức Bênêđictô trình bày trong suốt Tuần Thánh, thoạt đầu chúng trông có là hoàn toàn có thể đoán được, chẳng hạn như: việc những linh mục phải trở thành những người biết sống bằng đời sống cầu nguyện, việc Chúa Giêsu rửa chân cho các môn đệ như là nghĩa cử của tình yêu, hiện thực của ma quỷ tội lỗi, sự kết liên giữa Phục Sinh và Phép Rửa Tội, vân vân. Thì đó chính là những chủ đề tự nhiên của mùa phụng vụ.

Tuy nhiên, điểm nổi bật chính là Đức Bênêđictô không dùng những chủ đề này như điểm khởi đầu cho những phần suy niệm khác của Ngài, mà là những điểm trọng tâm, cốt lõi cho sự quan tâm của Ngài. Ngài chưa hề bao giờ muốn dùng bối cảnh của Tuần Thánh để đưa ra bất cứ một thông điệp gì của Ngài cả, vì rằng chính bản chất của Tuần Thánh đã là bức thông điệp rồi. Và theo nghĩa đó, Đức Bênêđictô chính là vị Giáo Hoàng “Quay Trở Về Những Nền Tảng Căn Bản.”

Giáo Hội không cần đến nhiều kiểu mô hình hay những sáng kiến mới, và Ngài tin như vậy, cũng như tin vào khả năng giải thích những giảng dạy cơ bản và cốt lõi của Giáo Hội, và để gợi lên một sự hưng phấn về niềm khao khát được sống trong những nền tảng, cốt lõi đó. Thần học của Đức Bênêđictô chưa bao giờ là kiểu thần học phỏng đoán cả, mà đó là kiểu thần học của người chủ chăn và “quỳ xuống” (hay hạ mình xuống).

Sự chú trọng vào những nền tảng được phản ánh qua cách Ngài tiếp cận với triều đại giáo hoàng của Ngài. Thống kê giúp nói lên được điều đó: vào cuối năm đầu trong triều đại giáo hoàng của Ngài, Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị đã thực hiện được 569 cuộc nói chuyện, và tổ chức ra 68 sự kiện công cộng quan trọng. Đức Bênêđictô trong hơn 12 tháng qua đã có 291 cuộc nói chuyện, và chỉ tổ chức có 31 sự kiện chính mà thôi. (Có người, lựa vào lúc thuận tiện mới hỏi rằng: phải chăng Giáo Hội thật sự mất đi 278 bài diễn văn của Đức Thánh Cha?)

Đức Bênêđictô đã cắt tỉa và đưa triều đại giáo hoàng quay trở về điều mà Ngài xem là chức năng cốt lõi của nó khi Ngài lên thừa kế, bằng việc Ngài tâm quyết nhấn mạnh vào trọng tâm của vấn đề. Tuy nhiên, không phải vì thế cho thấy Đức Bênêđictô là không có khả năng để tạo ra sự bất ngờ.

Trong bài giảng của Ngài suốt đêm Vọng Phục Sinh, chẳng hạn, Ngài đã mô tả việc sống lại như là một kiểu tiến hóa “nhảy vọt,” mang âm hưởng văng vẳng đâu đây về cố thần học gia và khoa học gia Dòng Tên người Pháp là Teilhard de Chardin, mà tư tưởng của vị thần học gia và khoa học gia quá cố này đã gián tiếp ảnh hưởng đến văn kiện Vui Mừng và Hy Vọng (Gaudium et Spes) của Công Đồng Chung Vaticăn (1962-65), và cũng là người nhận thấy kiểu tiến hóa về thể lý như là một tiến trình rộng lớn và bao quát hơn của vũ trụ và tâm linh.

Vào thời gian đó, Ngài trong tư cách là Linh Mục Joseph Ratzinger rất chú ý vào điều mà Ngài đã nhìn thấy như là một sức đẩy lạc quan vượt bậc trong Teilhard nói riêng, và trong nền thần học của Pháp Quốc nói chung, thế nhưng Ngài chưa bao giờ bỏ qua khía cạnh cốt lõi thâm sâu này.

Ngài nói: “Nếu chúng ta mượn ngôn ngữ của thuyết tiến hóa, thì việc Sống Lại chính là một sự hoán chuyển vĩ đại nhất, là bước nhảy tuyệt đối quan trọng nhất vào một chiều kích hoàn toàn mới mẽ chưa từng có bao giờ trong suốt chiều dài lịch sử của sự sống và sự phát triển của nó… Đó là một bước nhảy có chất lượng… để hướng về một cuộc sống mới ở tương lai, để hướng về một thế giới mới, được khởi điểm từ Chúa Kitô, đã và vẫn còn tiếp tục lan tỏa ra trong thế giới của chúng ta ngày nay, hoán chuyển nó và kéo nó trở về chính nó.”

Một thần học gia lỗi lạc ở Rôma đã nói với tôi rằng tuần này vị này luôn phải hồi hộp, nín thở khi Đức Bênêđictô nói, vì lẽ vị này có thể lắng nghe một điều gì đó mà vị này cảm thấy mình chẳng hề hay biết gì cả, tức việc Đức Bênêđictô khai mở ra một viễn cảnh mới, hay một cách tiếp cận mới nào đó về một chủ đề mà vị thần học gia này nghĩ rằng mình đã hiểu hết rồi.

Đây không phải là triều đại giáo hoàng với sự phát minh vĩ đại, cũng chẳng phải là một sự trì trệ, mụ mẫm hay một “sự lặp lại vinh hiển.”

Mà thay vào đó, chính là một sự hình thành giống kiểu một sự nghiên cứu dựa trên đối tượng và hoàn cảnh cụ thể (case-study) qua việc “quay trở về những nguồn cốt lõi,” hay kho tàng cốt lõi vốn luôn là khuynh hướng thần học và tính cách chủ chăn của ĐTC Bênêđictô XVI.

Trọng Tâm Của Tình Yêu

Theo sau việc Đức Bênêđictô được bầu chọn, rất nhiều nhà bình luận, bao gồm luôn cả tôi, mong đợi rằng: “sự thật” sẽ là khẩu hiệu của vị tân Giáo Hoàng trong việc đối chọi với “Thuyết Tương Đối Độc Đoán” (Dictatorship of Relativism).

Thế nhưng, sự ngạc nhiên chính là, nếu một ai đó phải chọn ra một từ và chỉ một từ ngữ thôi để tóm tắt về giáo quyền của Đức Bênêđictô mãi cho đến nay, thì từ ngữ đó phải là “tình yêu.”

Joseph Ratzinger xưa kia là người canh giữ cho đức tin, thì nay đã được biến hóa thành một vị Tông Đồ của Tình Yêu trung kiên nhất của thế giới.

Trong sáu bài giảng và những thông điệp của Ngài trong suốt Tuần Thánh, tổng cộng (bằng tiếng Ý) có khoảng 6,958 từ, Đức Bênêđictô đã sử dụng chữ “tình yêu” theo thể danh từ đến 29 lần, cộng với chữ “tình yêu” theo thể động từ đến 10 lần.

Nghĩa là, cứ mổi 178 từ, thì có 1 từ có liên hệ đến “tình yêu,” có nghĩa là thật hiếm để cho một đoạn văn trôi qua mà Ngài không liên hệ trở về với chủ đề chính.

Trong khi đó, thì chữ “tội” chỉ xuất hiện có ba lần, và chữ “ma quỷ” chỉ xuất hiện có bốn lần mà thôi.

Bằng việc nhấn mạnh ra những con số như thế có thể dẫn đến một kiểu Kabbalah (có nghĩa là giáo huấn mầu nhiệm được lập đi lập lại), nhưng đó lại là một dấu chỉ mạnh mẽ về những quan tâm của Đức Giáo Hoàng, vì chưng chúng là lối trình bày của Ngài. Vào Thánh Lễ Tiệc Ly vào ngày Thứ Năm Tuần Thánh, chẳng hạn, Đức Bênêđictô đã định nghĩa tội như là: “một sự chối từ của tình yêu, không muốn được yêu thương, và không yêu thương.”

Ngài nói: “Sự thánh thiện của Thiên Chúa không chỉ là một uy quyền chói sáng, mà chúng ta phải thâu mình lại vì sợ hãi. Mà đó chính là sức mạnh của tình yêu, và do đó, là một sức mạnh tinh khiết và chữa lành.”

Vào Lễ Vọng Phục Sinh trong ngày Thứ Bảy Tuần Thánh, Đức Bênêđictô đã mô tả việc sống lại như là “một sự bùng nổ của tình yêu, vốn bẻ gãy sự liên kết tưởng như không thể nào phân rẽ được giữa ‘sự chết và sống lại.’”

Có lẽ, điều đáng nói nhất. chính là việc Đức Bênêđictô kết thúc thông điệp của Ngài qua việc ban phép lành “Urbi et Orbi” vào ngày Chủ Nhật Phục Sinh theo ngôn ngữ của tiếng La Tinh là Christus resurrexit, quia Deus caritas est (tức Chúa Kitô sống lại, bởi vì Thiên Chúa chính là tình yêu!).

Cùng với những điều khác, thì dòng chữ này chính là một sự âm vang về bức Thông Điệp đầu tiên của Ngài, cũng về chung một chủ đề, đó là tình yêu.

Phục Vụ và Quyền Bính

Trong suốt Tuần Thánh, Đức Bênêđictô quay trở về một chủ đề yêu thích khác, vốn là một sự tách biệt rõ ràng giữa việc phục vụ và uy quyền.

Chức linh mục, hay nói đúng hơn bất kỳ chức vụ tư tế nào nhân danh Chúa Kitô, đều phải quy hướng về việc phục vụ, Ngài liên lũy nhấn mạnh về điểm này như thế.

Hơn nữa, thông điệp Kitô Giáo, đặc biệt nhấn mạnh về quyền tối cao và lề luật tối thượng của Thiên Chúa, nhằm giới hạn cho tất cả mọi dạng hay mọi kiểu quyền hạn của trần tục.

Nói với các linh mục trong Thánh Lễ Dầu, Đức Bênêđictô đã nhấn mạnh đến chủ đề này.

Ngài nói: “Chúa Kitô muốn chúng ta phải là những khí cụ của việc phục vụ. Nếu bàn tay con người tượng trưng cho những khả năng của con người, hay nói tổng quát chính là khả năng kỷ thuật để định đoạt ra thế giới, thì những bàn tay được xức dầu phải là một dấu chỉ về khả năng của bản thân con người để biết cho đi, để biết sáng tạo trong việc hình thành nên thế giới bằng chính tình yêu.”

Trong bài giảng của Thánh Lễ Vọng Phục Sinh, Đức Bênêđictô nói: sự sống mới được ban trao bởi Chúa Kitô chính là “một công thức của sự đối lập, tương phản lại với tất cả những ý thức hệ của sự bạo động, và một nghị trình chống lại sự tham nhũng và những tham vọng về quyền hành và sự chiếm hữu.”

Như là một hàm ý, Đức Bênêđictô nhấn mạnh rằng: những người Kitô Giáo không thể thờ ờ với bất công.

Ngài nói: “Qua việc Ngắm Đàng Thánh Giá, không có một tình huống nào là trung lập cả. Quan Philatô, kẻ thông minh hoài nghi, muốn trở thành trung lập, muốn phủi tay, và không muốn dính dáng gì cả, thế nhưng trong việc làm như vậy, Ông đã nghiêng về vị thế chống lại công lý, chỉ vì chủ nghĩa tuân thuẩn và sự nghiệp của Ông.”

Hướng về Phi Châu

Xét về mặt đặc thù mà nói, Đức Giáo Hoàng đưa ra một sự thống kê chớp nhoáng về những sự kiện đương thời qua việc ban phép lành “Urbi et Orbi” của Ngài vào ngày Lễ Phục Sinh, nhanh chóng điểm qua một số nơi nóng bỏng trên thế giới như: Darfur, vùng Biển Hồ ở Châu Phi, và Châu Phi nói chung; rồi đến Irắc; Đất Thánh; Mỹ Châu La Tinh; và tình trạng khủng hoảng về hạt nhân đương thời tại Irăn, mặc dầu không đề cập đến tên của quốc gia đó.

Ai nấy cũng đều có thể khám phá ra được rằng Đức Bênêđictô đã bắt đầu từ Châu Phi, và tại đó Ngài đề cập đến những mối quan tâm cụ thể và chi tiết hơn ở Phi Châu so với những phần khác của thế giới.

Thành thật mà nói, trong suốt Tuần Thánh, Đức Bênêđictô đã thường hay đề cập đến Phi Châu như là Ngài đề cập tới chữ tội lỗi. Điều đó cho thấy có một sự theo dõi liên lũy của Ngài về châu lục này.

Vào tháng Sáu vừa qua, Đức Bênêđictô đã công bố ra những kế hoạch cho Kỳ Họp Thượng Hồi Đồng Giám Mục của Phi Châu.

Trong thông điệp gởi cho hàng giáo sĩ tại Rôma và ngày 13 tháng 5, Ngài thúc giục các vị linh mục và các vị phó tế từ Phi Châu đừng để cho lục địa của họ bị lây nhiễm tội lổi được xuất cảng từ Châu Âu.

Vào ngày 25 tháng 5, trong buổi tiếp kiến chung hằng tuần của Ngài, Ngài lại thúc giục những nhà lãnh đạo quốc tế hãy lưu tâm đến những khó khăn vật chất mà những người dân tại Phi Châu đang gặp phải, và đó cũng là bức thông điệp mà Ngài lập đi lập lại vào những dịp khác nhau.

Trong suốt những cuộc họp của Tổng Công Nghị trước khi diễn ra cơ mật viện, rất nhiều vị Hồng Y đến từ Phi Châu, liên lũy đưa ra lời cầu xin cho vị giáo hoàng kế tiếp, bất kể vị đó là ai đi chăng nữa, là hãy đặt sự đau khổ, thống chịu của lục địa các Ngài lên trên chương trình mục vụ hàng đầu.

Một vị Hồng Y người Phi Châu đã trực tiếp nói với tôi sau khi Đức Bênêđictô được bầu làm Giáo Hoàng rằng: “Đức Thánh Cha đã lắng nghe hết được những điều đó. Ngài biết đến những mối quan tâm của chúng tôi.”