Vatican: 40 năm đã trôi qua để sắp sửa kỷ niệm 40 năm kết thúc Công Đồng Vaticanô 2 vào ngày 8/12, sự biến đổi sâu xa đã và đang tiếp tục gây tiếng vang trong khắp mọi tầng lớp trong giáo hội, từ thành Vatican cho đến những thánh đường trong giáo xứ xa xôi hẻo lánh nhất trên khắp thế giới.
Bốn hội nghị của Công Đồng đã diễn ra từ năm 1962 cho đến năm 1965 và đã công bố 16 văn kiện đánh dấu bước ngoặc mới hiện đại hóa lễ nghi phụng vụ, tái canh tân đời sống thiên chức linh mục và các dòng tu, đề cao vai trò của giáo dân Công Giáo, mở đường đối thoại với các giáo hội Kitô ngoài Công Giáo và các giáo hội ngoài Kitô giáo, và nhận diện giáo hội là "Dân Thiên Chúa" được hòa hợp trong những khó khăn và niềm hy vọng của thế giới.
Mặc dầu Công Đồng đã không đưa ra một tín lý gì mới mẻ, nhưng người Công Giáo sống qua thời đại Công Đông Vaticanô 2 không thể nào quên được những sự thay đổi, một số những thay đổi thật bất ngờ khi suy tư nhìn lại đến những cộng đoàn Công Giáo vào giữa thập niên 60.
Bàn thờ được quay lại để linh mục chủ tế hướng nhìn về giáo dân. Thánh lễ bằng tiếng La Tinh đã nhường chỗ cho Thánh Lễ được cử hành bằng ngôn ngữ bản xứ. Các bí tích được cập nhật và đơn giản hóa. Tu sĩ nam nữ thay đổi cách ăn mặc cho hợp thời đại, nhất là các nữ tu không còn phải khoác những áo dòng dài luộm thuộm nhiều lớp, hay đội trên đầu những lúp nặng nề chiều ngang cả gần nửa thước.
Tuy nhiên tất cả những thay đổi đã không diễn ra một sớm một chiều. Các vị lãnh đạo giáo hội đã bắt đầu một tiến trình lâu dài và đôi khi tranh cãi để duyệt lại tất cả mọi lãnh vực trong đời sống mục vụ, từ việc giáo huấn cho đến thừa tác mục vụ của giáo dân.
Theo Linh Mục Dario Vitali, giáo sư giáo sử tại Đại Học Gregorian tại Roma đã nói: "Công Đồng đã đưa ra một cuộc cách mạng Côpêcnich * cho Giáo Hội, mà tự nó đã đưa ra một thử thách làm thế nào mà giáo hội có thể tái mở ra con đường đối thoại với thế giới ngày nay. Qua Công Đồng Giáo Hội được gần gũi hơn với con người đương thời và đã làm cho Tin Mừng mang lạy ý nghĩa đối với họ. Nếu không có Công Đồng Vaticanô II, tôi nghĩ rằng giáo hội ngày nay chỉ là một cộng đoàn thiểu số nhỏ, bị khép kín trong những lễ nghi không được hiểu đến cho não trạng ngày nay".
[* Nicolaus Copernicus (1473-1543) là một nhà thiên văn người Balan tin tưởng rằng mặt trời là trung tâm chứ không phải là trái đất trong thái dương hệ, nghĩa là trái đất xoay quanh mặt trời, điều này vào thời điểm đó đã đi nghịch lại với giáo huấn của giáo hội. Trong suốt dòng thời gian 30 năm trong cuộc đời ông đã nghiên cứu và khám phá ra vấn đề này. Trong tác phẩm nổi tiếng của ông "De revolutionibus Orbium Coelestium" mà tác phẩm này đã cho ra phát hành sau khi ông qua đời. Sinh trưởng tại Torun Ba Lan và đi theo học tại Krakow Balan và tại Italia, sau đó làm giáo sư thiên văn học tại Roma. Khi trở về Poremarian tại Ba Lan làm việc cho một người chú là giám mục tại Ermland, được tôn làm kinh sĩ mặc dầu không khấn hứa lời khấn dòng. Ở tại đây cho tới khi qua đời vào năm 1543]
Thế nhưng không phải mọi người trong Giáo Hội nhìn thấy được Công Đồng là một sự việc tích cực. Một số người Công Giáo với đầu óc cố hữu, vẫn còn lưu luyến quá khứ nhớ lại cách phụng tự theo đường lối cũ và lúc đó một số giáo sĩ trong giáo hội kể cả nhiều vị tại Roma đã phê bình đường lối đến sự hiểu biết và áp dụng của Công Đồng Vaticanô. Trong nhiều trường hợp, đã có những cuộc tranh luận sôi nổi và gay gắt trong hội nghị của Công Đồng.
Ngày 8/12 tới đây, đánh dấu 40 năm kết thúc Công Đồng Vaticanô 2 vào năm 1965, và trong mùa Thu tại Roma, Tòa Thánh Vatican sẽ tổ chức nhiều buổi lễ và gặp gỡ để suy tư đến Giáo Hội đã hành trình như thế nào trong 4 thập niên qua.
Trong dịp này Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, người đã từng tham dự trong Công Đồng với tư cách là một chuyên gia thần học, cũng sẽ nói lên tầm quan trọng của các văn kiện của Công Đồng. Mặc dầu Đức Giáo Hoàng cũng đã phẩm bình đến một số thay đổi hậu Công Đồng, thế nhưng Đức Thánh Cha đã tuyên bố rõ ràng rằng Công Đồng Vaticanô 2 sẽ là "la bàn" trong triều giáo hoàng của Ngài. Dĩ nhiên la bàn nó định hướng đi và đó sẽ tùy thuộc nơi vị Tân Giáo Hoàng Biển Đức để đưa ra những chi tiết cụ thể.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức cũng đã nhấn mạnh đến sự thực hiện áp dụng của Công Đồng là một trọng trách đang tiến hành trong giáo hội, chứ không phải để cho thế hệ trẻ nhìn lại Công Đồng như một biến cố lịch sử đã qua đi.
Ông Alberto Melloni, một giáo sử trong thời kỳ Công Đồng Vaticanô 2 đã nói "Giới trẻ Công Giáo có thể đã không cảnh thức một cách trí thức đến Công Đồng, nhưng họ đang tiếp tục cảm nghiệm thấy những ảnh hưởng của nó. Xin cám ơn đến Công Đồng, giới trẻ đã được giảng dạy để nhìn thấy thế giới không còn là một mối đe dọa đến đời sống Kitô Giáo, nhưng là một cơ hội để công bố Tin Mừng".
Công Đồng Vaticanô 2 đôi khi được diễn tả là một cuộc cách mạng, nhưng nó không xuất hiện một cách bất ngờ. Trước Công Đồng Vaticanô 2 thì đã có 20 hội nghị Công Đồng trong lịch sử giáo hội, kể cả đến Công Đồng chung Vaticanô 1 trong thời gian từ năm 1869-1870. Công đồng Vaticanô 1 đã công bố tín lý quyền bất khả ngộ và thẩm quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng, thế nhưng Công Đồng Vaticanô 1 đã khai mạc nhưng không có ngày bế mạc vì chiến tranh đã bùng nổ tại Âu Châu.
Chất men thần học giữa thế kỷ 20 đã giúp giáo dân cơ sở nền tảng cho Vaticanô II. Những vị thần học gia tiên phong phải kể đến là Linh Mục Dòng Đa Minh Yves Congar, Linh Mục Dòng Tên John Courtney Murray và Henri de Lubac là những người đã cô gắng để xây dựng nhịp cầu giữa những chân lý cổ xưa của Kitô học và thế giới đương thời. Thế nhưng tất cả ba vị đó một cách nào đó đã bị Tòa Thánh Vatican bắt phải im lặng trong thập niên 1950, tuy nhiên tiếng nói của các ngài lại trổi lên và trở thành những tiếng nói quan trọng cho Công Đồng.
Đức Cố Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII hầu như đã làm kinh ngạc mọi người khi chỉ vừa lên ngôi Giáo Hoàng được 3 tháng, Ngài đã công bố sẽ triệu tập Công Đồng. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói đến nhu cầu cần thiết cập nhật hóa giáo hội và cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo; nhưng hơn hết tất cả Đức Thánh Cha đã nói ngài muốn tỏ cho thế giới ngày nay thấy đến giáo hội được biến đổi và tái tăng cường một cách trí thức.
Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan nói rằng thế giới bị đánh dấu bởi sự nghèo nàn tinh thần và cần phải được tái tiếp sinh khí. Nhưng khi sau này Đức Giáo Hoàng ngỏ lời với Công Đồng, ngài nói giáo hội cần cống hiến cho thế giới ngày này "phương thuốc của lòng nhân từ" chứ không phải những lời chê trách nghiêm khắc.
Công việc sửa soạn cho Công Đồng đã mất gần tới 3 năm, và rồi khi Công Đồng được bắt đầu thì Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII bị phát giác ngài mang chứng bệnh ung thư, và ngài chỉ chủ tọa tham dự trong hội nghị đầu tiên của Công Đồng vào mùa Thu năm 1962. Sự kêu mời tham dự của Tin Lành, Chính Thống Giáo và những người ngoài Công Giáo đã làm cho Công Đồng Vaticanô 2 trở nên một biến cố lịch sử.
Đức Giáo Hoàng kế nhiệm Phaolô VI là người đã tiếp tục hướng dẫn để hoàn tất Công Đồng chung Vaticanô 2. Ngài đã chủ sự 3 hội nghị còn lại của Công Đồng và ra chỉ thị quan trọng trong các lãnh vự phụng vụ, đại kết, đời sống tôn giáo và truyền bá Tin Mừng.
Có khoảng 2000 đến 2500 giám mục khắp nơi trên thế giới đã về tham dự các buổi hội nghị của Công Đồng Vaticanô 2, và các tham dự viên đã tranh luận đến nội dung có tính cách tổng quát cho đến từng các chi tiết, mà việc cãi lý gay go không phải là chuyện bất bình thường. Để đưa một ví dụ, khi bản thảo đầu tiên Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội "Lumen Gentium" được trình bày, thì đã có một sự phê bình kịch liệt cho đó là có tính cách háo thắng, giáo sĩ và quan liêu; nhưng rồi thì văn kiện đã được thừa nhận sau hai năm và có biết bao nhiêu phần phải bổ sung.
Ngay từ buổi đầu, các giám mục đã nhận thức đến trọng trách của các ngài không chỉ là cập nhật những thực hành của giáo hội, nhưng còn là một tiến trình cho "phương kế" hay nói một cách khác hơn là trở về nguồn của đức tin.
Đối với một số tham dự viên công đồng, Đức Giám Mục Frnak Fernando tại Chilaw- Sri Lanka là một trong số rất ít người đếm được trên đầu ngón tay còn đang thực hành mục vụ, đã cho biết rằng Công Đồng chung Vaticanô 2 thực sự đã làm nên lịch sử.
"Cuộc tranh luận rất là hệ thống hóa với rất nhiều ý kiến trao đổi. Những văn kiện phải được duyệt lại lần nữa rồi lại được đưa ra lần nữa với những bổ sung sau khi các nghị phụ đã nghiên cứu. Đó là lý do tại sao các văn kiện này là những văn kiện rất trau chuốt, nó không phải là hôm nay mang văn kiện này ra để thông qua rồi lại tiến qua cái khác".
Cuối cùng, Công Đồng đã công bố 4 hiến chương: về phụng vụ, về cơ cấu và bản chất của giáo hội, về Giáo Hội trong thế giới ngày nay và về mặc khải của Thiên Chúa. Công đồng đã đưa ra 9 sắc lệnh: về phương tiện truyền thông xã hội, Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, hiệp nhất, nhiệm vụ mục vụ của các Giám Mục, canh tân thích nghi đời sống dòng tu, đào tạo linh mục, tông đồ giáo dân, hoạt động truyền giáo, chức vụ và đời sống linh mục. 3 bản Tuyên Ngôn: liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, giáo dục Kitô giáo và tự do tôn giáo.
Phần lớn các chuyên gia liệt kê những thành quả lớn nhất của Công Đồng Vaticanô 2 đó là mở ra một con đường mới để hiểu giáo hội, là "Dân Thiên Chúa" và không chỉ đơn thuần là một cơ cấu phẩm trật, nhưng là một "bí tích" cho thế giới với một sứ vụ truyền giáo sống động cho tất cả mọi lãnh vực trong xã hội nhân loại.
"Lumen Gentium" đã trình bày giáo hội là một mầu nhiệm và là một sự hiệp thông của người tín hữu chịu phép rửa tội tiến về quê trời, là một thân thể thánh thiện nhưng không vẹn toàn trong khi còn tại thế.
Mặc dầu là một tổ chức có phẩm trật, thế nhưng giáo hội là một sự hiệp thông là một thân thể sống động mà các chi thể được kêu gọi sống nên thánh và có những vai trò, quyền lợi và trách nhiệm riêng biệt.
Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay "Gaudium et Spes" được chiếu cố nhiều hơn cho người bình thường và được chuẩn y vào năm 1965, trong lần bầu cuối cùng của Công Đồng.
Đức Giám Mục Fernando đã nhớ lại rất rõ vào lúc này và Đức Cha nói rằng ngài coi hiến chế "Gaudium et Spes" là một sự việc quan trọng nhất phát xuất từ Công Đồng. Đức Cha nói thêm nhiều vị giám mục đã rằng các văn kiện trước của Công Đồng nhắm chủ yếu tới các chuyên gia và các nhà chuyên môn và văn kiện này muốn truyền đạt một sứ điệp cho toàn thế giới.
Hiến Chế "Gaudium et Spes" đã kêu gọi giáo hội can dự trong sự đối thoại với xã hội đương thời và những khó khăn của nó, mang đến giáo huấn và giá trị luân lý quy vào cho thế giới thường quá bị xâu xé bởi oán thù, chiến tranh và bất công. Văn kiện đã thừa nhận rằng khoa học và văn hóa có những điều để dạy cho giáo hội, nhưng văn kiện cũng nói rằng giáo hội có một sứ vụ thánh hóa đến thế giới xung quanh.
Trong những năm sau khi bế mạc Công Đồng, đề cương được đổi mới do Công Đồng đã được chọn lọc và soạn thành luật trong một số sắc lệnh, quy tắc và những thay đổi trong giáo luật. Giáo Hội đã chứng kiến vô số kể đến những thay đổi này:
- Bản Tân Lễ Qui Roma được ban hành vào năm 1970, với chu kỳ bài đọc phụng vụ mới nhằm cống hiến một sự chọn lựa phong phú từ Kinh Thánh. Lịch phụng vụ được đơn giản hoá. Nghi lễ cho các bí tích được duyệt lại, nhấn mạnh đến khía cạnh hiệp thông chung của cộng đoàn. Nghi lễ khai tâm Kitô Giáo cho người lớn được duyệt lại và sửa đổi. Khi mà những sự thay đổi xảy ra, sự tham dự trong phụng vụ một cách tích cực đã gia tăng vượt bực tại nhiều cộng đoàn trong giáo hội địa phương.
- Số thừa tác viên giáo dân gia tăng gấp bội. Các thừa tác viên giáo dân đọc sách và trao Mình Chúa đã xuất hiện trong các Thánh Lễ. Giáo dân đóng vai trò trong các hội đồng giáo xứ và hội đồng của giáo phận, và giáo dân nam nữ mà nhiều người trong số họ có bằng cấp về thần học, đã thay thế giáo sĩ trong một số chức vụ điều hành trong giáo hội.
- Trong các giáo hội tại khắp nơi, đã có một sự canh tân chú ý đến Kinh Thánh trong phụng vụ và trong sự đạo đức cá nhân.
- Giáo Hội Đông Phương được khuyến khích để trở về truyền thống của riên ghọ, chấm dứt một thời kỳ La Tinh hóa và mở ra một sự cảm kích mới khác nhau trong giáo hội hoàn vũ.
- Đại kết đâm chồi nẩy lộc, trong sự đối thoại chính thức giữa các viên chức Công Giáo và các Giáo Hội Kitô khác, và trong sự cầu nguyện và gặp gỡ huynh đệ tại cấp giáo hội địa phương.
- Sau khi Công Đồng đã thừa nhận đến sự cứu chuộc khả thi đối với người ngoài Kitô Giáo, cuộc đối thoại cũng đã bắt đầu với các tôn giáo khác.
- Đời sống tu sĩ đã thay đổi một cách đáng kể, đời sống dòng tu đã áp dụng những quy tắc của Vaticanô 2 và viết lại cơ cấu của chính dòng mình, mang lấy một cái nhìn mới đến các vấn đế thẩm quyền, cộng đoàn và căn tính.
- Công đồng đã hồi phục lại chức phó tế vĩnh viễn là một thừa tác vụ và cho phép người nam đã lập gia đình được chịu chức phó tế. Ngày nay đã có hơn 29 000 phó tế vĩnh viễn trên khắp thế giới. Chỉ riêng Hoa Kỳ đã có gần 50 phó tế vĩnh viễn người Việt Nam, so với một sắc tộc mới đặt chân đến Hoa Kỳ trong 3 thập niên qua thì con số này được coi là đáng kể.
- Công Đồng dạy rằng Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục là những người kế vị các Tông Đồ đều liên kết với nhau, lập thành một giám mục đoàn và hiệp nhất với vị thủ lãnh là Đức Giáo Hoàng tại Roma. Điều này đã dẫn đến một sự cảm kích mới nơi các giám mục và nơi các hội đồng giám mục. Thượng Hội Đồng Giám mục cũng đã được hình thành và họp công nghị thường xuyên do sự quyết định triệu tập của Đức Giáo Hoàng. Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần thứ 11 cũng đang diễn ra trong những ngày này tại Roma và sẽ bế mạc để kết thúc Năm Thánh Thể 2005 do Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khởi xướng.
- Thần học được tiếp nguồn sinh khí mới, đặc biệt là thần học luân lý, đặt trọng tâm nhiều hơn vào các nguồn từ Kinh Thánh và lương tâm con người hơn là luật lệ hay quyền bính của giáo hội.
- Công đồng đã nhấn mạnh đến tình liên kết với con người thay vì đứng cách biệt khỏi thế giới trần tục và điều này đã dẫn đến một sự phát triển mau lệ đến các hoạt động xã hội và bác ái. Các vị lãnh đạo giáo hội thường xuyến nói đến căn tính của giáo hội với người nghèo và người bị đau khổ, và Đức Giáo Hoàng đã trở nên một người bệnh vực mạnh mẽ cho quyền con người mà nhiều người đã chứng kiến qua cuộc đời của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Mặc dầu thế, cùng lúc giáo hội cũng đã trải qua một số diễn tiến đáng muộn phiền, bao gồm đến một sự sa sút đáng kể trong ơn gọi và một số linh mục và tu sĩ xin hồi tục đã gia tăng. Tại nhiều nơi trong Thánh Đường số người dự lễ đã trống vắng, nhiều người Công Giáo đã từ bỏ không đi xưng tội và bất đồng quan điểm đến giáo huấn nào đó đã lan tràn, như điều hành sinh sản. Một số người sinh trưởng trong gia đình Công Giáo nhưng trong suốt cuộc đời họ chỉ vào nhà thờ có 3 lần: một lần được bế vào nhà thờ để rửa tội, lần thứ hai dìu nhau vào nhà thờ để xin làm phép hôn phối và lần thứ ba được khiêng vào nhà thờ trong nghi lễ an táng.
Tất cả những điều trên đã giúp nhiên liệu trong quá trình 40 năm qua để tranh luận đến việc đọc và nhận thức đến Công Đồng chung Vaticanô 2.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã đôi lần gióng lên tiếng nói trong cuộc tranh luận này. Nhưng Đức Thánh Cha luôn luôn phân biệt giữa Công Đồng và sự áp dụng thi hành Công Đồng, khi Ngài nói rằng điều làm tổn thương đến giáo hội trong thập niên sau Công Đồng chung Vaticanô 2 "không phải là Công Đồng nhưng là từ chối chấp nhận Công Đồng".
Bốn hội nghị của Công Đồng đã diễn ra từ năm 1962 cho đến năm 1965 và đã công bố 16 văn kiện đánh dấu bước ngoặc mới hiện đại hóa lễ nghi phụng vụ, tái canh tân đời sống thiên chức linh mục và các dòng tu, đề cao vai trò của giáo dân Công Giáo, mở đường đối thoại với các giáo hội Kitô ngoài Công Giáo và các giáo hội ngoài Kitô giáo, và nhận diện giáo hội là "Dân Thiên Chúa" được hòa hợp trong những khó khăn và niềm hy vọng của thế giới.
Mặc dầu Công Đồng đã không đưa ra một tín lý gì mới mẻ, nhưng người Công Giáo sống qua thời đại Công Đông Vaticanô 2 không thể nào quên được những sự thay đổi, một số những thay đổi thật bất ngờ khi suy tư nhìn lại đến những cộng đoàn Công Giáo vào giữa thập niên 60.
Bàn thờ được quay lại để linh mục chủ tế hướng nhìn về giáo dân. Thánh lễ bằng tiếng La Tinh đã nhường chỗ cho Thánh Lễ được cử hành bằng ngôn ngữ bản xứ. Các bí tích được cập nhật và đơn giản hóa. Tu sĩ nam nữ thay đổi cách ăn mặc cho hợp thời đại, nhất là các nữ tu không còn phải khoác những áo dòng dài luộm thuộm nhiều lớp, hay đội trên đầu những lúp nặng nề chiều ngang cả gần nửa thước.
Tuy nhiên tất cả những thay đổi đã không diễn ra một sớm một chiều. Các vị lãnh đạo giáo hội đã bắt đầu một tiến trình lâu dài và đôi khi tranh cãi để duyệt lại tất cả mọi lãnh vực trong đời sống mục vụ, từ việc giáo huấn cho đến thừa tác mục vụ của giáo dân.
Theo Linh Mục Dario Vitali, giáo sư giáo sử tại Đại Học Gregorian tại Roma đã nói: "Công Đồng đã đưa ra một cuộc cách mạng Côpêcnich * cho Giáo Hội, mà tự nó đã đưa ra một thử thách làm thế nào mà giáo hội có thể tái mở ra con đường đối thoại với thế giới ngày nay. Qua Công Đồng Giáo Hội được gần gũi hơn với con người đương thời và đã làm cho Tin Mừng mang lạy ý nghĩa đối với họ. Nếu không có Công Đồng Vaticanô II, tôi nghĩ rằng giáo hội ngày nay chỉ là một cộng đoàn thiểu số nhỏ, bị khép kín trong những lễ nghi không được hiểu đến cho não trạng ngày nay".
[* Nicolaus Copernicus (1473-1543) là một nhà thiên văn người Balan tin tưởng rằng mặt trời là trung tâm chứ không phải là trái đất trong thái dương hệ, nghĩa là trái đất xoay quanh mặt trời, điều này vào thời điểm đó đã đi nghịch lại với giáo huấn của giáo hội. Trong suốt dòng thời gian 30 năm trong cuộc đời ông đã nghiên cứu và khám phá ra vấn đề này. Trong tác phẩm nổi tiếng của ông "De revolutionibus Orbium Coelestium" mà tác phẩm này đã cho ra phát hành sau khi ông qua đời. Sinh trưởng tại Torun Ba Lan và đi theo học tại Krakow Balan và tại Italia, sau đó làm giáo sư thiên văn học tại Roma. Khi trở về Poremarian tại Ba Lan làm việc cho một người chú là giám mục tại Ermland, được tôn làm kinh sĩ mặc dầu không khấn hứa lời khấn dòng. Ở tại đây cho tới khi qua đời vào năm 1543]
Thế nhưng không phải mọi người trong Giáo Hội nhìn thấy được Công Đồng là một sự việc tích cực. Một số người Công Giáo với đầu óc cố hữu, vẫn còn lưu luyến quá khứ nhớ lại cách phụng tự theo đường lối cũ và lúc đó một số giáo sĩ trong giáo hội kể cả nhiều vị tại Roma đã phê bình đường lối đến sự hiểu biết và áp dụng của Công Đồng Vaticanô. Trong nhiều trường hợp, đã có những cuộc tranh luận sôi nổi và gay gắt trong hội nghị của Công Đồng.
Ngày 8/12 tới đây, đánh dấu 40 năm kết thúc Công Đồng Vaticanô 2 vào năm 1965, và trong mùa Thu tại Roma, Tòa Thánh Vatican sẽ tổ chức nhiều buổi lễ và gặp gỡ để suy tư đến Giáo Hội đã hành trình như thế nào trong 4 thập niên qua.
Trong dịp này Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI, người đã từng tham dự trong Công Đồng với tư cách là một chuyên gia thần học, cũng sẽ nói lên tầm quan trọng của các văn kiện của Công Đồng. Mặc dầu Đức Giáo Hoàng cũng đã phẩm bình đến một số thay đổi hậu Công Đồng, thế nhưng Đức Thánh Cha đã tuyên bố rõ ràng rằng Công Đồng Vaticanô 2 sẽ là "la bàn" trong triều giáo hoàng của Ngài. Dĩ nhiên la bàn nó định hướng đi và đó sẽ tùy thuộc nơi vị Tân Giáo Hoàng Biển Đức để đưa ra những chi tiết cụ thể.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức cũng đã nhấn mạnh đến sự thực hiện áp dụng của Công Đồng là một trọng trách đang tiến hành trong giáo hội, chứ không phải để cho thế hệ trẻ nhìn lại Công Đồng như một biến cố lịch sử đã qua đi.
Ông Alberto Melloni, một giáo sử trong thời kỳ Công Đồng Vaticanô 2 đã nói "Giới trẻ Công Giáo có thể đã không cảnh thức một cách trí thức đến Công Đồng, nhưng họ đang tiếp tục cảm nghiệm thấy những ảnh hưởng của nó. Xin cám ơn đến Công Đồng, giới trẻ đã được giảng dạy để nhìn thấy thế giới không còn là một mối đe dọa đến đời sống Kitô Giáo, nhưng là một cơ hội để công bố Tin Mừng".
Công Đồng Vaticanô 2 đôi khi được diễn tả là một cuộc cách mạng, nhưng nó không xuất hiện một cách bất ngờ. Trước Công Đồng Vaticanô 2 thì đã có 20 hội nghị Công Đồng trong lịch sử giáo hội, kể cả đến Công Đồng chung Vaticanô 1 trong thời gian từ năm 1869-1870. Công đồng Vaticanô 1 đã công bố tín lý quyền bất khả ngộ và thẩm quyền tối thượng của Đức Giáo Hoàng, thế nhưng Công Đồng Vaticanô 1 đã khai mạc nhưng không có ngày bế mạc vì chiến tranh đã bùng nổ tại Âu Châu.
Chất men thần học giữa thế kỷ 20 đã giúp giáo dân cơ sở nền tảng cho Vaticanô II. Những vị thần học gia tiên phong phải kể đến là Linh Mục Dòng Đa Minh Yves Congar, Linh Mục Dòng Tên John Courtney Murray và Henri de Lubac là những người đã cô gắng để xây dựng nhịp cầu giữa những chân lý cổ xưa của Kitô học và thế giới đương thời. Thế nhưng tất cả ba vị đó một cách nào đó đã bị Tòa Thánh Vatican bắt phải im lặng trong thập niên 1950, tuy nhiên tiếng nói của các ngài lại trổi lên và trở thành những tiếng nói quan trọng cho Công Đồng.
Đức Cố Chân Phước Giáo Hoàng Gioan XXIII hầu như đã làm kinh ngạc mọi người khi chỉ vừa lên ngôi Giáo Hoàng được 3 tháng, Ngài đã công bố sẽ triệu tập Công Đồng. Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII đã nói đến nhu cầu cần thiết cập nhật hóa giáo hội và cổ võ sự hiệp nhất Kitô giáo; nhưng hơn hết tất cả Đức Thánh Cha đã nói ngài muốn tỏ cho thế giới ngày nay thấy đến giáo hội được biến đổi và tái tăng cường một cách trí thức.
Đức Chân Phước Giáo Hoàng Gioan nói rằng thế giới bị đánh dấu bởi sự nghèo nàn tinh thần và cần phải được tái tiếp sinh khí. Nhưng khi sau này Đức Giáo Hoàng ngỏ lời với Công Đồng, ngài nói giáo hội cần cống hiến cho thế giới ngày này "phương thuốc của lòng nhân từ" chứ không phải những lời chê trách nghiêm khắc.
Công việc sửa soạn cho Công Đồng đã mất gần tới 3 năm, và rồi khi Công Đồng được bắt đầu thì Đức Giáo Hoàng Gioan XXIII bị phát giác ngài mang chứng bệnh ung thư, và ngài chỉ chủ tọa tham dự trong hội nghị đầu tiên của Công Đồng vào mùa Thu năm 1962. Sự kêu mời tham dự của Tin Lành, Chính Thống Giáo và những người ngoài Công Giáo đã làm cho Công Đồng Vaticanô 2 trở nên một biến cố lịch sử.
Đức Giáo Hoàng kế nhiệm Phaolô VI là người đã tiếp tục hướng dẫn để hoàn tất Công Đồng chung Vaticanô 2. Ngài đã chủ sự 3 hội nghị còn lại của Công Đồng và ra chỉ thị quan trọng trong các lãnh vự phụng vụ, đại kết, đời sống tôn giáo và truyền bá Tin Mừng.
Có khoảng 2000 đến 2500 giám mục khắp nơi trên thế giới đã về tham dự các buổi hội nghị của Công Đồng Vaticanô 2, và các tham dự viên đã tranh luận đến nội dung có tính cách tổng quát cho đến từng các chi tiết, mà việc cãi lý gay go không phải là chuyện bất bình thường. Để đưa một ví dụ, khi bản thảo đầu tiên Hiến Chế Tín Lý về Giáo Hội "Lumen Gentium" được trình bày, thì đã có một sự phê bình kịch liệt cho đó là có tính cách háo thắng, giáo sĩ và quan liêu; nhưng rồi thì văn kiện đã được thừa nhận sau hai năm và có biết bao nhiêu phần phải bổ sung.
Ngay từ buổi đầu, các giám mục đã nhận thức đến trọng trách của các ngài không chỉ là cập nhật những thực hành của giáo hội, nhưng còn là một tiến trình cho "phương kế" hay nói một cách khác hơn là trở về nguồn của đức tin.
Đối với một số tham dự viên công đồng, Đức Giám Mục Frnak Fernando tại Chilaw- Sri Lanka là một trong số rất ít người đếm được trên đầu ngón tay còn đang thực hành mục vụ, đã cho biết rằng Công Đồng chung Vaticanô 2 thực sự đã làm nên lịch sử.
"Cuộc tranh luận rất là hệ thống hóa với rất nhiều ý kiến trao đổi. Những văn kiện phải được duyệt lại lần nữa rồi lại được đưa ra lần nữa với những bổ sung sau khi các nghị phụ đã nghiên cứu. Đó là lý do tại sao các văn kiện này là những văn kiện rất trau chuốt, nó không phải là hôm nay mang văn kiện này ra để thông qua rồi lại tiến qua cái khác".
Cuối cùng, Công Đồng đã công bố 4 hiến chương: về phụng vụ, về cơ cấu và bản chất của giáo hội, về Giáo Hội trong thế giới ngày nay và về mặc khải của Thiên Chúa. Công đồng đã đưa ra 9 sắc lệnh: về phương tiện truyền thông xã hội, Giáo Hội Công Giáo Đông Phương, hiệp nhất, nhiệm vụ mục vụ của các Giám Mục, canh tân thích nghi đời sống dòng tu, đào tạo linh mục, tông đồ giáo dân, hoạt động truyền giáo, chức vụ và đời sống linh mục. 3 bản Tuyên Ngôn: liên lạc của Giáo Hội với các tôn giáo ngoài Kitô giáo, giáo dục Kitô giáo và tự do tôn giáo.
Phần lớn các chuyên gia liệt kê những thành quả lớn nhất của Công Đồng Vaticanô 2 đó là mở ra một con đường mới để hiểu giáo hội, là "Dân Thiên Chúa" và không chỉ đơn thuần là một cơ cấu phẩm trật, nhưng là một "bí tích" cho thế giới với một sứ vụ truyền giáo sống động cho tất cả mọi lãnh vực trong xã hội nhân loại.
"Lumen Gentium" đã trình bày giáo hội là một mầu nhiệm và là một sự hiệp thông của người tín hữu chịu phép rửa tội tiến về quê trời, là một thân thể thánh thiện nhưng không vẹn toàn trong khi còn tại thế.
Mặc dầu là một tổ chức có phẩm trật, thế nhưng giáo hội là một sự hiệp thông là một thân thể sống động mà các chi thể được kêu gọi sống nên thánh và có những vai trò, quyền lợi và trách nhiệm riêng biệt.
Hiến chế mục vụ về Giáo Hội trong Thế Giới Ngày Nay "Gaudium et Spes" được chiếu cố nhiều hơn cho người bình thường và được chuẩn y vào năm 1965, trong lần bầu cuối cùng của Công Đồng.
Đức Giám Mục Fernando đã nhớ lại rất rõ vào lúc này và Đức Cha nói rằng ngài coi hiến chế "Gaudium et Spes" là một sự việc quan trọng nhất phát xuất từ Công Đồng. Đức Cha nói thêm nhiều vị giám mục đã rằng các văn kiện trước của Công Đồng nhắm chủ yếu tới các chuyên gia và các nhà chuyên môn và văn kiện này muốn truyền đạt một sứ điệp cho toàn thế giới.
Hiến Chế "Gaudium et Spes" đã kêu gọi giáo hội can dự trong sự đối thoại với xã hội đương thời và những khó khăn của nó, mang đến giáo huấn và giá trị luân lý quy vào cho thế giới thường quá bị xâu xé bởi oán thù, chiến tranh và bất công. Văn kiện đã thừa nhận rằng khoa học và văn hóa có những điều để dạy cho giáo hội, nhưng văn kiện cũng nói rằng giáo hội có một sứ vụ thánh hóa đến thế giới xung quanh.
Trong những năm sau khi bế mạc Công Đồng, đề cương được đổi mới do Công Đồng đã được chọn lọc và soạn thành luật trong một số sắc lệnh, quy tắc và những thay đổi trong giáo luật. Giáo Hội đã chứng kiến vô số kể đến những thay đổi này:
- Bản Tân Lễ Qui Roma được ban hành vào năm 1970, với chu kỳ bài đọc phụng vụ mới nhằm cống hiến một sự chọn lựa phong phú từ Kinh Thánh. Lịch phụng vụ được đơn giản hoá. Nghi lễ cho các bí tích được duyệt lại, nhấn mạnh đến khía cạnh hiệp thông chung của cộng đoàn. Nghi lễ khai tâm Kitô Giáo cho người lớn được duyệt lại và sửa đổi. Khi mà những sự thay đổi xảy ra, sự tham dự trong phụng vụ một cách tích cực đã gia tăng vượt bực tại nhiều cộng đoàn trong giáo hội địa phương.
- Số thừa tác viên giáo dân gia tăng gấp bội. Các thừa tác viên giáo dân đọc sách và trao Mình Chúa đã xuất hiện trong các Thánh Lễ. Giáo dân đóng vai trò trong các hội đồng giáo xứ và hội đồng của giáo phận, và giáo dân nam nữ mà nhiều người trong số họ có bằng cấp về thần học, đã thay thế giáo sĩ trong một số chức vụ điều hành trong giáo hội.
- Trong các giáo hội tại khắp nơi, đã có một sự canh tân chú ý đến Kinh Thánh trong phụng vụ và trong sự đạo đức cá nhân.
- Giáo Hội Đông Phương được khuyến khích để trở về truyền thống của riên ghọ, chấm dứt một thời kỳ La Tinh hóa và mở ra một sự cảm kích mới khác nhau trong giáo hội hoàn vũ.
- Đại kết đâm chồi nẩy lộc, trong sự đối thoại chính thức giữa các viên chức Công Giáo và các Giáo Hội Kitô khác, và trong sự cầu nguyện và gặp gỡ huynh đệ tại cấp giáo hội địa phương.
- Sau khi Công Đồng đã thừa nhận đến sự cứu chuộc khả thi đối với người ngoài Kitô Giáo, cuộc đối thoại cũng đã bắt đầu với các tôn giáo khác.
- Đời sống tu sĩ đã thay đổi một cách đáng kể, đời sống dòng tu đã áp dụng những quy tắc của Vaticanô 2 và viết lại cơ cấu của chính dòng mình, mang lấy một cái nhìn mới đến các vấn đế thẩm quyền, cộng đoàn và căn tính.
- Công đồng đã hồi phục lại chức phó tế vĩnh viễn là một thừa tác vụ và cho phép người nam đã lập gia đình được chịu chức phó tế. Ngày nay đã có hơn 29 000 phó tế vĩnh viễn trên khắp thế giới. Chỉ riêng Hoa Kỳ đã có gần 50 phó tế vĩnh viễn người Việt Nam, so với một sắc tộc mới đặt chân đến Hoa Kỳ trong 3 thập niên qua thì con số này được coi là đáng kể.
- Công Đồng dạy rằng Đức Giáo Hoàng và các Giám Mục là những người kế vị các Tông Đồ đều liên kết với nhau, lập thành một giám mục đoàn và hiệp nhất với vị thủ lãnh là Đức Giáo Hoàng tại Roma. Điều này đã dẫn đến một sự cảm kích mới nơi các giám mục và nơi các hội đồng giám mục. Thượng Hội Đồng Giám mục cũng đã được hình thành và họp công nghị thường xuyên do sự quyết định triệu tập của Đức Giáo Hoàng. Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới lần thứ 11 cũng đang diễn ra trong những ngày này tại Roma và sẽ bế mạc để kết thúc Năm Thánh Thể 2005 do Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II khởi xướng.
- Thần học được tiếp nguồn sinh khí mới, đặc biệt là thần học luân lý, đặt trọng tâm nhiều hơn vào các nguồn từ Kinh Thánh và lương tâm con người hơn là luật lệ hay quyền bính của giáo hội.
- Công đồng đã nhấn mạnh đến tình liên kết với con người thay vì đứng cách biệt khỏi thế giới trần tục và điều này đã dẫn đến một sự phát triển mau lệ đến các hoạt động xã hội và bác ái. Các vị lãnh đạo giáo hội thường xuyến nói đến căn tính của giáo hội với người nghèo và người bị đau khổ, và Đức Giáo Hoàng đã trở nên một người bệnh vực mạnh mẽ cho quyền con người mà nhiều người đã chứng kiến qua cuộc đời của Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.
Mặc dầu thế, cùng lúc giáo hội cũng đã trải qua một số diễn tiến đáng muộn phiền, bao gồm đến một sự sa sút đáng kể trong ơn gọi và một số linh mục và tu sĩ xin hồi tục đã gia tăng. Tại nhiều nơi trong Thánh Đường số người dự lễ đã trống vắng, nhiều người Công Giáo đã từ bỏ không đi xưng tội và bất đồng quan điểm đến giáo huấn nào đó đã lan tràn, như điều hành sinh sản. Một số người sinh trưởng trong gia đình Công Giáo nhưng trong suốt cuộc đời họ chỉ vào nhà thờ có 3 lần: một lần được bế vào nhà thờ để rửa tội, lần thứ hai dìu nhau vào nhà thờ để xin làm phép hôn phối và lần thứ ba được khiêng vào nhà thờ trong nghi lễ an táng.
Tất cả những điều trên đã giúp nhiên liệu trong quá trình 40 năm qua để tranh luận đến việc đọc và nhận thức đến Công Đồng chung Vaticanô 2.
Đức Giáo Hoàng Biển Đức XVI đã đôi lần gióng lên tiếng nói trong cuộc tranh luận này. Nhưng Đức Thánh Cha luôn luôn phân biệt giữa Công Đồng và sự áp dụng thi hành Công Đồng, khi Ngài nói rằng điều làm tổn thương đến giáo hội trong thập niên sau Công Đồng chung Vaticanô 2 "không phải là Công Đồng nhưng là từ chối chấp nhận Công Đồng".