Theo một nhà báo đề cập đến Công đồng


VATICAN: 21/10/ 2002 (Zenit. org). - Khi giới thiệu Công đồng Vatican II như là một "la bàn bảo đảm" cho thế kỷ mới, Đức Gioan Phaolô II công nhận còn một khoảng dài phải đi trên con đường đánh dấu bởi thương đỉnh lịch sử.

Để hiểu biết hơn nữa về những thách đố Vatican II tiếp tục đặt ra, ZENIT chấp vấn nhà báo Y Gian Franco Svidercoschi, kẻ đã viết 5 quyển sách về công đồng.

Svidercoschi (sinh 1936), bắt đầu làm nghề báo với tư cách một phóng viên cho các phương tiện truyền thông Ý trong tháng Ocober 1958, ba ngày trước lúc Đức Pio XII qua đời. Ông nguyên là một phó giám đốc báo Osservatore Romano. Là một người bạn thân của Hồng Y Karol Wojtyla, ông đã phỏng vấn ngài hai lần từ khi ngài được bàu làm giáo hoàng. Ông cũng đã cọng tác với Đức Thánh Cha để viết quyển sách cá nhân nhất của ngài, "Ân ban và Mầu nhiệm" (1996), về đời sống linh mục của ngài.

Việc sản xuất một cuốn film mới sẽ khởi sự trong tương lai gần, linh hứng bởi "Lịch sử Karol, " một tiểu sử của Đức Giáo hoàng và một trong những sách cuối cùng của Svidercoschi

Khi nhớ lại niềm phấn khởi Công đồng Vatican II đã linh hứng cả trong lẫn ngoài Giáo hội, một số người tưởng công đồng bị phản bội. Điều này có thật không?

Svidercoschi: tôi tưởng dễ mà thấy tại sao công đồng, trong tinh thần và những mục tiêu chính của mình, không có gì để bị phản bội. Rõ ràng, cũng không phải là việc làm của Phản-Kitô, như nhiều kẻ muốn tin, vì họ là những người chỉ nghe từ "cải tổ" là đã sợ.

Đồng thời, có thể thấy "cuộc cách mạng" bắt đầu với công đồng này, còn cần phải thực hiện ngày nay, có nhiều tìm năng còn cần phải phát triển. Vì lẽ này, tôi tưởng ít nhất quá sớm khi nói thời giờ đã điểm cho một công đồng mới, một Vatican III.

Trên hết, cấn phải khôi phục ý nghĩa đích thực của Vatican II. Cần phải, như Giáo hoàng Gioan Phaolô II nài xin, "trở về với công đồng, " biến công đồng thành "la bàn" cho con đường tương lai của Giáo hội.

Dầu chỉ mới ba thập niên hay lối đó đã qua từ khi kết thúc Vatican II, mà xem ra hàng thế kỷ đã qua, vì sự tiến nhanh của lịch sử trong những năm cuối cùng. Ông có nghỉ là công đồng đang bắt đầu mất một số hấp dẫn ban đầu ?

Svidercoschi: Thế giới ngày nay rất khác với thế giới thời Vatican II. Lịch sử đã thay đổi. Hoàn cảnh chính trị, kinh tế và xã hội đã thay đổi và, thêm nữa, có một thay đổi ở cấp bậc nhân loại học và văn hóa. Và Giáo hội cũng đã thay đổi bởi ảnh hưởng mới và sâu xa của Giáo hội trong xã hội và trong đời sống con người.

Và còn nữa, bên kia một từ ngữ nào đó còn liên kết với những năm đó, bên kia một số khẳng định rõ ràng tạm thời, Công đồng Vatican II không mất chút nào tầm quan trọng hiện nay của mình. Điều hơn nữa, Công đồng được xem như là chìa khóa cần thiết để hiểu không những lịch sử của Giáo hội trong những thời gian mới đây, mà còn lịch sử của thế giới, của nhân loại.

Trong tông thư "Tertio Millennio Adveniente, " văn kiện giáo hoàng chuẩn bị Năm Thánh, công đồng được xem như "câu trả lời tin mừng cho việc biến đổi mới của thế giới với những kinh nghiệm làm xáo động trong thế kỷ 20. "Đồng thời, "công đồng đánh dấu một thởi kỳ mới trong sự sống của Giáo hội" và đối với thế giới công đồng được trình bày như là "một sự tuyên bố của những thời đại mới. "

Từ Vatican II, và không loại bỏ căn tính riêng của mình, chân lý, Giáo hội đã bỏ thái độ thù địch của mình từ khi phát sinh thế giới tân thời, trong sự gặp-đương đầu với chủ nghĩa quốc gia. Và Giáo hội đã hành động như vậy không vì "những kẻ thù" truyền thống của mình đã biến mất hay đã thay đổi chiến lược của họ, nhưng vì Giáo hội hiểu rằng sự giúp đỡ của mình là cần, việc làm của Giáo hội, để giữ gìn những giá trị cơ bản--hoà bình, công lý, các quyềncon người, sự sống--mà chiến tranh và những thảm kịch độc tài đã xô ngã.

Sự thay đổi nào quan trọng nhất do Vatican đem lại?

Svidercoschi: Sự thay đổi đó bao hàm việc chấm dứt thời đại Constantin của chế độ gọi là Kitô giáo--sự chấm dứt một tinh thần tiêu cực nào đó của sự Phản-Cải tổ, mà đặc điểm là một thái độ có tính pháp lý, giáo sĩ, tự vệ quá khích. Sự chấm dứt trạng thái đơn điệu thái quá này, mà có thể nói được đã bóp nghẹt hàng thập niên của sự sống giáo hội. Việc kết thúc một liên quan giữa Giáo hội và lịch sử, Giáo hội và xã hội, sự liên quan đó, từ khi sự Khai sáng lần hồi xấu đi, đã trở thành xung đột, bày biểu--hay đúng hơn-- bắt buộc các Giáo hoàng và Toà Thánh chống đối thế giới tân tiến với một loạt những chốt.

Đó là lý do tại sao, với công đồng, nhiều sự trong cộng đồng Công giáo không còn như trước nữa. Giáo hội đã đặt mình dưới Lời Chúa, "mầu nhiệm" mà Giáo hội biểu hiện, được đặt trên hệ thống cấp bậc, của những phương diện pháp lý cơ chế, của những cấu trúc giáo hội.

Quyền tự do tôn giáo được nhìn nhận; chủ nghĩa hiệp nhất trở thành một mục tiêu ưu tiên. Những ràng buộc không thể tiêu tan với Do thái giáo đã được tái khám phá. Có một sự cởi mở tín cẩn với thế giới, và một sự chấp nhận minh nhiên lịch sử.

Giáo hội phát sinh từ công đồng là một Giáo hội có tính tin mừng hơn, có tính kinh thánh hơn, ý thức hơn về căn tính của mình. Một Giáo hội không còn tập trung về Âu châu, không còn hạn chế vào trạng thái đồng dạng theo kiểu mẫu latinh, nhưng đúng hơn cởi mở với mọi nền văn hóa, mọi kinh nghiệm, trong đó Giáo hội sống chiều kích phổ quát của mình.

Nói tóm, một Giáo hội vẫn duy trì vững mạnh bản chất đức tin, nhưng muốn xét lại và đổi mới tất cả những gì có thể đưa ra một trả lời lịch sử cho các nhu cầu khác nhau, trong sự dồng điệu với những "dấu chỉ thời đại, " mà không có "những sự thánh hoá" hay là "những tín điều hóa. "Không phù hợp.

Tại sao việc áp dụng công đồng bị trì hoản?

Svidercoschi: Sự thật là chương trình đổi mới này còn nữa vời do quá trình thực hiện của nó. Tôi sẽ giải thích. Nhiều chuyện đã được làm tại cấp bậc cơ chế, nhưng rất ít tại cấp bậc địa phương của dân Kitô hữu.

Một phần nào, sự trì hoản này nguyên nhân là hiện tượng "phân cực, " nghĩa là, việc chạm trán giữa "những người đổi mới" và "những kẻ theo truyền thống, " chống lại những cải tổ. Đã có những sự thiếu sót và những sự bỏ qua. Một khi sự phấn khởi ban đầu qua đi, nhiều người Kitô hữu cuối cùng quên công đồng, công đồng trở thành một tập quán, một lệ thường, một cái gì hiển nhiên.

Chỉ một thiểu số người còn dấn thân, sống tinh thần đích thực công đồng, và ngày nay họ nghiệm thấy sư "aggiornamento" [cập nhật hóa], một kiểu nói Giáo hoàng Gioan rất thích, còn phải được nghiên cứu và phát triển hơn nữa.

Trong thời gian đó, ít nhất hai thế hệ đã lớn lên mà không biết gì về Vatican II, về những thay đổi công đồng đem tới, về những viễn ảnh công đồng mở ra, về những gì còn phải làm.

Một trường hợp liên quan là sự cử hành thánh thể. Khi người trẻ ngày nay bước chân vào nhà thờ lần đầu, chúng thấy Thánh lễ như chúng ta cử hành ngày nay: linh mục chủ tế quay mặt vế phía cộng đồng, tiếng bản xứ, những bài đọc kinh thánh, những Kinh nguyện Giáo dân. Giới trẻ thật sự không hiểu những sự đã thay đổi cách nào trong Giáo hội hay là lý do thay đổi.

Dầu vậy, nếu chúng ta mở rộng tầm nhìn chúng ta, chúng ta không nên quên rằng sự trì hoản trong việc áp dụng công đồng cũng tại tình thế thế giới. Công đồng bị trì hoản trong việc đi tới Đông Âu, nơi chế độ vô thần Matxit thắng thế, và những xứ thuộc Thế Giới Thứ Ba, nơi sự quan tâm ưu tiên tập trung về việc củng cố các Giáo hội trẻ và sự thăng tiến truyền giáo.

Phương diện nào của công đồng được áp dụng tốt nhất?

Svidercoschi: Theo quan niệm riêng cá nhân tôi, nhiều chuyện đã được làm trong sự áp dụng công đồng bên ngoài Giáo hội, "ad extra, " nghia là, trong những quan hệ của Giáo hội với các giáo hội và các công đồng Kitô khác, với những tôn giáo khác, với thế giới.

Nói được, trong sứ vụ của mình "ad extra, " Giáo hội đã sống qua một cuộc "cách mạng" thứ hai, bởi vì khi di chuyển từ những nguyên lý tới việc thực hành cụ thể, tới sự sống truyền giáo hằng ngày, có sự phát triển liên tục, còn cao hơn những mục tiêu do những văn kiện công đồ đề ra.

Chỉ cần nhắc tới những vấn đề khác nhau liên kết với sự tự do tôn giáo, vai trò của Giáo hội trong việc bảo vệ và cổ võ các nhân quyền và các quyền người dân, chương "mea culpas" đem lại sự đáng tin mới cho các đề nghị đối thoại liên tôn và đối thoại với những văn hoá khác.

Chỉ cần nghĩ tới sự phát triển trong những quan hệ với Do thái giáo, cách riêng với Đức Gioan Phaolô II, cuộc thăm viếng của ngài tại hội đường Roma, cuộc nói chuyện của ngài về cuộc tàn sát người Do thái, về cuộc đi tới Bức Tường Khóc. Và, mặc cho những khó khăn và những vấn đề lớn hơn nổi lên theo ngày 11 Sept. , việc xích gần với tôn giáo Hồi giáo.

Cũng phải nhắc tới sự tiến triển thấy trong các lãnh vực khác nhau được cứu xét trong phần hai của "Gaudium et Spes": sự cam kết phò sự sống và gia đình, sự chấm dứt xung đột giữa khoa hoc và đức tin, sự quan tâm hơn đến những vấn đề xã hội, như sự đói, nghèo trong thế giới, sự chấp nhận đa nguyên trong chính trị, sự quyết định chống lại chiến tranh.

Những điểm quan trọng nhất của công đồng còn phải dược áp dụng, là những điểm nào?

Svidercoschi: Đã có và tiếp tục có nhiều trở ngại trên con đường thực hiện đúng nét hơn của công đồng bên trong Giáo hội{"ad intra"), trong những vấn đề riêng biệt của mình. Tôi qui chiếu trước hết vể "Lumen Gentium" và những điểm chính của nó--"Mầu nhiệm" Giáo hội, " "dân Chúa, " tính tập đoàn giám mục. Xem ra ngày nay cái thiếu là một việc tổng hợp giữa sự sống và sứ vụ của Giáo hội trước công đồng và những đề nghị mới của công đồng.

Thật vậy, có thể thấy rằng trên thực tế tất cả các cuộc hội nghị các hồng y do Đức Gioan Phaolô II triệu tập đã đề cập tới vấn đề này. Hội nghị hồng y bất thường tháng May 2001 tái phát động giải pháp--giáo hội học về hiệp thông- giải pháp có thể quyết định trong việc tìm kiếm những cách thức mới trong việc thi hành nhiệm vụ Phero, được Đức Giáo hoàng trình bày trong thông điệp của ngài "Ut Unum Sint. "

Hồng Y Đức Walter Kaspar, chủ tịch Hội đồng giáo hoàng Cổ Võ Hợp nhất Kitô hữu,
mới đây hỏi về vấn đề cách rõ ràng: "Chúng ta phải thống nhất tốt hơn những định nghia của Vatican I về tính ưu việt và bất khả ngộ, với giáo hội học về hiệp thông của Vatican II. Có một cố gắng phân biệt giữa nội dung và hình thức, bị ảnh hưởng bởi bầu khi của những năm Giáo hội bị bao vây và Giáo hoàng phải bảo đảm cho mình khả năng hành động cả trong những tình huống khó khăn... "

Quá trình "đảo ngược-việc giáo sĩ hóa" tùy thuộc vào điều này, việc mà Đức Gioan Phaolô II đã thi hành, cống hiến không gian ngày càng tăng cho những phương diện đoàn sủng, giáo dân và hiệp thông hơn là cho những yếu tố cơ chế, phẩm trật và giáo sĩ. Cho tới bây giờ ngài đã gặp khá nhiều chống đối trong một số lãnh vực Công giáo

Như ông đã nói, Giáo hoàng giới thiệu công đồng như "la bàn" cho thế kỷ bắt đầu. Điều đó trên thực tế có nghĩa gì?

Svidercoschi: NămThánh 2000 đã cống hiến cơ hội lượt lại những điều đã được áp dụng của cuộc "cách mạng" này và những gì còn phải làm. Công đồng chuẩn bị con đuờng cho Năm Thánh, ủng hộ một sự hiểu biết sâu xa hơn về năm thánh, nguơc lại, trở lui lại công đồng, năm Thánh chuẩn bị con đường cho một "sự dổi mới" trong Giáo hội.


Trong bối cảnh này, Novo Millennio Ineunte, " thư có tính chương trình do Đức Gioan Phaolô II phổ biến sau Năm Thánh, vẻ ra một cuộc hành trình xem ra có tất cả những đặc tính của một sự thay đổi sâu xa, điều còn hơn nữa, của một sự đổi hướng trong lịch sử Kitô giáo. Một "Mùa Vọng mới, " như Đưc Giáo hoàng đã ý thức được trong thông điệp đầu tiên của ngài

Năm Thánh, tự nó, là một sự khởi đầu của một biến đổi sâu xa sự sống và, đồng thời, của một sự duyệt lại có tính phê bình về những thăng trầm thời quá khứ. Năm Thánh vạch, trước, một bản vẻ vĩ đại của sự đổi mới sẽ cho phép cộng đồng Công giáo đương đầu với những thách đố trong tương lai. Một sự đổi mới dựa hơn hết trong sự thực hiện lịch sử mầu nhiệm này--mầu nhiệm đức tin, cứu rỗi--đó là khẳng định đầu tiên và cơ bản của Công đồng về Giáo hội.

Sự đổi mới này bây giờ phải là một kiểu nói sáng suốt của sự hiệp thông và trách nhiệm của tất cả con cái Giáo hội. "Biến Giáo hội thành nhà và trường hiệp thông. Đó là thách đố lớn chúng ta phải đương đầu trong ngàn năm đang bắt đầu, nếu chúng ta muôn trung thành với chương trình của Chúa và đáp ứng với những ao ước sâu xa nhất của thế giới, " Đức Gioan Phaolô II đã viết [trong "novo Millennio Ineunte, " No. 43).

"Trước khi lập những chương trình thực hành, chúng ta cần cổ võ một linh đạo hiệp thông, lấy đó làm nguyên lý hướng dẫn việc giáo dục ở bất cứ nơi nào các cá nhân và các kitô hữu được đào tạo, ở bất cứ nơi nào các thừa tác viên bàn thờ, các người thánh hiến, và các kẻ làm việc mục vụ được huấn luyện, ở bất cứ nơi nào các gia đình và cộng đồng đang được xây dựng.

Nói cách khác, cuộc "cách mạng" thiêng liêng do Năm Thánh cổ võ, bây giờ phải được biến thành một cuộc "cách mạng, " giáo hội, mục vụ và truyền giáo, bắt đầu với những cộng đồng, giáo xứ, mổi một trong các Giáo hội địa phương. Trong một bài phát biểu với đại hội của Giáo hội Ý tại Palermo, Đức Giáo hoàng nói "Chúng ta không sống trong thời kỳ gìn giữ suông những gì đã hiện hữu, nhưng trong thời kỳ của sứ vụ truyềngiáo. "

Muốn hiểu rõ hơn, sự đổi mới này sẽ đem tới những hậu quả gì?

Svidercoschi: Thứ nhất, sự đổi mới này cuối cùng sẽ tạo một tương quan đích thực của sự phụ thuộc lẫn nhau, loại trừ những căn thẳng giữa hai "linh hồn" của công đồng: Giáo hội "ad intra"--đổi mới Giáo hội--và Giáo hội "ad Extra"--dấn thân vì con người.

Thứ hai, sự đổi mới sẽ phát triển tính tập đoàn giám mục.

Thứ ba, sự đổi mới sẽ thiết lập một quan hệ mới trong các thuật ngữ bổ sung giữa chiều kích cơ chế và giáo sĩ và chiều kích đoàn sủng và giáo dân trong Giáo hội.