Chuyện bầu Giáo Hoàng

Hiện nay, các Hồng Y đang họp tại Roma để bầu vị Giáo Hoàng mới. Vì ảnh hưởng của vị Giáo Hoàng vừa quá cố quá lớn đối với nhiều vấn đề của thế giới ngày nay, nên dư luận đang quan tâm đến vị Giáo Hoàng sắp kế vị và muốn biết vị này sẽ đi theo chiều hướng nào.

Mặc dầu số người theo Thiên Chúa Giáo tại Hoa Kỳ hiện nay lên đến 82%, nhưng từ trước đến nay chính trường Mỹ chịu ảnh hưởng rất ít của tôn giáo. Do đó, đa số các chính khách, nhất là các chính khách thuộc đảng Dân Chủ, đã coi thường tôn giáo.

Tuy nhiên, trong cuộc bầu cử năm 2004 vừa qua, vì có vấn đề luân lý được đặt ra với đảng Dân Chủ, nên đảng Cộng Hòa đã khai thác niềm tin tôn giáo của các cử tri Thiên Chúa Giáo để đánh bại đảng Dân Chủ một cách thê thảm. Đến lúc này, người ta mới nhận ra được ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng John Paul II trên đất Mỹ.

Trong tháng qua, hệ thống truyền hình ABC của Hoa Kỳ đã mở một cuộc thăm dư luận Mỹ đối với ảnh hưởng của ĐGH John Paul II và cho biết kết quả như sau: Trong năm 2003, chỉ có 31% người Công Giáo Hoa Kỳ nói vấn đề luân lý của họ chịu ảnh hưởng cửa Đức Giáo Hoàng, nay tỷ lệ đó đã tăng lên 51%. Cuộc thăm dò cũng cho biết trong năm 2003 chỉ có 50% những người dự lễ vài lần mỗi tháng nói rằng họ theo quan điểm luân lý của Đức Giáo Hoàng, nay tỷ lệ này đã tăng lên đến 69%. Nhiều người Mỹ theo Tin Lành cũng tán đồng quan điểm luân lý của Đức Giáo Hoàng. Trước tình trạng này, đảng Dân Chủ không còn cách nào khác hơn là tự xét lại đường lối của mình. Nhưng vấn đề không dễ dàng.

Các chính khách tiên liệu rằng đường lối của vị Giáo Hoàng sắp được bầu cũng có thể sẽ ảnh hưởng đến chính trường Mỹ và thế giới nên đang hướng về Roma.

Nhân dịp này, chúng tôi xin trình bày qua về ngôi vị Giáo Hoàng và chuyện bầu cử Giáo Hoàng của Giáo Hội Roma để độc giả có thể thấy rõ hơn những diễn biến trong mấy tuần vừa qua.

TRƯỞNG THÀNH TRONG ĐAU KHỔ

Theo tinh thần các điều 330 và 331 của Bộ Giáo Luật, Chúa Jesus khi ở trần gian đã chọn 12 tông đồ để thành lập Giáo Hội và tiếp tục rao giảng Tin Mừng. Ngài đã chọn ông Phêrô đứng đầu Giáo Hội khi Ngài nói: “Con là Phêrô, nghĩa là tảng đá, trên tảng đá này, Thầy sẽ xây Giáo Hội của Thầy, và quyền lực của tử thần sẽ không thắng nồi.” (Mt. 16, 18). Đức Giáo Hoàng được coi là người kế vị Thánh Phêrô và các Giám Mục là những người kế vị các Thánh Tông Đồ. Từ đó đến nay, Giáo Hội Công Giáo đã có 264 vị Giáo Hàng. Nhưng để có một Giáo Hội vững mạnh như ngày hôm nay, Giáo Hội Cộng Giáo cũng đã phải trải qua nhiều gian truân và canh cải.

Tại sao Chúa Jesus sinh ra, rao giảng Tin Mừng và chết ở Do Thái, mà Giáo Hội Công Giáo lại được thiết lập lại Roma?

Dưới thời Hoàng Đế Nero cai trị Roma (54 - 68), đạo Thiên Chúa bị cấm rất gắt gao. Nhưng Phaolô, một trong 12 tông đồ của Chúa Jesus, vẫn đến Roma thăm và sống với các tín đồ tại đây. Năm 65 ông bị bắt và mùa thu năm 66, ông bị tuyên án tử hình. Nhưng vì ông là công dân Roma nên không bị treo trên thập giá mà chỉ bị chém đầu. Ông bị hành quyết tại một pháp trường nằm trên đường đi Ostia. Giáo dân đã lấy xác ông đem về chôn ở khu đất của bà Lucina. Nay ở đây đã xây cất Đền Thánh Phaolô Ngoại Thành.

Năm 64, ông Phêrô, người đứng đầu Giáo Hội, cũng đến Roma thăm và ở lại với đoàn chiên. Vì ông là người lãnh đạo Giáo Hội nên nhiều tín đồ đã khuyên ông nên lánh mặt khỏi Roma một thời gian để khỏi bị bắt. Sau nhiều ngày suy nghĩ, ông đã làm theo lời khuyên này. Theo truyền thuyết, khi ông và một đệ tử rời Roma, đang đi trên đường Appia gần cửa Capena, bổng nhiên ông thấy Chúa Jesus đi ngược lại chiều của ông, ông liền quỳ xuống và nói: “Quo vadis, Domine?” (Lạy Thầy, Thầy đi đâu?). Chúa Jesus trả lời: “Ta đi về Roma để chịu đóng đinh một lần nữa.” Ông liền đứng dậy và quay trở lại. Người đệ tử ngạc nhiên hỏi: “Quo vadis, Domine?” (Thưa Thầy, Thầy đi đâu?) Ông trả lời: “Ta trở về lại Roma”.

Dựa theo truyền thuyết này, văn hào Henryk Sienkiewcz (1846 - 1916), người Ba Lan, đã viết cuốn tiểu thuyết trứ danh “Quo vadis?” (Thầy đi đâu?) cho xuất bản năm 1896 và đoạt giải Nobel năm 1905. Về sau, cuốn tiểu thuyết này đã được đóng thành phim “Quo vadis?” mà nhiều người trong chúng ta đã được xem.

Năm 67, ông Phêrô đã bị bắt và bị tống giam vào ngục Tullianum. Ông cũng bị tuyên án tử hình. Nhưng vì không phải là công dân Roma, ông phải bị chết treo trên thập giá. Khi bị dẫn ra hý trường Caligula trên đồi Vatican để chịu đóng đinh, ông nhìn thấy thập giá và nghĩ rằng mình không xứng đáng để được treo như Thầy, nên ông đã xin được đóng đinh ngược đầu xuống dưới. Giáo dân đã lấy xác ông chôn gần nơi bị hành quyết. Năm 313, Đức Giáo Hoàng Silvetre đã cho xây cất Đền Thánh Phêrô ngay trên mộ của ngài.

Người kế vị Thánh Phêro đầu tiên là Đức Giáo Hoàng Linus (67 - 76). Ngài sinh tại Volterra ở miền Tuscia của nước Ý. Ngài là người đã tấn phong 15 Giám Mục đầu tiên. Người kế vị thứ hai là Đức Giáo Hoàng Cletus (76 - 88) cũng người Roma. Ngài khỏi sự đặt ra các định chế về Giáo Hội Roma.

Danh từ PAPA có từ thời Đức Giáo Hoàng Siricus (384 - 399). Ngài là người đầu tiên xử dụng tước hiệu này, lấy từ những chữ đầu của thành ngữ “Petri Apostoli Potestatem Accipiens”, có nghĩa là người nhận quyền từ Thánh Tông Đồ Phêrô. Người Mỹ đọc là POPE và gọi là “Holy Pope”. Giáo Hội Chính Thống gọi tất cả linh mục là “pope”. Về tỉnh từ, người Mỹ vẫn dùng chữ “papal” và chức vụ của người cầm đầu Giáo Hội Roma được gọi là “papacy”. Người Việt dịch PAPA là Giáo Hoàng. Chữ papa trong tiếng Latin hay chữ pappas trong tiếng Hy Lạp có nghĩa là cha (tiếng con nít gọi cha mình), vì thế người Mỹ còn gọi Đức Giáo Hoàng là Holy Father, và người Việt gọi là “Đức Thánh Cha”.

Danh từ “Catholic” được dùng trong Kinh Tin Kính của Công Đồng Nicéa I đặt năm 351. Trong kinh này người ta thấy có câu: “Et unam, sanctam, catholicam et apostolicam Ecclesiam” (Và một Giáo Hội duy nhất, tháng thiện, công giáo và tông truyền). Từ Catholic lấy từ tiếng Hy Lạp là Katholicos, có nghĩ là phô quát (universel) để chỉ rằng Giáo Hội Kitô là một giáo hội phổ quát cho tất cả mọi người và mọi dân tộc, chứ không phải chỉ là “đạo dân tộc”. Trong chữ Hán, chữ Công cũng có nghĩa là việc chung hay chung cho mọi người, chẳng hạn như công ích là lợi ích cho mọi người, công tâm là theo sự suy nghĩ chung của mọi người... Do đó những người theo Thiên Chúa Giáo Việt Nam đã dịch chữ “Catholic” là “Công Giáo” tức một đạo phổ quát, chung cho mọi người, nó không bao giờ có nghĩa là thứ tôn giáo được nhà nước công nhận, tức “quốc giáo”, như một số người đã nghĩ.

Nhưng sau khi thành lập Giáo Hội, mọi sự đã không tiến triển dễ dàng vì 3 lý do chính sau đây:

  • (1) Các chủ trương bài xích Thiên Chúa Giáo.
  • (2) Sự xâm lấn giữa thế quyền và giáo quyền.
  • (3) Sự bất đồng về giáo thuyết.và quyền lực của Đức Giáo Hoàng.
Hôm nay, với đề tài “Chuyện bầu Giáo Hoàng”, chúng tôi chỉ bàn đến sự xâm lấn giữa thế quyền và giáo quyền đã gây ảnh hưởng nhiều đến việc chọn Giáo Hoàng như thế nào mà thôi.

SỰ XÂM LẤN GIỮA THẾ QUYỀN VÀ GIÁO QUYỀN

Sự xâm lấn giữa giáo quyền và thế quyền đã gây ra những biến cố đáng tiếc trong Giáo Hội Roma, trong hơn 2000 năm lịch sử của Giáo Hội này. Ngày nay, sự xâm lấn đó vẫn còn tại một số quốc gia, nhất là trong các quốc gia theo chủ nghĩa cộng sản. Ở đây chúng tôi chỉ xin kể một vài vụ lớn để làm thí dụ điển hình mà thôi..

Năm 1301 đã xẩy ra những sự xích mích giữa Đức Giáo Hoàng Bonifacius VIII và Hoàng Đế Philipe le Bel của Pháp, vì vua đã ra lệnh bắt Giám Mục Saisset, Khâm Sứ của Tòa Thánh ở Pháp vì cho rằng ông này có âm mưu dấy loạn. ĐGH Bonifacius VIII đã phản đối và ra tông chiếu Ausculta fili thành lập công đồng để giải quyết vấn đề này. Nhưng vua Philippe tuyên bố không công nhận nghị quyết của công đồng. Ngày 7.9.1303 vua ra lệnh cho tướng Guilliam Nogaret bắt giữ Đức Giáo Hoàng khi đó đang ở Anaghi và buộc phải từ chức. Lúc đó ngài tuy đã 86 tuổi, nhưng vẫn cương quyết không từ chức. Vì bị các tín hữu phản đối dữ dội nên vua phải ra lệnh phóng thích, nhưng chỉ mấy tuần sau khi được trả tự do, ngài đã qua đời vào ngày 7.7.1304.

Các Hồng Y đã họp tại Perusa để bầu Giáo Hoàng mới. Nhưng Hồng Y Đoàn đã chia thành hai phe, một phe theo quan điểm của Đức cố Giáo Hoàng Bonifacius VIII, còn một phe theo Hoàng Đế Philippe. Cuộc bầu cử kéo dài 11 tháng. Ngày 5.6.1305, Đức Giám Mục Bertrand Got, Tổng Giám Mục Bordeaux của Pháp đã đắc cử Giáo Hoàng và lấy tước hiệu là Clementé V.

Sau đó, xẩy ra cuộc chiến tranh giữa Pháp và Ý. Vua Pháp muốn thống trị nước Ý và Roma, nên xâm chiếm Ý. Năm 1309, ĐGH Clementé V phải dời Tòa Thánh về Avignon ở Pháp. Tại đây, ngài phải chịu mọi áp lực của Pháp trong việc điều hành Giáo Hội.

Ngày 20.4.1314, ĐGH Clementé qua đời. Hồng Y Đoàn đã họp tại thánh đường Tu Viện Đa Minh ở Lyon, Pháp, để bầu Giáo Hoàng mới. Vì có nhiều sự tranh chấp giữa các phe nhóm, nên phải đến ngày 7.8.1316, Đức Hồng Y Giacobê Euse e Cuderco mới đắc cử. Ngài lấy tước hiệu là Gioan XXII. Tuy đã 72 tuổi, ngài cho thiết lập nhiều giáo phận mới và hạn chế sự can thiệp của nhà vua vào các hoạt động của Tòa Thánh.

Phải đến đời Giáo Hoàng Gregoriô XI (1370 - 1378), Tòa Thánh mới cương quyết chống lại áp lực của Pháp nhất quyết trở lại Roma. Nhờ sự can thiệp của thánh nữ Catharina Siene, ĐGH Gregoriô XI đã rời Avignon ngày 13.9.1376, nhưng phải đến ngày 17.1.1377 mới đến được Roma vì gặp quá nhiều trở ngại. Cuộc hành trình gian khổ này đã chấm dứt 70 năm bị lưu đày của Tòa Thánh. ĐGH Gregoriô XI đã lập lại giáo triều tại Roma. Thượng Viện Roma đã dâng tặng ngài một phần đồi Vatican.

Tuy nhiên, sau khi ngài qua đời ngày 27.3.1378 một cuộc ly giáo lớn đã xẩy ra, thường được gọi là “Cuộc ly giáo lớn Tây phương” (Great Schism of Western). Ngày 7.4.1378, Hồng Y Đoàn gồm đa số người Pháp đã họp tại Roma để bầu Giáo Hoàng mới. Bên ngoài, giáo dân tụ tập đông đảo và hô khẩu hiệu “Romano lo volemo, o almento Italiano”, nghĩa là “Một Giáo Hoàng người Roma hay ít ra người Ý”. Ngày 8.4.1378, một Giám Mục ngoài Hồng Y Đoàn đã được bầu làm Giáo Hoàng, đó là Đức Giám Mục Bartolomeo Prignano, Tổng Giám Mục Beri. Nhưng chỉ có 15 Hồng Y bỏ phiếu mà thôi. Ngày 9.4.1378 ngài lên ngôi lấy hiệu là Urban VI.

Cuộc tranh chấp lại xẩy ra với Pháp. Một số Hồng Y khuyến cáo ngài trở lại Avignon, nhưng ngài chẳng những không đồng ý mà còn đặt thêm nhiều Hồng Y người Ý để các Hồng Y người Pháp không còn khống chế Hồng Y Đoàn nữa.

Cuối tháng 5 năm 1378, 13 Hồng Y không phải là người Ý bắt đấu chống đối ĐGH Urban VI. Đức Hồng Y Gioan Grange cố vấn cho Hoàng Đế Carolô của Pháp, đã qua Roma vận động chống lại ĐGH Urban VI và hứa vua Pháp sẽ ủng hộ. Ngày 9.8.1378, 13 Hồng Y không phải người Ý ra tuyên bố nói rằng cuộc bầu cử ngày 8.4.1378 là bất hợp pháp. Họ họp nhau tại Fondi và ngày 20.9.1378 bầu Hồng Y Robert Gebennis, một người Pháp, lên làm Giáo Hoàng, lấy danh hiệu là Clemente VII. Tân Giáo Hoàng trở về Avignon và lập một Giáo Triều khác ở đó. Như vậy Giáo Hội lúc đó có hai Giáo Hoàng và hai Giáo Triều.

Ngày 15.10.1389, ĐGH Urban VI qua đời. Hai ngày sau, 14 Hồng Y đã họp và bầu Đức Hồng Y Phêro Tomacelli làm Giáo Hoàng, lấy danh hiệu là Bonifatiô IX. Ngày 16.9.1394, ĐGH Clemente VII cũng từ trần, một số Hồng Y khác họp tại Avignon và chọn ĐHY Phêro Luna, người Tây Ban Nha, làm Giáo Hoàng, lấy hiệu là Benedictô XIII.

Trước cảnh bi đát này, nhóm Đại Học Paris đưa ra 3 giải pháp: (1) hoặc cả hai thoái vị, (2) hoặc tổ chức hòa đàm và cử một trọng tài đứng ra hòa giải, (3) hoặc tổ chức Đại Công Đồng giải quyết.

Sau khi hai giải pháp đầu thất bại, ngày 28.3.1409, một Đại Công Đồng đã họp tại Pisa lên án hai Giáo Hoàng nói trên là ngoan cố. Ngày 26.6.1404, các Hồng Y lại bầu Hồng Y Phêrô Philatghi làm Giáo Hoàng, lấy tước hiệu là Alexandrô V để thay hai Giáo Hoàng nói trên. Giáo Hoàng mới này lập Giáo Triều thứ ba ở Pisa!

Năm 1414, Công Đồng Constancia đã được triệu tập gồm 29 Hồng Y, 200 Tổng Giám Mục và Giám Mục, 100 Đan Viện Phụ, 300 nhà thần học và giáo luật với khoảng 8.000 giáo sĩ cấp dưới. Linh mục Gioan Gerson, Viện Trưởng Viện Đại Học Paris thuyêt trình về “Quyền tối thượng thuộc Công Đồng” dựa theo Kinh Thánh và truyến thống và đã được hội nghị hoan hô. Theo quan niệm này, Công Đồng được coi là đại diện cho Giáo Hội Công Giáo, nên mọi người phải tuân phục. Sau đó, Công Đồng đã chấp nhận sự từ nhiệm của một Giáo Hoàng và bãi nhiệm hai vị khác. Công Đồng cho tổ chức bầu vị Giáo Hoàng mới. Nhưng vì chỉ có 23 Hồng Y hiện diện, nên Công Đồng đã cử thêm 30 Giáo Mục thuộc 5 nước là Pháp, Anh, Đức, Ý và Tây Ban Nha tham gia bầu cử. Kết quả, Đức Hồng Y Otto Colonna, người Roma, đắc cử Giáo Hoàng, lấy tước hiệu là Martin V. Chuông các nhà thờ đã đổ vang liên hồi để đón mừng vị Giáo Hoàng mới và sự tái thống nhất Giáo Hội.

Dưới thời Napoléon, Giáo Hội Công Giáo lại một lần nữa bị chính quyền Pháp khống chế. Ngày 2.12.1808, Bonaparte chính thức lên ngôi Hoàng Đế. Đức Giáo Hoàng Piô VII đích thân đến Paris đặt vương niệm cho ông tại nhà thờ Notre Dame.

Nhưng sau khi lên ngôi, Napoléon có tham vọng nắm cả thế quyền lẫn giáo quyền, can thiệp vào mọi chuyện của Giáo Hội, nhất là dành quyền bổ nhiệm các Giám Mục. Đức Giáo Hoàng Piô VII đã ban hành Sắc Lệnh “Quam memoranda” ra án vạ tuyệt thông đối với Napoléon. Napoléon liền sai tướng Miollis đi bắt Đức Giáo Hoàng đem về giam ở Savona. Sau khi bắt giam, ông buộc Đức Giáo Hoàng phải cho phép ông ly dị Josephine để cưới Marie-Louise, nhưng Đức Giáo Hoàng từ chối. Sau đó, ông buộc việc bổ nhiệm các Giám Mục phải có sự chấp thuận của ông, giống hệt các chế độ cộng sản sau này, nhưng Đức Giáo Hoàng cũng không đồng ý. Năm 1811, ông liền triệu tập Công Đồng Tây Phương để yêu cầu đưa ra nghị quyết công nhận các quyết định của ông, nhưng Công Đồng cũng từ chối. Năm 1813, ông đưa Đức Giáo Hoàng về giam ở Fontainebleau và buộc ký một hiệp ước mới với Pháp, đồng ý những điều ông đòi hỏi. Lúc đó Đức Piô VII đã trên 70 tuổi và đau yếu, nên đã ký vào một hiệp ước được soạn sẵn. Tuy nhiên, sau khi nghe hai Đức Hồng Y Colsavi và Pacca trình bày lại về những sai lầm của hiệp ước này, ngày 23.3.1913 ngài đã ra tông thư tuyên bố hủy bỏ hiệp ước đã ký kết với Napoléon.

Vì những thất bại tại nhiều nơi, nhất là bị thua trận nặng nề ở Nga, Phổ, Tây Ban Nha và Thụy Điển, tháng 2 năm 1814, Napoléon đã phải phóng thích Đức Giáo Hoàng.

CÁCH BẦU GIÁO HOÀNG

Một số biến cố lịch sử trên sẽ giúp chúng ta hiểu được tại sao các Hồng Y thường chọn người Ý làm Giáo Hoàng và tại sao thủ tục bầu Giáo Hoàng đã được quy định khá phức tạp.

Trong những thế kỷ đầu, các vị Giáo Hoàng được chọn đến từ nhiều quốc gia khác nhau, chẳng hạn như: Các ĐGH Telesphorus (125 - 136), Higinus (136 - 140), Anticetus (155 - 166), Euleterius (175 - 189), Anterus (235 - 236)... đều là người Hy Lạp. Hai ĐGH Miltiades và Gelasius I là người Phi Châu. Các ĐGH Joannes V (685 - 686), Sergius I (687 - 701), Sisinnius (708), Constantinus (708 - 715)... là người Syria. Vào thế kỷ thứ 11, chúng ta thấy xuất hiện ĐGH Damasus (1048) và Victor II (1055 - 1057) là người Đức. Sau đó đến thời kỳ Giáo Hoàng người Pháp chiếm ưu thế như Urbanus II (1088 - 1099), Clemens IV (1265 - 1268), Innocems VI (1352 - 1362), Urbanus V (1362 - 1370), Gregorius Xi (1370 - 1371)... Nhưng nhìn chung, các Giáo Hoàng người Ý đã chiếm đa số.

Cách thức bầu Giáo Hoàng cũng thay đổi qua các thời đại. Năm 1179, Hồng Y Đoàn (College of Cardinals) là cơ cấu cao nhất trong Giáo Hội được thành lập để bầu Giáo Hoàng. Lúc đầu số Hồng Y trong Hồng Y Đoàn được giới hạn là 24 vị. ĐGH Phaolô IV (1555-1559) nâng lên 70 vị, tượng trưng cho 70 trưởng lão dân Do Thái ngày xưa.

Đến năm 1958, ĐGH Gioan XXIII tăng số Hồng Y lên 75 vị, và năm 1973 ĐGH Phaolô VI nâng lên 120 vị. Qua Tông Huấn Universi Dominici Gregis, ĐGH Gioan Phaolô II đã đưa tổng số Hồng Y có thể lên tới 180 vị. Chỉ các Hồng Y dưới 80 tuổi mới được dự Mật Viện (Conclave) để bầu Giáo Hoàng, nhưng số Hồng Y này sẽ không quá 120 vị.

Tổng số các Hồng Y hiện nay là 183 vị thuộc 66 quốc gia trên thế giới, nhưng chỉ có 117 vị dưới 80 tuổi là được tham dự Mật Viện để bầu Giáo Hoàng, chia ra như sau: 58 vị ở Âu Châu, 21 vị ở Châu Mỹ Latinh, 14 vị ở Bắc Mỹ, 11 vị ở Phi Châu, 11 ở Á Châu, và 2 vị ở Đại Dương Châu. Việt Nam hiện nay có hai Hồng Y là Phạm Đình Tụng 86 tuổi Phạm Minh Mẫn 71 tuổi, nên chỉ có ĐHY Phạm Minh Mẫn được bầu Giáo Hoàng mà thôi.

Thể thức bầu Giáo Hoàng hiện nay được ấn định do Sắc Lệnh “Romano Pontifici Eligendo” (Sắc Lệnh về Bầu Cử Giáo Hoàng Roma) do Đức Giáo Hoàng Phaolô VI ban hành năm 1975 được tu chỉnh và bổ túc bằng Tông Huấn “Universi Dominici Gregis” (Toàn Thể Đoàn Chiên Chúa) do ĐGH Gioan Phaolô II ký ban hành ngày 22.2.1996.

Theo hai văn kiện nói trên, khi Đức Giáo Hoàng qua đời, Đức Hồng Y Nhiếp Chính (Cardinal Camerlengo hay Cardinal chamberlain) có bổn phận chứng nhận cái chết của Đức Giáo Hoàng, lập giấy khai tử, đập vỡ Chiếc Nhẫn Ngư Phủ (Fisherman’s Ring) và Dấu Ấn Giáo Hoàng (Papal Seal) của vị Giáo Hoàng mới qua đời, rồi thông báo việc Đức Giáo Hoàng đã tạ thế.

Trong thời gian trống ngôi Giáo Hoàng, việc điều hành Giáo Hội và Phủ Tông Tòa sẽ do vị Hồng Y Nhiếp Chính, cùng với ba vị Hồng Y được chọn từ ba bậc Hồng Y Giám Mục, Hồng Y Linh Mục và Hồng Y Phó Tế phụ trách. Các vị này sẽ họp để lo lễ an táng Đức Giáo Hoàng, bầu Giáo Hoàng mới và lo các việc của Giáo Hội, nhưng không có quyền gì trong các vấn đề thuộc về Giáo Hoàng. Khi có những việc quan trọng, vị Nhiếp Chính sẽ triệu tập đaị hội các Hồng Y ở Rôma.

Trước đây, các Hồng Y được bầu Giáo Hoàng phải đến ở tại Điện Giáo Hoàng (Papal Palace) nối liền với Nguyện Đường Sistine, nơi diễn ra cuộc bầu cử. Đức Gioan Phaolô II quyết định từ nay các Hồng Y sẽ cư ngụ tại tòa nhà Domus Sanctae Marthae cách Nguyện Đường Sistine chừng 350 yards. Tòa nhà này có đủ tiện nghi hơn.

Năm 769, người được bầu Giáo Hoàng phải là một giáo sĩ. Sau đó, Công Đồng Lateran III họp năm 1179 cho phép chọn cả giáo dân làm Giáo Hoàng. Nhưng trong thực tế, năm 1378 ĐGH Urban VI được coi là vị Giáo Hoàng sau cùng không phải là Hồng Y. Nói cách khác, Hồng Y Đoàn thường bầu một Hồng Y làm Giáo Hoàng.

Luật lệ hiện hành cũng cho phép bầu một nam giáo dân làm Giáo Hoàng, với điều kiện người đó không phải là người chủ trương lạc thuyết (heretic), người ly giáo (schismatic) hay kẻ phạm tội mại thánh (simonist).

Các Hồng Y được quyền bầu phiếu phải bắt đầu cuộc bầu cử sớm nhất là 15 ngày và trễ nhất là 20 ngày kể từ khi Đức Giáo Hoàng tạ thế. Cuộc bầu cử chính thức bắt đầu bằng một Thánh Lễ buổi sáng tại Đền Thánh Phêrô để cầu xin Đức Chúa Thánh Thần soi sáng. Sau đó các Hồng Y đến Nguyện Đường Sistine, long trọng tuyên thệ tuân theo đúng luật lệ bầu cử, tôn trọng kết quả bầu cử, bênh vực và bảo vệ quyền lợi Giáo Hội, và “tuyệt đối giữ bí mật về tất cả mọi sự việc liên quan đến cuộc bầu cử Giáo Hoàng Roma”. Tiếp theo vào buổi chiều, các Hồng Y ngồi vào các ghế được kê chung quanh các bức tường của nguyện đường để bắt đầu vòng bầu phiếu lần thứ nhất.

Tông thư “Universi Dominici Gregis” ghi rõ: “cấm mọi hình thức can thiệp, chống đối hay gợi ý từ phía các thế lực trần thế thuộc bất kỳ đẳng cấp nào, hay từ phía bất cứ cá nhân hay nhóm người nào, mưu toan gây ảnh hưởng tới việc tuyển chọn giáo hoàng.”

Công Đồng Lateran III buộc muốn đắc cử Giáo Hoàng phải đạt được 2/3 tổng số phiếu bầu. Các Hồng Y không được tự bỏ phiếu cho mình. Năm 1945, ĐGH Piô XII đưa số phiếu đắc cử lên 2/3 cộng với 1 phiếu. Năm 1996 ĐGH John Paul II trở lại đòi hỏi tỷ lệ trúng cử chỉ là 2/3 tổng số phiếu mà thôi và không còn cấm các Hồng Y tự bầu cho chính mình nữa. Nếu sau hơn 7 lần bỏ phiếu mà vẫn bế tắc, Hồng Y Đoàn có thể giảm tỷ lệ bắt buộc xuống còn đa số tuyệt đối, tức chỉ cần 50% tổng số phiếu cộng thêm 1 phiếu là đủ.

Đức Hồng Y Nhiếp Chính điều hợp việc kiểm phiếu với ba vị phụ giúp. Từng phiếu bầu được lần lượt mở ra và đọc lớn tên người được ghi trên phiếu bầu để các Hồng Y cùng theo dõi kết quả. Vị nào đạt được 2/3 tổng số phiếu bầu, được tuyên bố đắc cử Giáo Hoàng. Tất cả các phiếu bầu cử và giấy tờ ghi chép của các Hồng Y đều được đốt bỏ ngay tại chỗ.

Nếu không có vị nào đắc cử trong vòng bầu phiếu thứ nhất, cuộc bầu cử được tiếp tục ngày hôm sau. Mỗi ngày bầu hai lần, một lần buổi sáng và một lần buổi chiều. Sau hai vòng bầu cử trong ngày, tất cả các phiếu bầu và giấy tờ ghi chép đều phải đốt bỏ. Các phiếu bầu được tẩm hóa chất để đốt ra khói màu đen, dấu hiệu cho thế giới bên ngoài biết là chưa bầu được Giáo Hoàng.

Nếu sau ba ngày bầu cử mà không đạt được kết quả nào, tiến trình bỏ phiếu có thể được tạm hoản một ngày để cầu nguyện. Sau đó, nếu sau hơn 7 lần bỏ phiếu mà vẫn không có kết quả, cũng có thể hoản bầu một ngày để cầu nguyện như thế.

Như đã nói trên, nếu sau hơn 7 lần bầu mà không có kết quả, Hồng Y Đoàn có thể giảm bớt tỷ lệ đắc cử xuống chỉ còn đa số tuyệt đối, từc chỉ cần 50% cộng 1 phiếu là đủ. Hồng Y Đoàn cũng có thể chỉ giữ lại hai vị có phiếu cao nhất trong lần bỏ phiếu trước đó để họ có thể nhận được số phiếu lớn hơn trong lần bầu cử tới.

Khi một vị có được số phiếu bầu đòi hỏi, vị Trưởng Hồng Y Đoàn sẽ đến hỏi rằng ngài có chấp nhận việc các Hồng Y bầu ngài làm Giáo Hoàng hay không, và nếu chấp nhận ngài lấy danh hiệu Giáo Hoàng gì. Nếu người được đắc cử chấp nhận, lập tức ngài trở thành Giám Mục Giáo Phận Rôma và là Giáo Hoàng đứng đầu Giáo Hội Công Giáo toàn cầu. Cuộc bầu cử chấm dứt tại đây.

Theo truyền thống, các phiếu bầu và các giấy tờ ghi chép vòng bầu cuối cùng có tẩm chất hóa học tạo thành khói trắng được đốt lên để thông báo cho thế giới biết Giáo Hội đã có Giáo Hoàng.

Vì có lần, mặc dầu các phiếu bầu và giấy tờ đã được tẩm hóa chất để đốt ra máu trắng, nhưng khi đốt vẫn ra màu pha đen trắng không rõ ràng, nên Hồng Y Đoàn đã quyết định khi có vị đắc cử Giáo Hoàng, sẽ vừa đốt khói trắng vừa cho đổ chuông Đền Thờ Thánh Phêrô.

Sau đó vị Giáo Hoàng vừa đắc cử ra mắt dân thành Rôma và toàn thế giới. Vị Hồng Y niên trưởng long trọng bố cáo nguyên văn tiếng La-tinh như sau:

Annuntio vobis gaudium magnum. Habemus papam! Eminentissimum ac Reverendissimus Dominum, Dominum Sanctae Romanae Ecclesiae Cardinalem qui sibi nomen imposuit.”

(Tôi loan báo cho anh chị em một tin mừng trọng đại. Chúng ta đã có Giáo Hoàng! Thầy rất đáng kính và rất đáng quý trọng là Hồng Y của Giáo Hội Rôma quý danh là... Ngài đã chọn cho mình danh hiệu là [danh hiệu Giáo Hoàng mới]).

Sau đó, Đức Tân Giáo Hoàng xuất hiện trước Hành Lang Phép Lành (Hall of Benedictions) nơi tầng trên của Mặt Tiền Đường Đền Thờ Thánh Phêrô, ban phép lành đầu tiên được gọi là phép lành cho thành phố Roma và toàn thế giới (Urbi et Orbi).

CHUYỆN GIỮA ÔNG CỰU VÀ ÔNG TÂN

Theo tài liệu thống kê, số người theo Thiên Chúa Giáo trên thế giới hiện nay là 2 tỷ 070 triệu người, trong đó Công Giáo chiếm 1 tỷ 093 triệu tín đồ. Tại Hoa Kỳ, số người theo Thiên Chúa Giáo lên đến từ 82% đến 84% dân số, trong đó Tin Lành chiếm đến 56%, còn Công Giáo khoảng 27% (66.407.105 tín đồ). Tuy nhiên, các nhà chiến thuật của Đảng Cộng Hòa thấy rằng Tin Lành tuy đông, nhưng bị phân tán mỏng, nên rất khó vận động. Công Giáo tuy ít hơn nhưng được tổ chức chặt chẽ nên vận động dễ hơn. Vì thế, vấn đề tranh thủ nhân tâm của người công giáo Hoa Kỳ đang được cả hai đảng quan tâm.

Hôm 8.4.2005, sau khi tham dự tang lễ của ĐGH John Paul II trở về, Tồng Thống Bush cho biết: Tham dự lễ tang của Đức Giáo Hoàng Gioan Phao Lồ Đệ Nhị là “Một trong những điểm nổi bật của đời tổng thống của tôi.” Đồng thời ông nói rõ rằng ông bất đồng với cựu Tổng Thống Clinton khi cưu tổng thống cho rằng sự nghiệp của Đức Giáo Hoàng có nhiều giá trị trái ngược.

Trong lúc chiếc Đệ Nhất Phi Cơ bay từ Rome trở về Hoa Kỳ, ông Bush tuyên bố: “Tôi nghĩ ĐGH Gioan Phaolồ II sẽ để lại một sự nghiệp rõ ràng về hòa bình, vị tha, và một sự nghiệp vững chắc về đường lối luân lý rõ ràng.”

Trong khi đó, trên đường bay đến Rome để dự tang lễ, ông Clinton cho biết: ĐGH Gioan Phaolô II “có thể để lại một sự nghiệp có những giá trị trái ngược.” Nhưng ông đã gọi ngài là người có một cảm nghiệm vĩ đại về nhân phẩm. Ông nói, “Sẽ có nhiều cuộc thảo luận về ngài. Nhưng xét cân đối, ngài là con người của Thiên Chúa, ngài là một người trước sau như một, ngài làm những gì ngài nghĩ là đúng. Đó là tất cả những gì chúng ta có thể mong đợi nơi bất cứ một con người nào.”

Khi ở Roma, trong chốn riêng tư, ông Bush đã đi xa hơn, ông nói việc dự tang lễ này đã củng cố niềm tin của ông vào một “Thiên Chúa Hằng Sống.” Ông cho biết ông rất cảm động về các nghi thức, về thánh nhạc, và về hình ảnh một quan tài đơn sơ được khiêng vào có ánh nắng chiếu rọi. Trong khi nhìn thi hài Đức Giáo Hoàng, ông cảm thấy “rất được bình yên” và “hiệp thông nhiều hơn với tinh thần của ngài.” Ông cho biết thêm: “Tôi biết lễ nghi hôm nay sẽ huy hoàng, nhưng tôi không nhận thức được là tôi đã bị xúc động đến thế vì lễ nghi này. Lễ nghi hôm nay, tôi đánh cá với quí vị, sẽ là sự tái xác quyết cho hàng triệu người. Trong đầu óc tôi không còn nghi ngờ gì về việc Chúa Kitô đã được Thiên Chúa Toàn Năng sai đến. Không nghi ngờ gì nữa.”

Theo ông Bush, việc dự lễ tang đã giúp ông nhớ lại rằng đức tin là một tiến trình lâu dài. Ông nói: “Đức tin, đó là một lối đi, một hành trình, chứ không phải một lúc, một sự nghỉ ngơi.”

Hiện nay, đảng Dân Chủ đang bị kẹt vì chủ trương tục hóa (secularism) mà các nhà lãnh đạo của đảng này đã đưa ra từ lâu. Những nhà lãnh đạo này tin rằng cứ làm mất dần ý thức tôn giáo nơi cử tri, họ sẽ không còn chịu ảnh hưởng đường lối của Giáo Hội nữa. Hiện tượng khuyến khích và đề cao lối sống buông theo tình dục một cách bừa bãi, khuyến khích phá thai, đòi đồng hóa đồng tính luyến ái với hôn nhân truyền thồng... đều nằm trong chủ trương này. Tuy nhiên, cuộc bầu cử vừa qua cho thấy chủ trương này đã đưa đảng Dân Chủ đến thảm bại nên cần được điều chỉnh lại. Điều chỉnh như thế nào thì đang tranh luận. Trong thực tế người ta thấy các nhà lãnh đạo đảng Dân Chủ không còn cho đẩy mạnh phong trào đòi đồng hóa hôn nhân đồng tính với hôn nhân truyền thống như trước cuộc bầu cử nữa.

Hiện nay, nhiều sự dự đoán về người sẽ được chọn kế vị ĐGH Gioan Phaolô II, gồm toàn những Hồng Y nổi tiếng, chẳng hạn như: ĐHY Joseph Ratzinger sinh năm 1927 tại Đức; ĐHY Christoph Schonborn sinh năm 1945 tại Tiệp Khắc; Đức Hồng Y Cláudio Hummes sinh năm 1934 tại Brazil; ĐHY Dionigi Tettamanzi sinh năm 1934 tại Ý; ĐHY Francis Arinze sinh năm 1932 tại Nigeria; Đức Hồng Y Angelo Scola sinh năm 1941 tại Ý, v.v.

Nhưng những sự dự đoán như thế này ít khi đúng, vì “vị Ngôn Sứ được sai đến” thường không theo chiều hướng của các suy nghĩ thông thường.