Một giải thưởng hòa bình cho ĐTC Gioan Phaolô II?
Thật là tốt đẹp, nhưng không phải là điều lạ, khi một vị lãnh đạo tinh thần được ca tụng là người đạo đức thánh thiện, bảo vệ đức tin và luân thường đạo lý. Những đặc điểm này vốn là điều người ta trông đợi nơi một vị lãnh đạo tinh thần nói chung, cách riêng là nơi một vị chủ chăn Công Giáo.
Điều đáng nói về ĐTC Gioan Phaolô II là người ta không chỉ nhận ra ngài là một nhà lãnh đạo tinh thần đạo đức mà còn thấy nơi ngài hình ảnh một triết gia sâu sắc, một nhà truyền thông thu hút, một chính trị gia ngoại hạng, một nhà ngoại giao xuất sắc. Người ta không chỉ ghi nhận việc ngài rao giảng Tin Mừng ở 133 quốc gia trong 104 chuyến công du ở bên ngoài Vatican và Italia, mà còn nhìn nhận nỗ lực của ngài khi tranh đấu cho tự do, nhân quyền, công lý, hòa bình, phát triển. Vì vậy mà lễ an táng của ngài đã có hằng triệu người tham dự thuộc đủ mọi thành phần và quốc gia, trong đó có khoảng 200 nhà lãnh đạo của trên 100 nước và đại diện các tôn giáo. Vì vậy mà phương tiện truyền thông của cả các nước Hồi Giáo cũng chú ý và loan tin với sự kính trọng đặc biệt.
Để diễn tả một cách bao quát hơn về ngài, có lẽ những danh hiệu sau đây, mà giới truyền thông nhắc đến, là thích hợp hơn cả: người mang lại hy vọng, người thay đổi lịch sử, vị giáo hoàng của quần chúng, vị giáo hoàng phi thường.
Trong số các danh hiệu của ngài, có một danh hiệu đáng chú ý vì nói lên được ảnh hưởng quan trọng của ngài đối với nhân loại: người xây dựng hòa bình. Thực vậy, ngài đã không ngừng giảng dạy về hòa bình, cổ võ hòa bình ở vùng Trung Đông, Bắc Ái Nhĩ Lan, Yugoslavia, Rwanda và các nơi khác qua sự đối thoại, hòa giải, bất bạo động. Ngay cả trong việc giành lại tự do ở Ba Lan, dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu và Liên Bang Xô Viết, ngài cương quyết không dùng bạo lực, nhưng tìm cách gây ý thức về phẩm giá con người, từ đó đã thôi thúc toàn dân Ba Lan đồng lòng đòi tự do và nhân quyền, góp phần quan trọng vào sự suy sụp nhanh chóng của chế độ cộng sản mà không tốn một giọt máu, không cần đến một viên đạn. Trong di chúc mà ngài để lại, Đức Thánh Cha tạ ơn Thiên Chúa vì đã không xảy ra một trận chiến nguyên tử khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc.
Gương mẫu và hoạt động cho hòa bình của Đức Thánh Cha được ghi nhận trong cảm tưởng của nhiều nhà lãnh đạo các nước:
Trong những năm gần đây ĐTC Gioan Phaolô II lại nhắc đến một yếu tố mới: phát triển. Ngài nói rằng tên gọi mới của hòa bình là phát triển, có nghĩa là khi người ta phải sống quá nghèo đói một cách bất công thì sẽ khó mà có hòa bình.
Hoạt động cho hòa bình của ĐTC Gioan Phaolô II đến từ chính kinh nghiệm bản thân của ngài là người phải trải qua Thế Chiến II với những tàn phá kinh hoàng, với những sự tàn bạo của Đức Quốc Xã, rồi sau đó là những thập niên bị áp bức dưới chế độ Cộng Sản. Hoạt động cho hòa bình của ngài cũng đến từ những điều mắt thấy tai nghe khi ngài đi thăm viếng 133 quốc gia, trong đó có nhiều nơi phải sống trong loạn lạc vì chiến tranh, xung đột hoặc khủng bố như vùng Trung Đông, Bắc Ái Nhĩ Lan, và nhiều quốc gia khác.
Hoạt động cho hòa bình của ngài cũng bao gồm nỗ lực hòa giải giữa các Kitô hữu thuộc Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành, và cả sự hòa hợp với các tôn giáo bạn như Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo, v.v. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đã viếng một hội đường Do Thái (ở Roma, Italia) và một đền Hồi Giáo (ở Damascus, Syria). Ngài là người đã có sáng kiến mời gọi, quy tụ các tôn giáo về Assisi, quê hương Thánh Phanxicô, để cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Không lạ gì mà hiện nay Tòa Thánh có quan hệ ngoại giao với 174 quốc gia, cộng thêm 24 đại diện thường trực của Tòa Thánh ở Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác. Khi ngài bắt đầu làm giáo hoàng, Tòa Thánh chỉ có quan hệ ngoại giao với 89 quốc gia ở cấp khâm sứ, đại sứ, và 21 ở cấp đặc sứ. Riêng Hoa Kỳ thì thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh vào năm 1984.
Dù ĐTC Gioan Phaolô II liên tục hoạt động cho hòa bình và đã bao nhiêu lần có nhiều nhóm đề nghị trao giải hòa bình Nobel cho ngài, ủy ban Nobel ở Oslo vẫn từ chối. Theo báo Corriere della Sera của Ý và một số giới, đó là vì vị giám mục Lutheran của Oslo là Gunnar Stalsett, thuộc ủy ban Nobel, đã liên tục chống lại việc trao giải hòa bình cho ĐTC vì vị giám mục này cho rằng ngài là người bảo thủ, đặc biệt về các phương pháp ngừa thai. Một lý do nữa là vì đối với các nữ thành viên của ủy ban Nobel, họ không chấp nhận lập trường của ngài về phá thai, ngừa thai, về vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội và về vấn đề đồng tính luyến ái.
Tuy nhiên, theo những nhận xét nói trên của nhiều nguyên thủ quốc gia và quốc tế, cũng như qua sự kính trọng của nhiều nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, và nhất là lòng ngưỡng mộ chân thành của hằng trăm triệu người trên thế giới không phân biệt chủng tộc và tôn giáo, chúng ta có thể nói ĐTC Gioan Phaolô II thực sự là người xây dựng hòa bình, hòa giải, mang các dân tộc và tôn giáo lại gần nhau.
Một điều gây kinh ngạc tại buổi lễ an táng của ngài là - ngoài số người tham dự lên đến ba, bốn triệu người - người ta thấy một số kẻ thù không đội trời chung đã bắt tay nhau: Tổng Thống Do Thái Moshe Katsev và Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria bắt tay nhau khi lễ an táng bắt đầu với nụ cười, và lại bắt tay nhau một lần nữa trong phần chúc bình an. Tổng Thống Do Thái cũng bắt tay Tổng Thống Iran, ông Mohamed Khatami, và nói “chúc bình an cho ông.” Phải chăng tinh thần hòa bình bắt nguồn từ cõi lòng ĐTC Gioan Phaolô II và không khí đầm ấm của buổi lễ quy tụ mọi thành phần trên thế giới đã mang lại những cái bắt tay hy hữu này? Tất nhiên, những cái bắt tay này chỉ là một thoáng chóng qua và rồi có lẽ đâu lại vào đó, nhưng đây vẫn là một dấu hiệu đáng mừng. Ít ra là cũng có một lúc, những kẻ thù tạm quên đi những xung khắc và bắt tay nhau như những con người.
Tuy ĐTC Gioan Phaolô II không nhận được một giải Nobel về hòa bình - bao gồm một bằng tuyên dương, một huy chương vàng, và một số tiền tương đương với 1 triệu 400 ngàn đô-la - lòng kính trọng và ngưỡng mộ từ đám đông thuộc mọi thành phần ở Roma cũng như trên toàn thế giới, và ảnh hưởng của ngài đối với việc xây dựng hòa bình, hòa giải, hiệp nhất trên thế giới đã là giải thưởng cao quý nhất về hòa bình. “Phúc thay những ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa” (Mt 5:9).
Thật là tốt đẹp, nhưng không phải là điều lạ, khi một vị lãnh đạo tinh thần được ca tụng là người đạo đức thánh thiện, bảo vệ đức tin và luân thường đạo lý. Những đặc điểm này vốn là điều người ta trông đợi nơi một vị lãnh đạo tinh thần nói chung, cách riêng là nơi một vị chủ chăn Công Giáo.
Điều đáng nói về ĐTC Gioan Phaolô II là người ta không chỉ nhận ra ngài là một nhà lãnh đạo tinh thần đạo đức mà còn thấy nơi ngài hình ảnh một triết gia sâu sắc, một nhà truyền thông thu hút, một chính trị gia ngoại hạng, một nhà ngoại giao xuất sắc. Người ta không chỉ ghi nhận việc ngài rao giảng Tin Mừng ở 133 quốc gia trong 104 chuyến công du ở bên ngoài Vatican và Italia, mà còn nhìn nhận nỗ lực của ngài khi tranh đấu cho tự do, nhân quyền, công lý, hòa bình, phát triển. Vì vậy mà lễ an táng của ngài đã có hằng triệu người tham dự thuộc đủ mọi thành phần và quốc gia, trong đó có khoảng 200 nhà lãnh đạo của trên 100 nước và đại diện các tôn giáo. Vì vậy mà phương tiện truyền thông của cả các nước Hồi Giáo cũng chú ý và loan tin với sự kính trọng đặc biệt.
Để diễn tả một cách bao quát hơn về ngài, có lẽ những danh hiệu sau đây, mà giới truyền thông nhắc đến, là thích hợp hơn cả: người mang lại hy vọng, người thay đổi lịch sử, vị giáo hoàng của quần chúng, vị giáo hoàng phi thường.
Trong số các danh hiệu của ngài, có một danh hiệu đáng chú ý vì nói lên được ảnh hưởng quan trọng của ngài đối với nhân loại: người xây dựng hòa bình. Thực vậy, ngài đã không ngừng giảng dạy về hòa bình, cổ võ hòa bình ở vùng Trung Đông, Bắc Ái Nhĩ Lan, Yugoslavia, Rwanda và các nơi khác qua sự đối thoại, hòa giải, bất bạo động. Ngay cả trong việc giành lại tự do ở Ba Lan, dẫn đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản ở Đông Âu và Liên Bang Xô Viết, ngài cương quyết không dùng bạo lực, nhưng tìm cách gây ý thức về phẩm giá con người, từ đó đã thôi thúc toàn dân Ba Lan đồng lòng đòi tự do và nhân quyền, góp phần quan trọng vào sự suy sụp nhanh chóng của chế độ cộng sản mà không tốn một giọt máu, không cần đến một viên đạn. Trong di chúc mà ngài để lại, Đức Thánh Cha tạ ơn Thiên Chúa vì đã không xảy ra một trận chiến nguyên tử khi cuộc chiến tranh lạnh kết thúc.
Gương mẫu và hoạt động cho hòa bình của Đức Thánh Cha được ghi nhận trong cảm tưởng của nhiều nhà lãnh đạo các nước:
- - Tổng thống Ý Ciampi gọi ngài là tông đồ hòa bình.
- - Thủ tướng Đức Schroder ghi nhận ảnh hưởng của ngài trong việc hợp nhất Âu Châu trong hòa bình.
- - Lãnh tụ Abbas của dân Palestine ca tụng ngài là người bảo vệ giá trị hòa bình.
- - Nhà lãnh đạo Fidel Castro của Cuba nói rằng nhân loại sẽ ghi nhớ những hoạt động không mệt mỏi cho hòa bình của ngài.
- - Tổng thống Ấn Độ Kalam gọi ngài là chiến sĩ xây dựng hòa bình và hòa hợp thế giới.
- - Tổng thống Uribe của Colombia ca tụng ngài là mẫu mực về hòa bình.
- - Tổng thống Musharraf của Pakistan ghi nhận rằng ngài đã phụng sự hoà bình một cách ngoại thường.
- - Tổng thống Klaus của Cộng Hòa Czech ca ngợi ngài là một trong những nhân vật ngoại hạng của thế kỷ XX vì những hoạt động cho hòa bình và nhiều lãnh vực khác.
- - Chủ tịch Cộng Đồng Âu Châu nói rằng dân Âu Châu sẽ không bao giờ quên cuộc tranh đấu của ngài cho hòa bình.
- - Ông Kofi Annan, tổng thư ký Liên Hiệp Quốc, nhìn nhận ngài không chỉ là nhà lãnh đạo tinh thần cho hơn một tỉ người mà còn là một người không mệt mỏi trong việc cổ võ hòa bình và đối thoại.
Trong những năm gần đây ĐTC Gioan Phaolô II lại nhắc đến một yếu tố mới: phát triển. Ngài nói rằng tên gọi mới của hòa bình là phát triển, có nghĩa là khi người ta phải sống quá nghèo đói một cách bất công thì sẽ khó mà có hòa bình.
Hoạt động cho hòa bình của ĐTC Gioan Phaolô II đến từ chính kinh nghiệm bản thân của ngài là người phải trải qua Thế Chiến II với những tàn phá kinh hoàng, với những sự tàn bạo của Đức Quốc Xã, rồi sau đó là những thập niên bị áp bức dưới chế độ Cộng Sản. Hoạt động cho hòa bình của ngài cũng đến từ những điều mắt thấy tai nghe khi ngài đi thăm viếng 133 quốc gia, trong đó có nhiều nơi phải sống trong loạn lạc vì chiến tranh, xung đột hoặc khủng bố như vùng Trung Đông, Bắc Ái Nhĩ Lan, và nhiều quốc gia khác.
Hoạt động cho hòa bình của ngài cũng bao gồm nỗ lực hòa giải giữa các Kitô hữu thuộc Công Giáo, Chính Thống Giáo, Tin Lành, và cả sự hòa hợp với các tôn giáo bạn như Do Thái Giáo, Hồi Giáo, Ấn Giáo, Phật Giáo, v.v. Ngài là vị giáo hoàng đầu tiên đã viếng một hội đường Do Thái (ở Roma, Italia) và một đền Hồi Giáo (ở Damascus, Syria). Ngài là người đã có sáng kiến mời gọi, quy tụ các tôn giáo về Assisi, quê hương Thánh Phanxicô, để cầu nguyện cho hòa bình thế giới. Không lạ gì mà hiện nay Tòa Thánh có quan hệ ngoại giao với 174 quốc gia, cộng thêm 24 đại diện thường trực của Tòa Thánh ở Liên Hiệp Quốc và các tổ chức khác. Khi ngài bắt đầu làm giáo hoàng, Tòa Thánh chỉ có quan hệ ngoại giao với 89 quốc gia ở cấp khâm sứ, đại sứ, và 21 ở cấp đặc sứ. Riêng Hoa Kỳ thì thiết lập quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh vào năm 1984.
Dù ĐTC Gioan Phaolô II liên tục hoạt động cho hòa bình và đã bao nhiêu lần có nhiều nhóm đề nghị trao giải hòa bình Nobel cho ngài, ủy ban Nobel ở Oslo vẫn từ chối. Theo báo Corriere della Sera của Ý và một số giới, đó là vì vị giám mục Lutheran của Oslo là Gunnar Stalsett, thuộc ủy ban Nobel, đã liên tục chống lại việc trao giải hòa bình cho ĐTC vì vị giám mục này cho rằng ngài là người bảo thủ, đặc biệt về các phương pháp ngừa thai. Một lý do nữa là vì đối với các nữ thành viên của ủy ban Nobel, họ không chấp nhận lập trường của ngài về phá thai, ngừa thai, về vai trò của phụ nữ trong Giáo Hội và về vấn đề đồng tính luyến ái.
Tuy nhiên, theo những nhận xét nói trên của nhiều nguyên thủ quốc gia và quốc tế, cũng như qua sự kính trọng của nhiều nhà lãnh đạo tinh thần các tôn giáo, và nhất là lòng ngưỡng mộ chân thành của hằng trăm triệu người trên thế giới không phân biệt chủng tộc và tôn giáo, chúng ta có thể nói ĐTC Gioan Phaolô II thực sự là người xây dựng hòa bình, hòa giải, mang các dân tộc và tôn giáo lại gần nhau.
Một điều gây kinh ngạc tại buổi lễ an táng của ngài là - ngoài số người tham dự lên đến ba, bốn triệu người - người ta thấy một số kẻ thù không đội trời chung đã bắt tay nhau: Tổng Thống Do Thái Moshe Katsev và Tổng Thống Bashar al-Assad của Syria bắt tay nhau khi lễ an táng bắt đầu với nụ cười, và lại bắt tay nhau một lần nữa trong phần chúc bình an. Tổng Thống Do Thái cũng bắt tay Tổng Thống Iran, ông Mohamed Khatami, và nói “chúc bình an cho ông.” Phải chăng tinh thần hòa bình bắt nguồn từ cõi lòng ĐTC Gioan Phaolô II và không khí đầm ấm của buổi lễ quy tụ mọi thành phần trên thế giới đã mang lại những cái bắt tay hy hữu này? Tất nhiên, những cái bắt tay này chỉ là một thoáng chóng qua và rồi có lẽ đâu lại vào đó, nhưng đây vẫn là một dấu hiệu đáng mừng. Ít ra là cũng có một lúc, những kẻ thù tạm quên đi những xung khắc và bắt tay nhau như những con người.
Tuy ĐTC Gioan Phaolô II không nhận được một giải Nobel về hòa bình - bao gồm một bằng tuyên dương, một huy chương vàng, và một số tiền tương đương với 1 triệu 400 ngàn đô-la - lòng kính trọng và ngưỡng mộ từ đám đông thuộc mọi thành phần ở Roma cũng như trên toàn thế giới, và ảnh hưởng của ngài đối với việc xây dựng hòa bình, hòa giải, hiệp nhất trên thế giới đã là giải thưởng cao quý nhất về hòa bình. “Phúc thay những ai xây dựng hòa bình, vì họ sẽ được gọi là con cái Thiên Chúa” (Mt 5:9).