Nghĩa vụ quân dịch chính là ơn gọi về lòng bác ái và công lý

LTS: Bài này được viết bởi nữ tác giả Judy McCloskey và được lưu trữ trên trang web: www.catholicMil.org

Trong số những đống giấy tờ nằm chồng chất, ngổn ngang trên bàn viết của tôi, là một phần trích đoạn từ một nguồn không rõ tên, được đọc là: “Các vị Thánh chính là những chiến binh, và những chiến binh lại là những vị Thánh?” Đối với tôi, đúng là mâu thuẩn, nhưng thậm chí đối với nhiều người, nó lại chính là điều vô l‎ý‎ nữa là đằng khác. Dẫu thế, nó hoàn toàn thích hợp và đúng với sự tiền định của Thiên Chúa.

Nhà tư tưởng vĩ đại về các vấn đề có liên quan đến chiến tranh lẫn hòa bình chính là Thánh Tôma thành Aquinas… Thật là lý thú khi nghe vị Thánh này nói, và những nơi mà Ngài nói. Khi Ngài viết về cuộc chiến chính nghĩa và một chiến binh xứng đáng, gương mẫu, Ngài không viết nó dựa trên những giáo trình hay luận án dựa trên công lý không thôi đâu mà bài viết của Ngài còn chú tâm về lòng bác ái. Sự hiểu biết sâu sắc của Ngài quả là rất thâm thúy và nhạy bén.

Khi nói về nghĩa vụ quân dịch như là một ơn gọi về lòng bác ái, rõ ràng là ai nấy trong chúng ta cũng đều phân vân với cụm từ ấy. Thế nhưng, sự thật, nó là như vậy. Nghĩa vụ quân dịch đích thực chính là một đức tín, thuộc vào những đức tín của lòng bác ái và công lý. Như Đức Cố Giáo Hoàng Phaolô Đệ Lục đã từng nói rằng: “Nếu bạn mong muốn có được sự hòa bình, thì hãy bạn hãy làm việc cho công lý!”

Công l‎ý tự bản chất của nó chính là đức tín, là sự đạo đức có sức thúc đẩy mọi thành viên trong quân ngũ, để họ luôn biết vững lòng trấn giữ yên cương, bờ cõi, gìn giữ hòa bình. Và cũng tương tự như thế, nghĩa vụ quân dịch cũng chính là ơn gọi về lòng bác ái, vì lẽ “không có tình yêu nào lớn hơn tình yêu của người hiến mạng sống mình cho người khác.” Cho dẫu là người chiến binh đó có hy sinh đến giờ phút chót hay không, thì bất kỳ ai mang trong mình bộ quân phục của quốc gia cũng đều luôn sẵn lòng, sẵn chí để hiến mạng sống của riêng mình cho những người khác, và tất cả các thành viên trong gia đình của những người binh sĩ ấy cũng đều luôn trung tín, nguyện cầu cho người thân yêu được bình yên trở về lại miền hậu phương, từ nơi tiền tuyến xa xăm cháy bỏng.

Thế nghĩa vụ quân dịch được định nghĩa như thế nào trong ánh sáng của đức tin Công Giáo trong thời đại ngày nay? Theo Giáo L‎ý số 2310 của Giáo Hội Công Giáo: “Những ai đã thệ hứa là sẽ phục vụ quốc gia trong lực lượng vũ trang (armed forces), thì họ chính là những người tôi trung về sự an toàn và tự do của các quốc gia. Nếu họ thi hành nghĩa vụ của họ trong danh dự, thì họ đã thật sự đóng góp vào sự phát triển tốt đẹp chung của quốc gia và sự bảo tồn nền hòa bình thế giới.” Ơn gọi đích thực, và đúng đắn của việc phục vụ quân dịch chính là ơn gọi của người kiến tạo ra nền hòa bình. Chính bản thân Thiên Chúa, trong những Điều Dạy về các Mối Phúc Thật của Ngài, cũng đã từng nói: “Phúc thay cho những ai kiến tạo hòa bình, vì họ sẽ là con cái của Thiên Chúa.” (Sách Máthêu, chương 5, câu 9).

Việc những người kiến tạo hòa bình được liệt kê trong tất cả các Mối Phúc Thật đáng được chúng ta phải chú trọng tới, vì lẽ, những Mối Phúc Thật ấy chính là cách để mang lại niềm hy vọng, bằng không thì không có gì cả. Phúc Thay những ai nghèo nàn. Phúc thay những ai than khóc. Phúc thay những ai bị hành quyết. Hầu hết mọi người trong chúng ta đều cầu nguyện kính xin Thiên Chúa ban cho chúng ta và những người thân yêu của chúng ta có được sự giàu có về vật chất, được sống lâu triệu tuổi, và được sự tự do, thế nhưng Thiên Chúa lại nói với chúng ta rằng, những nổi gian truân, thống khổ, cùng cực chính là những cách để chúng ta nhận được sự chúc phúc của Thiên Chúa. Thoạt đầu, nó trông có vẽ là kỳ lạ, rằng “những người kiến tạo hòa bình” chẳng may cũng sẽ bị giống như những người nghèo, những người than khóc, và những người bị hành quyết. Đặc biệt là đối với những ai trong chúng ta còn nhớ về những k‎ý ức của các thập niên 60 và 70, vì vào thời kỳ đó có quá nhiều những nhà kiến tạo hòa bình, như là chúng ta đã từng nhớ lại, chính là những người để tóc rất dài, đầu đội bông hoa, mặc áo vải nhuộm màu, theo cách hippi (cách lập dị trong xã hội), họ lấn chiếm trọn cả một thời đại. Và còn rất nhiều nữa!

Vào ngày 1 tháng giêng năm 2002, nhân ngày Thế Giới Hòa Bình, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị nói: “Tiếng nói đang khóc than, khốn khổ trong vùng hoan vu của thời đại ngày nay nói lên được ý nghĩa thật sự của một nhà kiến tạo hòa bình.” Qua bài diễn văn của Ngài có tiêu đề: “Không Có Hòa Bình Thì Sẽ Không Có Công Lý, Không Có Công Lý Thì Sẽ Không Có Sự Tha Thứ,” chúng ta đã tìm được những câu trả lời, chỉ bằng một cách rất giản đơn là đảo ngược các từ ngữ trong tiêu đề về thông điệp của Ngài, để qua đó, chúng ta khám phá ra được trật tự nào sẽ dẫn đến sự hòa bình. Trước tiên, chính là sự tha thứ, là điều kiện tiên quyết để có được công l‎ý. Chúng ta hãy dừng lại và suy gẫm một chút về điều này, về đất nước của chúng ta, đặc biệt là những thành viên trong lực lượng vũ trang của Hoa Kỳ, vì lẽ, họ chính là người được gọi mời để tha thứ cho những: nhà bạo chúa, cho những tên khủng bố, cho những tên cộng sản, vân vân).

Đức Thánh Cha cũng đã nhanh chóng viết rằng: “Tha thứ không phải là cách để chống đối lại công lý. Tha thứ không những là việc bỏ qua những sai sót, lầm lỗi, cho một việc làm chính đáng, lẽ phải. Mà nó còn là một sự tha thứ để mang đến công lý trọn vẹn, để dẩn đến sự yên tĩnh, thanh bình trường cữu chứ không phải là một sự ngừng chiến tạm thời. Tha thứ cũng bao gồm luôn cả việc chữa lành cho những vết thương nhức nhối vốn làm ray rứt các con tim nhân loại. Công lý và sự tha thứ chính là những phương cách để chữa lành cho những vết thương như vậy.” Một người kiến tạo hòa bình đích thực, là người luôn biết tha thứ và mang đến công l‎ý như là điều cốt lõi trong chính trái tim của người ấy. Thế nhưng mức độ của việc tha thứ và sự công bằng-vì hòa bình chung cho tất cả mọi người, lại tùy thuộc vào lực lượng quân sự của chúng ta, và nó chẳng đòi hỏi gì khác hơn là một đức tín anh dũng vượt xa hơn tất cả những gì mà con người có thể. Thế làm sao để họ có thể vượt cao, và vượt xa hơn không những với những mong muốn thuần túy của con người mà còn có thể trở thành những khí cụ đích thực cho nền hòa bình và công l‎ý?

Thưa, là vì họ đã tuyên thệ. Trước khi gia nhập vào quân ngũ, tất cả mọi người đều phải tuyên thệ. Tại sao vậy? Thưa, là để họ “thi hành sứ vụ quân sự được trao phó cho họ trong danh dự,” và cũng vì một lẽ giản đơn rằng: nghĩa vụ quân dịch được ngầm hiểu như là một sứ vụ không thể nào thực thi được bởi sức lực của con người. Thế nhưng, đó lại là một sứ vụ được hy vọng, với sự trợ giúp của Thiên Chúa qua các ơn sủng của Ngài, để nghĩa vụ quân sự danh dự đó được hoàn thành thông qua Ngài, vì chỉ có qua Ngài “mọi chuyện không thể sẽ trở nên có thể.” Việc thi hành quân dịch, lẫn việc thi hành những nghĩa vụ đó trong danh dự, không chì là một nghĩa vụ, mà nó còn là một điều gì đó không thể thực hiện được bởi sức lực của con người, vì lẽ, làm sao mà có thể tin tưởng vào một cây súng trường M-16, một oanh tạc cơ hay một chiếc xe tăng thiết giáp để đi tìm quân thù rửa hận, hơn là một sự tha thứ và công bằng đích thực để dẫn đến hòa bình? Vâng, sức người có thể làm được như vậy.

Thế nhưng sự đáp trả của con người phải cần được cất cao giọng lên, để hướng đến một lời đáp trả siêu phàm, và chính vì thế, việc tuyên thệ chính là hành động gọi kêu Thiên Chúa xuống để làm chứng gián và hổ trợ. “Vì thế, nguyện xin Thiên Chúa hãy giúp con!” Khi tên của Thiên Chúa được cầu khẩn thông qua lời tuyên thệ, thì toàn cả Vương Triều của Thiên Chúa được đánh động, có nghĩa là lời khẩn cầu ấy liền lên tới Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để mong các Ngài ra tay cứu giúp. Bằng việc đọc lên lời tuyên thệ, Thiên Chúa sẽ cứ mãi “hiện diện để giúp đỡ người ấy” (Sách Thánh Vịnh, chương 46, câu 1) trong suốt cuộc đời binh ngũ của người tuyên thệ. Việc đọc lên lời tuyên thệ là để cho phép các binh sĩ có thêm được “sự vững mạnh và lòng anh dũng tốt đẹp,” để “thì hành sứ vụ trong danh dự,” và để “đóng góp vào sự trường tồn của quốc gia và để bảo vệ nền hòa bình chính nghĩa.”