Hãy cùng tìm hiểu về Lời Tuyên Thệ trong quân đội Hoa Kỳ
LTS: Bài viết này được đăng trong Bản Thông Báo (Bulletin) hằng tuần do Tổng Giáo Phận Quân Đội Hoa Kỳ đảm trách cho các binh chủng trong Quân Đội Hoa Kỳ và cũng được trích lưu (archive) trên trang web có tên Người Công Giáo trong Quân Ngũ (Catholics in Military) tại địa chỉ là: www.catholicMil.org
Hy vọng rằng, việc tái học học hỏi về cách thức tuyên thệ sẽ làm thức tỉnh mỗi người trong chúng ta về một ý nghĩa hết sức thiêng liêng của lời tuyên thệ ấy. Việc tuyên thệ, hay ‘lời thề hứa,’ nó không chỉ là một chức năng quan trọng khác trong ngành quân ngũ, mà nó còn là một lời mời gọi Thiên Chúa xuống để làm chứng giám cho những gì sắp được nói ra. Khả năng hạn hẹp của con người không thể nào thực hiện nổi lời tuyên thệ đó, mà không có sự trợ giúp từ ơn huệ lớn lao của Thiên Chúa, chính vì thế, người tuyên thệ thường hay kết thúc bằng câu: Vì vậy, nguyện xin Thiên Chúa hãy giúp đỡ con! (So, help me God!) Với lời khẩn nguyện ấy, “Sứ Vụ Không Thể Hoàn Thành!” bổng trở nên “Sứ Vụ Có Thể Hoàn Thành!” khi lời tuyên thệ được đọc ra. Trong những lúc nguy biến, việc nhớ lại lời tuyên thệ đã được thề hứa, chính là cách để cầu xin Thiên Chúa xuống cứu giúp ngay tức thời. Khi tên của Thiên Chúa được cầu khẩn thông qua lời tuyên thệ, thì toàn cả Vương Triều của Thiên Chúa được đánh động, có nghĩa là lời khẩn cầu ấy liền lên tới Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để các Ngài ra tay cứu giúp chúng ta để với Ngài, trong Ngài và qua chính Ngài, chúng ta được cũng cố thêm sức mạnh để thực hiện trong danh dự những nghĩa vụ được tổ quốc trao phó.
Khi nói về Bí Tích, tác giả Marty Barrack đã viết như sau:
Chữ “bí tích" xuất phát từ một từ ngữ trong tiếng La Tinh, gọi là “sacramentum” có nghĩa là, lời tuyên thệ hay lời thề. Các bí tích chính là những dấu chỉ để qua đó Chúa Kitô hiệp thông, trao ban các ân huệ, và thánh hóa linh hồn. Trong tiếng Hebrew, một lời tuyên thệ được gọi là “sheval” hay “nishevah” (có nghĩa là số bảy). Trong tiếng Hebrew, khi chúng ta nói, “Tôi đang tuyên thệ,” thì có nghĩa là chúng ta đang nói rằng, “Tôi bảy lần chính tôi.” Trong sách Sáng Thế, chương 21 câu 30, tổ phụ Abraham than trách Abimelech nhân vụ giếng nước đã bị bọn tôi tớ của Abimelech chiếm đoạt, thế nhưng Abimelech khăng khăng từ chối điều đó và cho biết ông không biết ai đã làm điều ấy. Để giải quyết vấn đề, tổ phụ Abraham liền lấy ra bảy con cừu cái và nói với Abimelech rằng: “Bảy con cừu cái mà ông nhận từ tay tôi, ngõ hầu làm tan chứng bảo đảm rằng tôi đã đào cái giếng này. Do đó mà người ta đã gọi chổ ấy là Beesheba, vì ở đó hai bên đã thề với nhau.” (Sách Sáng Thế, chương 21, từ câu 28 đến câu 31.) Chính vì thế mà chữ “sheba” trong một phần của một tên gọi, có nghĩa là một lời thề.
Thiên Chúa đã chỉ ra cho chúng ta biết được tầm quan trọng của lời thề. Khi một linh mục Công Giáo đọc ra những chữ như, “Đây là Mình Ta,” thì chúng ta biết được rằng bánh đó giờ đây đã trở nên Mình và Máu của Chúa Kitô, cũng như Linh Hồn và Thần Linh. Cuộc sống vĩnh cữu của chúng ta tùy thuộc vào lời tín trung của Thiên Chúa đối với lời thệ hứa của Ngài. Khi một người binh sĩ tuyên thệ, thì vóc dáng bên ngoài của người binh sĩ ấy vẫn không có gì thay đổi ngoại trừ là đã có sự biến chuyễn về nội tâm. Nhiều mạng sống của vô số người tùy thuộc vào sự tín trung của người binh sĩ thậm chí ngay cả những lúc chẳng có ai ngó ngàng đến. Thế thì việc chúng ta đặt tay trên một cuốn sách củ kỹ màu đen và đọc lời tuyên thệ, thì liệu đó có phải là một bảo chứng rằng chúng ta sẽ làm điều gì đó, hoặc sẽ không làm điều gì đó chăng? Thưa, cuốn sách củ kỹ màu đen ấy chính là cuốn sách về Ngôi Lời của Thiên Chúa. Chúng ta đọc lời tuyên thệ qua việc đứng trước mặt của Thiên Chúa. Nếu như chúng ta trung tín với lời thề của mình cũng giống như Thiên Chúa tín trung với lời thề hứa của Ngài, thì Ngài sẽ đưa chúng ta về cõi trường sinh, bất diệt.
(Marty Barrack trình bày về Đức Tin Công Giáo thông qua di sản của người Do Thái, dựa trên sách Xuất Hành, muốn biết thêm chi tiết, mời Quý vị độc giả hãy vào trang web: www.secondexodus.com )
Tìm hiểu về lời tuyên thệ
Tiến sĩ Scott Hann trong cuốn băng về chủ đề: “Tại Sao Phải Có Hỏa Ngục?” đã nói rằng:
Hầu hết mọi người giờ đây không còn hiểu rõ được tuyên thệ là gì nữa. Có một học giả đã từng nhận xét rằng, lời tuyên thệ cũng giống như một di tích cổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Con người lưu truyền nó, nhưng chẳng có ai trong số họ hiểu được tại sao nó phải tồn tại khi có ai đó được trao phó cho quyền hành, thì toàn thể xã hội biết được rằng những người đó phải đọc lên lời tuyên thệ. Các nhà chính trị gia được tín thác và trao phó cho quyền bính về mặt chính trị trước khi họ chính thức nhận nhiệm sở, thì họ cũng phải đọc lên lời tuyên thệ. Các vị thẩm phán trước khi bước vào tòa xử, cũng phải đọc lên lời tuyên thệ. Những nhân chứng nào xuyên tạc sự thật, thì theo lịch sử, họ không được đưa ra lời chứng thực cho đến khi họ phải đọc lên lời tuyên thệ. Các binh sĩ trước khi được trao cho vũ khí và gởi ra chiến trường, cũng phải đọc lên lời tuyên thệ. Thậm chí ngay cả những người nhập cư nào muốn trở thành những công dân sẽ không được quyền bầu phiếu cho đến khi nào họ chính thức có quốc tịch và đọc lên lời tuyên thệ. Các bác sĩ, những người có quyền hành về mạng sống và cái chết, theo truyền thống, phải đọc lên lời thề của Hippôcrát. Tại sao vậy? Thưa họ phải đọc lên lời tuyên thệ ấy vì chẳng có ai trong chúng ta tin tưởng ở nơi họ cả, thế nhưng, qua lời tuyên thệ, chúng ta buộc phải tin tưởng ở nơi họ bởi vì có một số nghĩa vụ dân sự cần phải được hoàn thành để xã hội có thể vận hành được. Nhưng vì biết rõ tính hạn hẹp và sự yếu đuối của con người, cũng như việc biết rõ rằng con người nhân loại không thể nào chống cự nổi trước những sự cám dỗ, thì liệu làm cách nào mà chúng ta có thể tin tưởng họ với quyền hạn của họ? Thật sự ra là chúng ta không thể tin họ, và chúng ta thừa biết được điều đó. Thế thì chúng ta phải làm gì bây giờ? Thưa, điều duy nhất mà chúng ta có thể làm là, đặt họ dưới lời thề. Tại sao vậy? Thưa là vì, mặc dầu chính bản thân họ không thể làm được điều đó, thế nhưng, với sự trợ giúp của Thiên Chúa thì không có gì là không thể được, và chính vì vậy mà họ phải nói ra rằng “Lạy Thiên Chúa hãy cứu giúp con!” Họ đọc ra lời thề là bởi vì họ kêu ra Danh Thánh của Thiên Chúa, và lúc nào cũng vậy, Thiên Chúa vẫn mãi luôn trung tín ban cho con người quyền năng và lời chúc phúc của Ngài để con người có thể hoành thành trọn mọi nghĩa vụ được trao phó, để bị bãi nhiễm khỏi chức vụ, nếu như họ đã lạm dụng hay làm ngơ việc kêu danh Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu quả đúng như là họ kêu danh Ngài vô cớ, thì chúng ta được nhắc nhở đến qua Mười Điều Răn về việc chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Tại sao vậy? Thưa, là bởi vì sự trợ giúp cho chúng ta là vì Danh Thiên Chúa Người đã sáng tạo ra Thiên Đàng và Trái Đất, và chúng ta đã được giảng dạy cho biết từ thưở ban đầu về cách thức kêu gọi Danh Thiên Chúa dưới bất kỳ hình thức nào khi chúng ta đọc lên lời thệ hứa.
Theo Bộ Luật của Hoa Kỳ, Tiêu Đề 5, Phần 3, Phần B nhỏ, thuộc Chương 33, Tiểu Chương II, Đoạn 3331 thì:
Một cá nhân nào, ngoại trừ Tổng Thống, được bầu hay được chính thức chỉ định vào một nhiệm sở trong bộ máy công quyền hay trong ngành quân sự, phải đọc lên lời thệ hứa sau: “Tôi, tên là AB, nghiêm trọng tuyên hứa rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến Pháp của Hoa Kỳ khỏi mọi kẻ thù, trong và ngoài nước; rằng tôi sẽ luôn giữ đúng đức tin và sự trung thành trước mọi tình huống; rằng tôi nhận lấy nghĩa vụ này một cách tự do, sáng suốt không vì bất kỳ mục đích lấn chiếm đen tối nào; và tôi sẽ rời khỏi nhiệm sở trong danh dự và trung tín như là khi tôi nhận nhiệm sở. Chính vì thế, xin Thiên Chúa hãy giúp tôi!”
Tờ Tạp Chí Mới Hằng Tháng của Harper trong số CXLI, xuất bản vào tháng hai năm 1862, viết rằng:
Khi những nhà sáng lập của của các Giáo Hội Kitô Giáo có tổ chức muốn dùng một từ ngữ để biểu lộ những hình thức nghiêm trang, kính cẩn nhất của đức tin, thì họ chọn chữ “Sacramentum,” vì đó cũng chính là một lời tuyên thệ trong ngành quân sự mà mỗi binh sĩ cần phải trung thành tuyên thệ, và họ đã lấy nó làm một lời tuyên thệ chuẩn mực. Và kể từ đó trở đi, lời tuyên thệ trong ngành quân sự hay bí tích, là nhằm muốn ám chỉ đến một trọng trách hết sức thiêng liêng, cao cả.
Trong một phần trích đoạn của Đức Cố Hồng Y Gioan O’Conor về Lương Tâm và Lời Tuyên Thệ Quân Sự, Ngài viết rằng:
Khi tôi tuyên thệ để trở thành một sĩ quan quân đội, tôi đã nguyện thề rằng: “Tô nghiêm trọng tuyên hứa rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến Pháp của Hoa Kỳ khỏi mọi kẻ thù, trong và ngoài nước; rằng tôi sẽ luôn giữ đúng đức tin và sự trung thành trước mọi tình huống; rằng tôi nhận lấy nghĩa vụ này một cách tự do, sáng suốt không vì bất kỳ mục đích lấn chiếm đen tối nào; và tôi sẽ rời khỏi nhiệm sở trong danh dự và trung tín như là khi tôi nhận nhiệm sở. Chính vì thế, xin Thiên Chúa hãy giúp tôi!” Tất cả mọi sĩ quan trong quân đội nào cũng phải đọc lên lời tuyên thệ ấy. Thì cái gì để bảo chứng cho lòng trung tín của người sĩ quan đó ngoại trừ lương tâm của người ấy? Liệu chúng ta có thể tin rằng một sĩ quân đội đó sẽ không nói dối, hay lừa gạt hay ăn cắp, hoặc phản bội lại tổ quốc nếu như lương tâm chẳng có nghĩa gì cả đối với người sĩ quan đó? Thì liệu bất cứ một thành viên có kinh nghiệm nào trong ngành lực lượng quân sự tin vào lúc đó rằng mệnh lệnh, kỷ luật và việc hoàn thành sứ mạng được trao phó phần lớn là tùy thuộc vào các luật lệ và quy định của ngành quân sự không thôi, mà chẳng cần gì phải chú trọng đến tính trung thực của cá nhân đó cùng với việc vô trách nhiệm của người ấy đối với chức vụ mà người ấy đảm nhận?
Từ điển về các thành ngữ và ngụ ngôn của tác giả E. Cobham Brewer trong số ấn bản chữ mới vào năm 1894, định nghĩa chữ “Sacrament” như sau:
Từ Sacrament, về mặt ngữ nghĩa, thì nó chính là “một lời tuyên thệ quân sự” mà mỗi binh lính La Mã phải thệ hứa rằng sẽ không đào ngũ, sẽ không quay lưng trước kẻ thù, hay từ bỏ vị tướng tổng chỉ huy của họ. Chúng ta cũng vậy, thông qua bí tích rửa tội, chúng ta đọc lên một lời tuyên hứa “để chiến đấu can trường vì danh Chúa Kitô.” Những người Kitô giáo đầu tiên đã dùng chữ này để biểu hiện “một mầu nhiệm thánh,” và chính vì thế, thông qua bí tích Rửa Tội và Thánh Thể, và các bí tích khác trong Giáo Hội Công Giáo chẳng hạn như bí tích hôn phối, thêm sức, giải tội, xức dầu thánh và truyền chức thánh.
Thì kể từ đó trở đi, chúng ta xem các phép bí tích rất là chung chung, do đó trước tiên là chúng ta cần phải hiểu rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của chữ Sacramanent, để có thể hiểu ra được những tầm mức quan trọng, theo thứ tự khác nhau của các phép bí tích. Mọi tín hữu, chính vì thế, cần phải biết được rằng chữ Sacrament cần phải được hiểu theo cách khác nhau qua những gì mà họ đọc được từ những cây viết phỉ báng và những cây viết đứng đắn, nghiêm túc và thánh thiện. Một số đã dùng chữ này để diễn tả trọng trách được đưa ra từ một lời thệ hứa, để hứa rằng sẽ chu toàn trọn nghĩa vụ được trao phó, và chính vì vậy lời thề mà các binh sĩ hứa trong việc thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước được gọi là một bí tích quân sự. Trái lại, đối với những cây viết phỉ báng, thì chữ đó chỉ mang một ý nghĩa hết sức tầm thường mà thôi.
Thế nhưng theo các linh mục Latin, những người đã viết ra các chủ đề về thần học, thì từ Bí Tích, Mầu Nhiệm, Sacrament được sử dụng để báo hiệu cho một cái gì đó hết sức thiêng liêng được che đậy qua đó. Những người Hy Lạp, cũng diễn tả một cách tương tự. Qua đó, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của từ ngữ này, trong thư gởi cho tín hữu Êphêsô, có một đoạn nói rằng: để qua đó, Ngài cho chúng ta biết được mầu nhiệm (sacramentum) về ý chỉ của Ngài; và trong thư gởi cho Timôthê rằng: vĩ đại thay về mầu nhiệm (sacramentum) của lòng thánh thiện; và trong sách Khôn Ngoan: Họ chẳng biết gì cả về mầu nhiệm (sacramenta) của Thiên Chúa. Thì trong tất cả những đoạn này và những đoạn khác, từ sacrament được hiểu rằng: đó là cách báo hiệu cho một điều gì đó thánh thiện vốn đã được dấu kín và chưa được tỏ bày.
(Theo Giáo Lý của Công Đồng Trent, Phần II nói về các Phép Bí Tích, Chữ “Sacrament”)
Trích dẫn lại Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo về Lời Tuyên Thệ/Thề
Đoạn 2150
Lời Tuyên Thệ Đúng: Đọc lên lời tuyên thệ hay lời thề chính là việc kêu Thiên Chúa làm chứng cho những gì mà người đó xác tín. Đó cũng là cách để khẩn cầu sự trợ giúp của Thiên Chúa về những gì đã thệ hứa. Một lời thề lúc nào cũng kêu Danh Thiên Chúa.
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Điều răn thứ hai cấm một lời tuyên thệ giả dối.
Đoạn 2151
Lời Tuyên Thệ Đúng: Là Đấng Sáng Tạo và là Thiên Chúa, Thiên Chúa chính là tiêu chuẩn cho tất cả mọi sự thật. Lời nói của con người hoặc là đúng hoặc là trái ngược với Thiên Chúa, cũng chính là Sự Thật. Khi lời thệ hứa đó là hoàn toàn đúng và xác thực, thì lời thề đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa lời nói của con người với sự thật của Thiên Chúa
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Việc chối từ những lời thề hứa giả dối chính là một nghĩa vụ đối với Thiên Chúa. Một lời thề dối trá kêu gọi Thiên Chúa làm chứng cho một điều dối trá.
Đoạn 2152
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Một người phạm tội khai man khi người đó hứa qua lời tuyên thệ của mình rằng không có ý định dấu kín mọi chuyện, hoặc là sau khi đã thề, và không biết giữ đúng lời thề. Việc khai man chính là một hình thức cho thấy không biết kính trọng Thiên Chúa qua tất cả mọi lời nói. Việc tự bản thân đọc cam kết với ma quỷ chính là điều trái ngược hẳn với sự thánh thiện của danh Thiên Chúa.
Đoạn 2153
Lời Tuyên Thệ Đúng: Chúa Giêsu dạy rằng bất kỳ một lời thề nào có liên quan đến Thiên Chúa, và với sự hiện diện của Thiên Chúa và sự thật của Ngài cần phải được tôn trọng qua mọi lời nói.
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã giải thích về điều răn thứ hai: “Ngươi chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Chúa. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: đừng thề thốt chi cả. Nhưng lời của các ngươi phải: Có? có - không? không! kỳ dư là tự ác tà mà ra cả.” (Sách Máthêu, chương 5, từ câu 33-34, 37).
LTS: Bài viết này được đăng trong Bản Thông Báo (Bulletin) hằng tuần do Tổng Giáo Phận Quân Đội Hoa Kỳ đảm trách cho các binh chủng trong Quân Đội Hoa Kỳ và cũng được trích lưu (archive) trên trang web có tên Người Công Giáo trong Quân Ngũ (Catholics in Military) tại địa chỉ là: www.catholicMil.org
Hy vọng rằng, việc tái học học hỏi về cách thức tuyên thệ sẽ làm thức tỉnh mỗi người trong chúng ta về một ý nghĩa hết sức thiêng liêng của lời tuyên thệ ấy. Việc tuyên thệ, hay ‘lời thề hứa,’ nó không chỉ là một chức năng quan trọng khác trong ngành quân ngũ, mà nó còn là một lời mời gọi Thiên Chúa xuống để làm chứng giám cho những gì sắp được nói ra. Khả năng hạn hẹp của con người không thể nào thực hiện nổi lời tuyên thệ đó, mà không có sự trợ giúp từ ơn huệ lớn lao của Thiên Chúa, chính vì thế, người tuyên thệ thường hay kết thúc bằng câu: Vì vậy, nguyện xin Thiên Chúa hãy giúp đỡ con! (So, help me God!) Với lời khẩn nguyện ấy, “Sứ Vụ Không Thể Hoàn Thành!” bổng trở nên “Sứ Vụ Có Thể Hoàn Thành!” khi lời tuyên thệ được đọc ra. Trong những lúc nguy biến, việc nhớ lại lời tuyên thệ đã được thề hứa, chính là cách để cầu xin Thiên Chúa xuống cứu giúp ngay tức thời. Khi tên của Thiên Chúa được cầu khẩn thông qua lời tuyên thệ, thì toàn cả Vương Triều của Thiên Chúa được đánh động, có nghĩa là lời khẩn cầu ấy liền lên tới Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần, để các Ngài ra tay cứu giúp chúng ta để với Ngài, trong Ngài và qua chính Ngài, chúng ta được cũng cố thêm sức mạnh để thực hiện trong danh dự những nghĩa vụ được tổ quốc trao phó.Khi nói về Bí Tích, tác giả Marty Barrack đã viết như sau:
Chữ “bí tích" xuất phát từ một từ ngữ trong tiếng La Tinh, gọi là “sacramentum” có nghĩa là, lời tuyên thệ hay lời thề. Các bí tích chính là những dấu chỉ để qua đó Chúa Kitô hiệp thông, trao ban các ân huệ, và thánh hóa linh hồn. Trong tiếng Hebrew, một lời tuyên thệ được gọi là “sheval” hay “nishevah” (có nghĩa là số bảy). Trong tiếng Hebrew, khi chúng ta nói, “Tôi đang tuyên thệ,” thì có nghĩa là chúng ta đang nói rằng, “Tôi bảy lần chính tôi.” Trong sách Sáng Thế, chương 21 câu 30, tổ phụ Abraham than trách Abimelech nhân vụ giếng nước đã bị bọn tôi tớ của Abimelech chiếm đoạt, thế nhưng Abimelech khăng khăng từ chối điều đó và cho biết ông không biết ai đã làm điều ấy. Để giải quyết vấn đề, tổ phụ Abraham liền lấy ra bảy con cừu cái và nói với Abimelech rằng: “Bảy con cừu cái mà ông nhận từ tay tôi, ngõ hầu làm tan chứng bảo đảm rằng tôi đã đào cái giếng này. Do đó mà người ta đã gọi chổ ấy là Beesheba, vì ở đó hai bên đã thề với nhau.” (Sách Sáng Thế, chương 21, từ câu 28 đến câu 31.) Chính vì thế mà chữ “sheba” trong một phần của một tên gọi, có nghĩa là một lời thề.
Thiên Chúa đã chỉ ra cho chúng ta biết được tầm quan trọng của lời thề. Khi một linh mục Công Giáo đọc ra những chữ như, “Đây là Mình Ta,” thì chúng ta biết được rằng bánh đó giờ đây đã trở nên Mình và Máu của Chúa Kitô, cũng như Linh Hồn và Thần Linh. Cuộc sống vĩnh cữu của chúng ta tùy thuộc vào lời tín trung của Thiên Chúa đối với lời thệ hứa của Ngài. Khi một người binh sĩ tuyên thệ, thì vóc dáng bên ngoài của người binh sĩ ấy vẫn không có gì thay đổi ngoại trừ là đã có sự biến chuyễn về nội tâm. Nhiều mạng sống của vô số người tùy thuộc vào sự tín trung của người binh sĩ thậm chí ngay cả những lúc chẳng có ai ngó ngàng đến. Thế thì việc chúng ta đặt tay trên một cuốn sách củ kỹ màu đen và đọc lời tuyên thệ, thì liệu đó có phải là một bảo chứng rằng chúng ta sẽ làm điều gì đó, hoặc sẽ không làm điều gì đó chăng? Thưa, cuốn sách củ kỹ màu đen ấy chính là cuốn sách về Ngôi Lời của Thiên Chúa. Chúng ta đọc lời tuyên thệ qua việc đứng trước mặt của Thiên Chúa. Nếu như chúng ta trung tín với lời thề của mình cũng giống như Thiên Chúa tín trung với lời thề hứa của Ngài, thì Ngài sẽ đưa chúng ta về cõi trường sinh, bất diệt.
(Marty Barrack trình bày về Đức Tin Công Giáo thông qua di sản của người Do Thái, dựa trên sách Xuất Hành, muốn biết thêm chi tiết, mời Quý vị độc giả hãy vào trang web: www.secondexodus.com )
Tìm hiểu về lời tuyên thệ
Tiến sĩ Scott Hann trong cuốn băng về chủ đề: “Tại Sao Phải Có Hỏa Ngục?” đã nói rằng:
Hầu hết mọi người giờ đây không còn hiểu rõ được tuyên thệ là gì nữa. Có một học giả đã từng nhận xét rằng, lời tuyên thệ cũng giống như một di tích cổ vẫn còn tồn tại cho đến ngày nay. Con người lưu truyền nó, nhưng chẳng có ai trong số họ hiểu được tại sao nó phải tồn tại khi có ai đó được trao phó cho quyền hành, thì toàn thể xã hội biết được rằng những người đó phải đọc lên lời tuyên thệ. Các nhà chính trị gia được tín thác và trao phó cho quyền bính về mặt chính trị trước khi họ chính thức nhận nhiệm sở, thì họ cũng phải đọc lên lời tuyên thệ. Các vị thẩm phán trước khi bước vào tòa xử, cũng phải đọc lên lời tuyên thệ. Những nhân chứng nào xuyên tạc sự thật, thì theo lịch sử, họ không được đưa ra lời chứng thực cho đến khi họ phải đọc lên lời tuyên thệ. Các binh sĩ trước khi được trao cho vũ khí và gởi ra chiến trường, cũng phải đọc lên lời tuyên thệ. Thậm chí ngay cả những người nhập cư nào muốn trở thành những công dân sẽ không được quyền bầu phiếu cho đến khi nào họ chính thức có quốc tịch và đọc lên lời tuyên thệ. Các bác sĩ, những người có quyền hành về mạng sống và cái chết, theo truyền thống, phải đọc lên lời thề của Hippôcrát. Tại sao vậy? Thưa họ phải đọc lên lời tuyên thệ ấy vì chẳng có ai trong chúng ta tin tưởng ở nơi họ cả, thế nhưng, qua lời tuyên thệ, chúng ta buộc phải tin tưởng ở nơi họ bởi vì có một số nghĩa vụ dân sự cần phải được hoàn thành để xã hội có thể vận hành được. Nhưng vì biết rõ tính hạn hẹp và sự yếu đuối của con người, cũng như việc biết rõ rằng con người nhân loại không thể nào chống cự nổi trước những sự cám dỗ, thì liệu làm cách nào mà chúng ta có thể tin tưởng họ với quyền hạn của họ? Thật sự ra là chúng ta không thể tin họ, và chúng ta thừa biết được điều đó. Thế thì chúng ta phải làm gì bây giờ? Thưa, điều duy nhất mà chúng ta có thể làm là, đặt họ dưới lời thề. Tại sao vậy? Thưa là vì, mặc dầu chính bản thân họ không thể làm được điều đó, thế nhưng, với sự trợ giúp của Thiên Chúa thì không có gì là không thể được, và chính vì vậy mà họ phải nói ra rằng “Lạy Thiên Chúa hãy cứu giúp con!” Họ đọc ra lời thề là bởi vì họ kêu ra Danh Thánh của Thiên Chúa, và lúc nào cũng vậy, Thiên Chúa vẫn mãi luôn trung tín ban cho con người quyền năng và lời chúc phúc của Ngài để con người có thể hoành thành trọn mọi nghĩa vụ được trao phó, để bị bãi nhiễm khỏi chức vụ, nếu như họ đã lạm dụng hay làm ngơ việc kêu danh Thiên Chúa. Tuy nhiên, nếu quả đúng như là họ kêu danh Ngài vô cớ, thì chúng ta được nhắc nhở đến qua Mười Điều Răn về việc chớ kêu tên Đức Chúa Trời vô cớ. Tại sao vậy? Thưa, là bởi vì sự trợ giúp cho chúng ta là vì Danh Thiên Chúa Người đã sáng tạo ra Thiên Đàng và Trái Đất, và chúng ta đã được giảng dạy cho biết từ thưở ban đầu về cách thức kêu gọi Danh Thiên Chúa dưới bất kỳ hình thức nào khi chúng ta đọc lên lời thệ hứa.
Theo Bộ Luật của Hoa Kỳ, Tiêu Đề 5, Phần 3, Phần B nhỏ, thuộc Chương 33, Tiểu Chương II, Đoạn 3331 thì:
Một cá nhân nào, ngoại trừ Tổng Thống, được bầu hay được chính thức chỉ định vào một nhiệm sở trong bộ máy công quyền hay trong ngành quân sự, phải đọc lên lời thệ hứa sau: “Tôi, tên là AB, nghiêm trọng tuyên hứa rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến Pháp của Hoa Kỳ khỏi mọi kẻ thù, trong và ngoài nước; rằng tôi sẽ luôn giữ đúng đức tin và sự trung thành trước mọi tình huống; rằng tôi nhận lấy nghĩa vụ này một cách tự do, sáng suốt không vì bất kỳ mục đích lấn chiếm đen tối nào; và tôi sẽ rời khỏi nhiệm sở trong danh dự và trung tín như là khi tôi nhận nhiệm sở. Chính vì thế, xin Thiên Chúa hãy giúp tôi!”
Tờ Tạp Chí Mới Hằng Tháng của Harper trong số CXLI, xuất bản vào tháng hai năm 1862, viết rằng:
Khi những nhà sáng lập của của các Giáo Hội Kitô Giáo có tổ chức muốn dùng một từ ngữ để biểu lộ những hình thức nghiêm trang, kính cẩn nhất của đức tin, thì họ chọn chữ “Sacramentum,” vì đó cũng chính là một lời tuyên thệ trong ngành quân sự mà mỗi binh sĩ cần phải trung thành tuyên thệ, và họ đã lấy nó làm một lời tuyên thệ chuẩn mực. Và kể từ đó trở đi, lời tuyên thệ trong ngành quân sự hay bí tích, là nhằm muốn ám chỉ đến một trọng trách hết sức thiêng liêng, cao cả.
Trong một phần trích đoạn của Đức Cố Hồng Y Gioan O’Conor về Lương Tâm và Lời Tuyên Thệ Quân Sự, Ngài viết rằng:
Khi tôi tuyên thệ để trở thành một sĩ quan quân đội, tôi đã nguyện thề rằng: “Tô nghiêm trọng tuyên hứa rằng tôi sẽ ủng hộ và bảo vệ Hiến Pháp của Hoa Kỳ khỏi mọi kẻ thù, trong và ngoài nước; rằng tôi sẽ luôn giữ đúng đức tin và sự trung thành trước mọi tình huống; rằng tôi nhận lấy nghĩa vụ này một cách tự do, sáng suốt không vì bất kỳ mục đích lấn chiếm đen tối nào; và tôi sẽ rời khỏi nhiệm sở trong danh dự và trung tín như là khi tôi nhận nhiệm sở. Chính vì thế, xin Thiên Chúa hãy giúp tôi!” Tất cả mọi sĩ quan trong quân đội nào cũng phải đọc lên lời tuyên thệ ấy. Thì cái gì để bảo chứng cho lòng trung tín của người sĩ quan đó ngoại trừ lương tâm của người ấy? Liệu chúng ta có thể tin rằng một sĩ quân đội đó sẽ không nói dối, hay lừa gạt hay ăn cắp, hoặc phản bội lại tổ quốc nếu như lương tâm chẳng có nghĩa gì cả đối với người sĩ quan đó? Thì liệu bất cứ một thành viên có kinh nghiệm nào trong ngành lực lượng quân sự tin vào lúc đó rằng mệnh lệnh, kỷ luật và việc hoàn thành sứ mạng được trao phó phần lớn là tùy thuộc vào các luật lệ và quy định của ngành quân sự không thôi, mà chẳng cần gì phải chú trọng đến tính trung thực của cá nhân đó cùng với việc vô trách nhiệm của người ấy đối với chức vụ mà người ấy đảm nhận?
Từ điển về các thành ngữ và ngụ ngôn của tác giả E. Cobham Brewer trong số ấn bản chữ mới vào năm 1894, định nghĩa chữ “Sacrament” như sau:
Từ Sacrament, về mặt ngữ nghĩa, thì nó chính là “một lời tuyên thệ quân sự” mà mỗi binh lính La Mã phải thệ hứa rằng sẽ không đào ngũ, sẽ không quay lưng trước kẻ thù, hay từ bỏ vị tướng tổng chỉ huy của họ. Chúng ta cũng vậy, thông qua bí tích rửa tội, chúng ta đọc lên một lời tuyên hứa “để chiến đấu can trường vì danh Chúa Kitô.” Những người Kitô giáo đầu tiên đã dùng chữ này để biểu hiện “một mầu nhiệm thánh,” và chính vì thế, thông qua bí tích Rửa Tội và Thánh Thể, và các bí tích khác trong Giáo Hội Công Giáo chẳng hạn như bí tích hôn phối, thêm sức, giải tội, xức dầu thánh và truyền chức thánh.
Thì kể từ đó trở đi, chúng ta xem các phép bí tích rất là chung chung, do đó trước tiên là chúng ta cần phải hiểu rõ được ý nghĩa và tầm quan trọng của chữ Sacramanent, để có thể hiểu ra được những tầm mức quan trọng, theo thứ tự khác nhau của các phép bí tích. Mọi tín hữu, chính vì thế, cần phải biết được rằng chữ Sacrament cần phải được hiểu theo cách khác nhau qua những gì mà họ đọc được từ những cây viết phỉ báng và những cây viết đứng đắn, nghiêm túc và thánh thiện. Một số đã dùng chữ này để diễn tả trọng trách được đưa ra từ một lời thệ hứa, để hứa rằng sẽ chu toàn trọn nghĩa vụ được trao phó, và chính vì vậy lời thề mà các binh sĩ hứa trong việc thi hành nghĩa vụ quân sự với đất nước được gọi là một bí tích quân sự. Trái lại, đối với những cây viết phỉ báng, thì chữ đó chỉ mang một ý nghĩa hết sức tầm thường mà thôi.
Thế nhưng theo các linh mục Latin, những người đã viết ra các chủ đề về thần học, thì từ Bí Tích, Mầu Nhiệm, Sacrament được sử dụng để báo hiệu cho một cái gì đó hết sức thiêng liêng được che đậy qua đó. Những người Hy Lạp, cũng diễn tả một cách tương tự. Qua đó, chúng ta có thể hiểu được ý nghĩa đích thực của từ ngữ này, trong thư gởi cho tín hữu Êphêsô, có một đoạn nói rằng: để qua đó, Ngài cho chúng ta biết được mầu nhiệm (sacramentum) về ý chỉ của Ngài; và trong thư gởi cho Timôthê rằng: vĩ đại thay về mầu nhiệm (sacramentum) của lòng thánh thiện; và trong sách Khôn Ngoan: Họ chẳng biết gì cả về mầu nhiệm (sacramenta) của Thiên Chúa. Thì trong tất cả những đoạn này và những đoạn khác, từ sacrament được hiểu rằng: đó là cách báo hiệu cho một điều gì đó thánh thiện vốn đã được dấu kín và chưa được tỏ bày.
(Theo Giáo Lý của Công Đồng Trent, Phần II nói về các Phép Bí Tích, Chữ “Sacrament”)
Trích dẫn lại Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo về Lời Tuyên Thệ/Thề
Đoạn 2150
Lời Tuyên Thệ Đúng: Đọc lên lời tuyên thệ hay lời thề chính là việc kêu Thiên Chúa làm chứng cho những gì mà người đó xác tín. Đó cũng là cách để khẩn cầu sự trợ giúp của Thiên Chúa về những gì đã thệ hứa. Một lời thề lúc nào cũng kêu Danh Thiên Chúa.
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Điều răn thứ hai cấm một lời tuyên thệ giả dối.
Đoạn 2151
Lời Tuyên Thệ Đúng: Là Đấng Sáng Tạo và là Thiên Chúa, Thiên Chúa chính là tiêu chuẩn cho tất cả mọi sự thật. Lời nói của con người hoặc là đúng hoặc là trái ngược với Thiên Chúa, cũng chính là Sự Thật. Khi lời thệ hứa đó là hoàn toàn đúng và xác thực, thì lời thề đó nhấn mạnh đến mối quan hệ giữa lời nói của con người với sự thật của Thiên Chúa
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Việc chối từ những lời thề hứa giả dối chính là một nghĩa vụ đối với Thiên Chúa. Một lời thề dối trá kêu gọi Thiên Chúa làm chứng cho một điều dối trá.
Đoạn 2152
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Một người phạm tội khai man khi người đó hứa qua lời tuyên thệ của mình rằng không có ý định dấu kín mọi chuyện, hoặc là sau khi đã thề, và không biết giữ đúng lời thề. Việc khai man chính là một hình thức cho thấy không biết kính trọng Thiên Chúa qua tất cả mọi lời nói. Việc tự bản thân đọc cam kết với ma quỷ chính là điều trái ngược hẳn với sự thánh thiện của danh Thiên Chúa.
Đoạn 2153
Lời Tuyên Thệ Đúng: Chúa Giêsu dạy rằng bất kỳ một lời thề nào có liên quan đến Thiên Chúa, và với sự hiện diện của Thiên Chúa và sự thật của Ngài cần phải được tôn trọng qua mọi lời nói.
Lời Tuyên Thệ Sai Lầm: Trong bài giảng trên núi, Chúa Giêsu đã giải thích về điều răn thứ hai: “Ngươi chớ bội thề, nhưng hãy trọn lời thề với Chúa. Còn Ta, Ta bảo các ngươi: đừng thề thốt chi cả. Nhưng lời của các ngươi phải: Có? có - không? không! kỳ dư là tự ác tà mà ra cả.” (Sách Máthêu, chương 5, từ câu 33-34, 37).