Cuộc phỏng vấn trên nhiều vấn đề đến đời sống của Giáo xứ và Giáo dân

BOSTON (Zeni.org).- Hồng Y người Mỹ James Francis Stafford tin rằng cơn khủng hoảng của Giáo Hội hiện nay là một cơn khủng hoảng trong đời sống giáo xứ.

Chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng Giáo dân đã giải thích những quan điểm của Ngài trong cuộc phỏng vấn với Antonio Enrique, chủ nhiệm tuần báo của Tổng giáo phận Boston, tờ Pilot. Cuộc phỏng vấn được phổ biến vào ngày 8/8.

Hồng Y làm việc bên cạnh Ðức Thánh Cha tại Vatican. Hông Y có thể nói cho chúng con biết Ðức Thánh Cha nghĩ sao về cơn khủng hoảng của Giáo Hội tại Boston và tại Hoa Kỳ nói chung?

HY Stafford: Chính Ðức Thánh Cha có sáng kiến mở cuộc họp vào hồi tháng 4/2002 giữa các Hồng Y tại Hoa Kỳ, các thành viên Giáo Triều Roma cùng với chính Ðức Thánh Cha. Ðức Thánh Cha đã hiện diện trực tiếp trong mỗi cuộc họp.

Hồng Y [Bernard] Law thường giúp Ðức Thánh Cha cập nhật vấn đề cũng như trình bày với các thành viên khác trong Giáo triều Roma. Giám mục Lennon cũng làm như vậy, nhất là trình bày lên Ðức Hồng Y [Giovanni Battista] Re, và qua Sứ Thần Tòa Thánh tại Hoa Kỳ.

Tôi biết rằng Ðức Thánh Cha và các thành viên Giáo Triều, các nhà lãnh đạo các cơ quan khác tại Roma, rất am hiểu về những gì đã xảy ra tại Hoa Kỳ nhất là tại Boston.

Hồng là chủ tịch Hội đồng Giáo Hoàng Giáo dân, một cơ quan giúp Ðức Giáo Hoàng trong mọi vấn đề liên quan tới những đóng góp người giáo dân cống hiến cho sự sống và sứ vụ của Giáo Hội. Hồng Y thấy sao về vai trò của người giáo dân theo sau cơn khủng hoảng lạm dụng tình dục?

HY Stafford: Sự phát triển tich cực có ý nghĩa nhất kể từ Công đồng Vaticanô II, là sự phát triển những phong trào giáo dân bên trong Giáo Hội. Điều này không có nghĩa là trước kia đã không có các phong trào giáo dân. Rõ ràng chúng ta có những nhóm tương tự như các Hiệp Sĩ Columbus và những hội đoàn phát sinh từ Trung cổ, nhưng sự diễn đạt duy nhất của sự kiện này, qua các hiệp hội giáo dân khác nhau, chỉ phát triển từ Thế chiến thứ 2 và sau Công đồng Vaticanô II.

Những phong trào đã nổi lên để để đáp ứng những nhu cầu rất đặc biệt của người giáo dân--nhu cầu cần có một nền linh đạo thâm sâu hơn, một linh đạo mà trong nhiều cách, họ không nghĩ là giáo xứ có khả năng để đáp ứng. Và thứ đến, nhu cầu của giáo dân bày tỏ rõ ràng hơn ý của họ muốn phúc âm hóa thế giới--thế giới kinh tế, thế giới chính trị, thế giới đại học, thế giới của những hiệp hội. Những phong trào giáo dân mới này làm sáng tỏ ý của người giáo dân muốn dấn thân hơn làm môn đệ Chúa Giêsu, trong thế giới và trong Giáo Hội.

Cách đặc biệt hơn, những phong trào giáo dân này giúp người giáo dân cách đặc biệt sống sự dấn thân bí tích của mình cho Chúa Kitô trong bí tích rửa tội, thêm sức và hôn nhân. Dĩ nhiên, điều này có nghĩa là phải tiếp tục sống trong sự thương khó, sự chết và sự sống lại của Chúa Giêsu qua Thánh Thể. Họ làm như vậy trong một sự dấn thân cho cộng đồng, cho sự sống cộng đồng.

Những cộng đồng này thật sự sống quan điểm mà Chúa Giêsu tỏ bày trong Kinh Thánh Matthêu chương 18, ở đây Ngài nói tới sự thách đố tha thứ trong cộng đồng Kitô hữu. Phêrô hỏi, "Các người môn đệ phải thường tha thứ cho nhau không? Bảy lần không? Và Chúa Giêsu trả lời, "Bảy mươi lần bảy." Tôi cảm thấy sự tha thứ sống động này, tình yêu này, một tình yêu bền bỉ, hiện diện thật trong các phong trào Giáo Hội một cách mà tôi không thấy chúng mãnh liệt như vậy trong các giáo xứ.

Cũng vậy, vẻ đẹp của các cộng đồng tiên khởi sau khi Chúa Giêsu lên trời, như mô tả trong Sách Công vụ Tông Ðồ chương 2 và 4, được biểu lộ tốt hơn, được thực thi tốt hơn, trong những phong trào mới của giáo dân, hơn là điều tôi cảm thấy trong hầu hết các giáo xứ..

Như vậy, trong thực tế những phong trào mới của giáo dân là một sự dấn thân cho "koinonia" [hiệp thông] sâu xa hơn, tức là một cách sống cộng đồng với nhau và với hàng linh mục, trong mộtcách mà sẽ giúp họ sống và kinh nghiệm ý nghĩa các mối phúc trong cuộc đời mình, nhất là đối với những người nam và nữ đã kết hôn.

Thứ đến, họ kinh nghiệm sự căng thẳng lớn lao trong khi sống dấn thân theo Tin Mừng trong cuộc sông hằng ngày, cũng như trong việc làm. Những phong trào giáo dân mới này lại giúp họ sống tinh thần khó nghèo là sự khởi đầu cho đặc tính sống làm môn đệ, dĩ nhiên đó là phúc đầu trong các mối phúc thật mà đã được Chúa Giêsu diễn tả qua Tin Mừng theo thánh Matthêu..

Như vậy những phong trào giáo dân mới này có nhiều sự cống hiến cho Giáo Hội: một cảm giác về sự hiệp thông sâu xa hơn trong Chúa Thánh Thần, về tình bạn trong Chúa Thánh Thần, về sự hiệp thông trong Chúa Thánh Thần, và một cảm giác sâu xa hơn về sự dấn thân cho Chúa Kitô trong nơi làm việc. Họ cũng kinh nghiệm môt sự tăng cường mạnh mẽ trong bậc sống của mình là những người nam và người nữ đã kết hôn.

Cơ quan của Ðức Hồng Y đã nghiên cứu các bí tích khai tâm Kitô Giáo gồm có Bí Tích rửa tội, Bí Tích Thêm Sức và Bí Tích Thánh Thể-- và đề cao tầm quan trọng những bí tích đó trong đời sống Kitô hữu hằng ngày. Trong cuộc phỏng vấn tháng 11 vừa qua, Hồng Y đã nói điều quan trọng cho những giáo xứ ngày nay là trở nên những trung tâm huấn giáo sau khi rửa tội, ngõ hầu các người Công giáo có thể kinh nghiệm tốt hơn sự liên kết giữa các bí tích và cuộc sống hằng ngày của họ. Đi xa hơn nữa, xin Ðức Hồng Y có thể diễn tả làm sao các giáo xứ sẽ chú tâm đến thách đố trong việc đào tạo đuc tin trưởng thành và việc tân phúc âm hóa?

HY Stafford: Một trong những ân huệ cả thể nhất mà Thần khí ban cho chúng ta từ Công đồng Vatican Hai là sự đổi mới của bậc dự tòng.

Bậc dự tòng có nhiều giai đoạn. Tôi muốn nói rằng phương diện quan trọng nhất cho việc đổi mới giáo xứ là nhận xét kỹ càng việc dạy giáo lý hậu-rửa tội, tức là, một việc dạy giáo lý hay một huấn giáo trong các mầu nhiệm của Chúa Kitô và của Giáo Hội cho tất cả những người đã được rửa tội, đó là một phần trong những bước của RCIA được gọi là "mystagogia-sự khai tâm các mầu nhiệm"--, tức là dạy giáo lý hậu-rửa tội.

Những bước này (của RCIA) cố gắng đào sâu sự hiểu biết của những người đã được rửa tội trong các mầu nhiệm Ðức tin, nhất là các bí tích, và kêu gọi họ có được một cảm giác sâu xa hơn về sự hiệp thông trong Giáo Hội Công Giáo, nhất là trong giáo xứ, và kêu gọi họ làm chứng nhân trung thành cho Chúa Kitô trong thị trường.

Muốn đáp ưng thách đố của một mystagogia đổi mới--dạy giáo lý hậu-rửa tội trong giáo xứ--cần có cái nhìn của cộng đồng mà tôi dã nói tóm tắt, như Chúa Giêsu đã nói trong Mattheu 18, đó là sự sống cộng đồng trong giáo xứ phải sống như là một cộng đồng tình yêu, như một cộng đồng sẵn sàng tha thứ cho kẻ khác, dầu khi những kẻ khác đó bị coi như những người tội lỗi.

Giáo xứ phải là một cộng đồng kêu gọi những kẻ khác biết cải tạo sâu xa hơn đời sống từ bỏ tội lỗi theo sự sáng Chúa Kitô. Điều này, theo tôi nghĩ, sẽ đưa chúng ta tới chỗ khám phá hơn nữa sự phục hồi của "Ordo Poenitentium"--Nghi thức những kẻ Sám hối--đã hiện diện trong Giáo Hội giáo phụ.

Nhiều vấn đề chúng tôi kinh nghiệm tong chức linh mục, tôi tưởng, cách riêng trong sự lạm dụng tình dục, là do một cơn khủng hoảng, không hẳn là một cơn khủng hoảng nghiêm trọng, nhưng là một cơn khủng hoảng dài hạn trong giáo xứ và trong cộng đồng các giáo xứ phải trải qua. Một phần khủng hoảng đâm rễ sâu trong sự kiện dân chúng không kinh nghiệm tình yêu trong giáo xứ; đó là một nơi mà người ta thật sự chưa tin cẩn nhau cho đủ để có khả năng kinh nghiệm tình yêu tha thứ của Chúa Giêsu do cộng đồng làm trung gian.

Một sự tổ chức lại, một sự đổi mới, một sư tái khám phá "Ordo Poenitentium," ví dụ như trong Giáo Hội tiên khởi, sẽ là một dịp thuận lợi để các linh mục và dân chúng có thể nhìn nhận tình trạng tội lỡi mình, sẽ sẳn sàng khuất phục, trong chỗ yếu của mình, tình yêu bền bỉ của cộng đồng bằng cách bộc lộ sự yếu kém của mình, tình trạng tội lỗi của mình, và xin đền tội công khai.

Nhưng điều này không hẳn đúng cho các linh mục mà thôi, điều này cũng thật đối với những người giáo dân nam và giáo dân nữ trong chính kinh nghiệm của họ về sự trung tín hay thất tín trong hôn nhân, hay là với tư cách làm cha mẹ, hay là sự họ thiếu làm chứng nhân, hay là tình trạng tội lỗi của họ trong việc làm của họ, trong việc kinh doanh của họ, trong những hiệp Hội của họ, trong sự sắp xếp đại học của họ, sao cho giáo xứ của họ thật sự là một công đồng nơi người ta kinh nghiệm sự tha thứ của Chúa Giêsu.

Tôi tưởng, đó là chia khóa cho sự đổi mới gíao xứ: giáo xứ phải lại trở nên một bí tich, một dấu tình yêu tha thứ của Chúa đối với tội nhân, một dấu lòng thương xót của Chúa đối với những kẻ cảm thấy chính mình là tội nhân. Điều đó bao hàm tất cả chúng ta--linh mục, phó tế, giáo dân, giám mục.

Như vậy, làm sao tôi thấy sự đổi mới giáo xứ được hình thành? Tôi thấy điều đó xảy ra qua sự đổi mới của "mystagogia," việc dạy giáo lý hậu-rửa tội trong cộng đông, kêu gọi người ta tái khám phá tình yêu của Chúa Giêsu, tức là, tình yêu tha thứ, thứ tình yêu nói đến hòa giải với Chúa Cha trong Chúa Kitô. Điều này không phải là một việc làm dễ dàng.

Hội đồng Giáo Hoàng Giáo dân đang làm việc để ban sự thừa nhận chính thức cho những phong trào mới và những cộng đồng giáo hội này. Trong số đó, cơ quan Hồng Y mới chính thức thừa nhận lần đầu tiên, bậc dự tòng hậu -rửa tội. Như thế những tân dự tòng làm cách nào nên hữu ích như một khí cụ mang sự đổi mới này vào trong các giáo xứ, thưa Ðức Hồng Y?

HY Stafford: Có nhiều phong trào giáo dân trong Giáo Hội do Thần khí kêu gọi mang đến một sự đổi mới cho các cộng đồng, các giáo xứ. Người ta không thể gọi đó là "mystagogia" nhưng dẫu sao, đó là một "mystagogia," là một việc dạy giáo lý trong tình yêu tha thứ của Chúa Giêsu, một việc dạy giáo lý trong đó giáo xứ học làm nên một cộng đồng tha thứ tình yêu.

Bậc dự tòng là một trong những cách diễn tả mạnh nhất về khả năng này trong Giáo Hội mà Thần Khi đã ban cho chúng ta, để Giáo Hội có khả năng xây dựng một cộng đồng tha thứ, đó là khả năng xây dựng một cộng đồng tình yêu bền bỉ ăn rễ trong thánh giá Chúa Giêsu.

Tôi đã biết Bậc dự tòng từ năm 1980. Tôi đã mời họ vào trong Tổng Giáo phận Denver và chúng tôi đã thiết lập một chủng viện Redemptoris Mater ở đó. Tôi trở thành quen thân nhiều hơn với Bậc dự tòng từ khi tôi tới Roma. Theo ý tôi, đó là một trong các diễn tả tốt nhất, một trong những tuyên bố tốt nhất về mầu nhiệm phục sinh mà Thần khí đã ban cho Giáo Hội ngày nay.

Các giám mục và các linh mục Hoa kỳ trước hết phải đương đầu với sự kiện là cơn khửng hoảng xuất hiện trong năm 2002 là một cơn khủng hoảng trong sự sống cộng đồng giáo xứ, không hẳn trong chức linh mục nhưng trong cách thức các linh mục liên hệ với dân chúng trong những cộng đồng giáo xứ.

Người ta phải công nhận rằng các giáo xứ đang đương đầu với một cơn khủng hoảng tại Hoa kỳ, và cơn khủng hoảng đó được chứng tỏ không những bởi vấn đề lạm dụng nhưng cũng bởi sự sa sút có tính phát sinh--từ 1967-68--của các dấu bí tích sống động của Giáo Hội. Những dấu sống động cũng sa sút đến con số truyền chức linh mục trong Giáo Hội Hoa kỳ.

Sau khi thừa nhận cơn khủng hoảng này, các linh mục, giám mục và giáo dân của Giáo Hội lúc đó phải bắt đầu tự hỏi, " Thần khí đang kêu gọi chúng ta phải làm gì để cải thiện Giáo Hội?"

Tôi thiết nghĩ một trong những dụng cụ mà Thần Khí ban cho chúng ta là những cộng đồng giáo dân mới, kể cả Bậc Dự Tòng. Mặc cho sự kiện là rất nhiều người gặp những chống đối đối với Bậc Dự Tòng tại Hoa kỳ, tôi xác tín rằng nhưng phương tiện đổi mới trong Giáo Hội vẫn là những cộng đồng mới và vẫn là Bậc Dự Tòng.

Những vụ xung đột ngày càng nhiều giữa nền văn hóa hiện nay và Ðức tin, xem ra cản trở nhiều người Công giáo, không cho họ chấp nhận những huấn giáo của Giáo Hội về các vấn đề luân lý. Làm sao lỗ trống giữa huấn quyền và nền văn hóa hiện nay có thể chũa lành?

HY Stafford: Tôi tưởng giáo dân có nhiều điều dạy chúng ta trong sự này. Tôi nghĩ tới những người giáo dân như một số thần học gia tại Anh Quốc Alasdair Maclntyre, Charles Taylor, David Schindler và một nữ thần học gia nổi tiếng tại Úc là Tracey Rowland.

Họ chỉ cho chúng ta thấy rằng chúng ta phải làm tốt hơn đến tầm hiểu biết về thần học văn hóa của chúng ta. Tôi hiểu họ muốn nói rằng Công đồng Vatican II quá lạc quan trong lời tuyên bố của mình qua thông điệp "Gaudium et Spes"--nhất là về tình trạng tương hợp giữa nền văn hóa hậu hiện đại và Ðức tin Công giáo. Tôi hoàn toàn đồng ý với phán đoán này.

Như vậy, vấn đề thứ nhất mà Giáo Hội phải đương đầu là đánh giá, bình phẩm tính tương hợp giữa những khía cạnh của nền văn hóa Nietzchean tự do như đang hiện diện tại phương Tây, nghĩa là tại Hoa kỳ, Canada, Tây Âu và ngày càng gia tăng tại nhiều phần khác trong thế giới, và xét coi theo ánh sáng Tin Mừng nền văn hóa Nietzchean tự do này, trên thực tế có tương hợp hay thù địch với Tin Mừng. Tôi nghĩ cách riêng đến lãnh vực tình dục nhân bản, về nền kinh tế, về sự tự do hàn lâm, nhất là tại các đại học và tại các trường học.

Điều quan trọng đối với Giáo Hội, không những đối với phẩm trật Giáo Hội, các linh mục và giám mục, mà còn đối với giáo dân, là cùng chung phân tích quan điểm chủ nghĩa cá nhân trong nền văn hóa phương Tây, không những từ quan điểm xã Hội học, nhưng phải kể trên hết là từ một quan điểm Tin mừng-phúc âm, và từ truyền thống của Giáo Hội ăn rễ sâu trong truyền thống Tin Mừng-phúc âm này, nhất là qua những tác phẩm và những huấn giáo của ThánhThoma Aquinas

Quan sát kỷ đến ý nghĩa của sự tự do tại Mỹ hiện nay và nhìn kỷ tới những nguồn gốc triết học của nó, đặc biệt từ Hegel. Hầu hết quyền tự do học thuật chúng ta đang thực thi tại Hoa kỳ, đến từ Johns Hopkins, và Johns Hopkins chịu ảnh hưởng nặng bởi triết học Hegel.

Chúng ta phải xem xét ý nghĩa từ một quan điểm tin mừng cho sự toàn cầu hóa kinh tế và quan sát cái gì đang thực hiện cho các nước Thế giới thứ Ba, cách riêng tại châu Mỹ Latinh và châu Phi, và hệ thống kinh tế tại Hoa kỳ mang trách nhiệm nhiều dường nào đối với việc tạo ra những hoàn cảnh này mà nhiều người thấy rõ là ngày càng bất công.

Quan điểm của tôi là cơn khủng hoảng trong Giáo Hội sẽ tiếp tục cho tới khi Giáo Hội Công giáo ý thức và hiểu biết sâu xa hơn--và trên mọi phán đoán--về sự tương hợp của những yếu tố trong nền văn hóa hiện đại và Ðức tin Công giáo. Xác ticủa tôi là cho tới khi chúng ta có được sự sáng sủa cho phán đoán này, phán đoán có tính phê bình về những quan hệ của văn hóa với Ðức tin, thì cơn khủng hoảng kinh niên sẽ tiếp tục bên trong Giáo Hội và bên trong chức linh mục và bên trong giáo xứ.

Như vậy, tóm lại, nền văn hoá hiện đại có phải là một " praeparatio evangelica " [sự chuẩn bị tin mừng] hay không? Và những yếu tố nào trong nền văn hóa hiện đại không phải là "praeparatio evangelica"? Theo tôi nghĩ, có nhiều yếu tố trong nền văn hóa này sẽ được xác định là thù địch với hôn nhân công giáo, với sự hiểu biết Kitô hữu về công lý, về Ðức bác ái và với sự hiểu biếu biết Kitô hữu về nhân Ðức.

Có phải đó là nơi sự tân phúc âm hóa cần phải đến phải không thưa Ðức Hồng Y?

HY Stafford: Việc tân phúc âm hóa trước hết, tùy thuộc vào sự muốn đạt một phán đoán về tính tương hợp hay không tương hợp giữa nền văn hoá hậu hiện đại và Ðức tin Công giáo. Tất cả mọi sự, theo tôi nghĩ tùy thuộc vào phán đoán này.

Thưa Ðức Hồng Y như thế phải có những lời mạnh mẽ phải không?

HY Stafford: Phải, những lời mạnh mẽ đòi hỏi một ý muốn can đảm xử lý vấn đề. Nếu các giám mục Hoa Kỳ tiến lên với một kiểu tập hợp nào đó, hoặc tại một hôi nghị khoáng đại hay tại một thượng Hội đồng giám mục dưới quyền chủ tọa của Ðức Thánh Cha, thì theo tôi nghĩ trước hết các giám mục phải có can đảm đương đầu với vấn đề,

Một phương diện của sự tương quan giữa Ðức tin và nền văn hóa hậu hiện đại là sự tương quan giữa chính trị và lương tâm Kitô hữu. Toà Thánh mới ra một văn kiện, "Những Nhận xét Liên quan tới Những Đề Nghị Công nhận Hợp pháp những Kết hợp giữa những Người Đồng phái Tính."

Văn kiện này khẳng định các nhà chính trị Công giáo bắt buộc phải chống đối sự thừa nhận hợp pháp các kết hợp đồng phái tính, nếu không là "lỗi nặng về luân lý." Những nhà chính trị địa phương đã phản ứng đối với văn kiện, nói rằng văn kiện đó không thích hợp để Giáo Hội dạy các nhà chính trị. Hồng Y giải thích như thế nào?

HY Stafford: Nguyên lý chung là như thế này: nếu chúng ta xét rằng tôn giáo không thích hợp với chính trị, bấy giờ chúng ta công nhận lãnh vực chính trị không còn là thành phần của nước Chúa. Nếu chúng ta phân chia tính tôn giáo, tính thánh thiêng ra khỏi tính thế tục, bấy giờ chúng ta han chế nghiêm trọng trong những biên giới rất hạn hẹp, hành động của Thiên Chúa trong sự sống thế giới. Nhưng đó không phải là điều chúng ta tuyên xưng trong đưc tin của chúng ta với tư cách là người Công Giáo. Thiên Chúa không đơn thuần là Thiên Chúa bị giới hạn trong một lãnh vực riêng biệt sự sống. Người lá Đấng Sáng Tạo vạn vật chúng ta thấy và vạn vật chúng ta không thấy.

Đối với nhà chính trị Công giáo nào sống trọn bí tích rửa tội của mình, không thể có chuyện Thiên Chúa chỉ là một "khoản phụ" cho vào hệ thống, dầu chính trị hay kinh tế. Người Công giáo không hiểu Thiên Chúa như vậy. Người là Ðức Chúa hằng Sống. Chúng ta tuyên xưng trong kinh Tin Kính [rằng] Người là Thần Khí, người là Đức Chúa, người là Đấng ban sự Sống.

Thống đốc [Mario] Cuomo và Tổng Thống John Kennedy, cả hai là người Công giáo, đã có một hành động di hại nghiêm trọng cho giáo dân Công giáo bằng cách dựng nên một con đường hạn chế Thiên Chúa trong vai trò của Người như là Đấng Sáng tạo và Cứu chuộc tất cả nhân loại. Và đối với những nhà chính trị Công giáo ngày nay, việc tin rằng các ông đó [Cuomo và Kennedy] là những hướng dẫn viên cho lương tâm mình, đặt họ vào vị thế hoàn toàn chống lại huấn giáo Công giáo và truyền thống Công giáo.

Hồng Y có sứ điệp gì gởi cho người Công giáo Boston, khi chúng ta vượt qua cơn khủng hoảng?

HY Stafford: Mỗi khi cử hành Thánh Thể chúng ta đọc kinh Lạy Cha, và Chúa Giêsu xem ra nói rằng lời cầu trung tâm của kinh Lạy Cha là lời cầu thứ bốn, ở đó chúng ta cầu xin, theo lời Chúa Giêsu dạy, xin tha nợ chúng con như chúng con cũng tha kẻ có nợ chúng con. Tiếng "như" nầy rất là quan trọng nhất cho sự hiểu biết Kitô hữu về sự sống tin mừng. Điều đó có nghĩa là, chúng ta được Thiên Chúa tha như chúng ta tha cho nhau trong hôn nhân, trong gia đình, trong nơi làm việc của chúng ta, trong giáo xứ, trong những tương quan giữa linh mục và dân chúng, những tương quan giữa linh mục và giám mục.

Như vậy, hy vọng của tôi đối với dân chúng tại Tổng Giáo phận Boston là họ sẽ thấy viết chữ thật to trên Nhà thờ giáo phận và trên nhà thờ giáo xứ, "Ở Đây--ở đây--người ta có thể gặp được sự tha thứ." Chỉ trong một cộng đồng như thế chúng ta mới có khả năng khám phá được niềm hy vọng.