CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN A
A. DẪN NHẬP

Trong cuộc sống hằng ngày, người ta thường nói nhiều mà làm ít, giữa lý thuyết và thực hành còn một khoảng cách lớn, vì thế mới có câu nói :”năng thuyết bất năng hành”, đúng là làm láo, báo cáo hay. Lý thuyết có hay mấy mà không được thực hiện thì cũng không có giá trị.

Trong đời sống đạo cũng thế, chúng ta cần biết Chúa, cần thông hiểu giáo lý vì “vô tri bất mộ” mà. Như thế cũng chưa đủ, còn phải đem cái biết ra thực hành trong đời sống hằng ngày nữa. Chúa Giêsu đã nói :”Ai yêu mến Thầy thì hãy giữ lời Thầy” mà “giữ lời Thầy” thì có nghĩa là hãy thực hành những điều Thầy dạy, là làm theo ý Thầy. Bài dụ ngôn về “Hai người con” trong Tin mừng hôm nay đã chứng tỏ điều đó.

Người ta thường nói :”Trăm voi không được bát nước xáo” (Tục ngữ). Câu này mang tính chất mỉa mai, ngụ ý chê những người ba hoa khóac lác, hứa hẹn suông, nói thì to tát, mà rốt cuộc chẳng có gì, họ là người biết nói mà không biết làm. Có những người xưng mình là Kitô hữu, nhưng họ chỉ có cái tên, cái mã bề ngòai, còn cuộc sống của họ chẳng có gì cả, có khi còn ngược lại. Hãy sống trung thực với lòng mình. Hãy sống cho xứng đáng là một Kitô hữu chính danh để cuộc sống của mình lúc nào cũng phải “ngôn hành đồng nhất”.

B.. TÌM HIỂU LỜI CHÚA

+ Bài đọc 1 : Ez. 18,25-28

Cái nhìn của con người chỉ có một chiều : hoặc tốt hoặc xấu. Đã tốt thì cứ tốt, đã xấu thì cho xấu luôn. Do đó, con người có hai mặc cảm : Tự tôn và tự ti.
- Tự tôn hay tự mãn : có những người cho là mình “công chính” rồi, nên tự mãn không chịu cố gắng sống tốt hơn.
- Tự ti : có những người cảm thấy mình tội lỗi nên thất vọng, cứ ở lỳ trong tội lỗi, không muốn cố gắng nữa.

Cái nhìn của Thiên Chúa có hai chiều hoán đổi : người tốt có thể trở nên xấu và người xấu có thể trở nên tốt. Tiên tri Ezéchiel cảnh cáo những người tự mãn, họ sẽ bị chết nếu bỏ đường công chính và phạm tội ác. Trái lại, những người đang ở trong tình trạng tội lỗi mà biết bỏ đường gian ác, quay về đường lành thì sẽ được cứu sống.

Như vậy, Thiên Chúa mở rộng cho con người con đường tương lai để người tội lỗi bỏ con đường xấu mà trở nên tốt lành và người công chính sẽ trở nên tốt lành hơn.

+ Bài đọc 2 : Pl 2,1-11

Thánh Phaolô vạch ra cho các tín hữu Philipphê một phương hướng để duy trì tình đoàn kết huynh đệ trong cộng đoàn Kitô hữu. Chúng ta có thể chia phương hướng này thành hai phần :

a) Để tránh sự chia rẽ mà duy trì sự đoàn kết huynh đệ thì đừng ai lấy bản thân mình làm tiêu chuẩn để mà tự mãn. Cũng đừng lấy người khác làm đối tượng để phân bì.

b) Thánh Phalô đã xử dụng một Thánh thi phụng vụ đã được xử dụng trong cộng đoàn Kitô hữu để ca tụng sự khiêm nhường thẳm sâu và sự vâng phục tuyệt đối của Chúa Giêsu khi Ngài chấp nhận từ bỏ mọi vinh quang trên trời để mặc lấy thân xác hèn mọn của con người. Ngài đã hạ mình xuống phục vụ cho ơn cứu rồi loài người, nhưng nhờ đó Thiên Chúa đã tôn vinh Ngài lên đến tột bậc.

+ Bài Tin mừng : Mt 21,28-32

Đường lối của Thiên Chúa khác với đường lối của loài người. Nếu trong bài đọc 1, tiên tri Ezéchiel cho biết Thiên Chúa không nhìn đến quá khứ mà chỉ nhìn đến tương lai, Ngài mở đường cho những người tội lỗi có thể quay về với đường lành, thì bài Tin mừng hôm nay Chúa Giêsu hé mở cho chúng ta cái nhìn của Thiên Chúa về cuộc sống con người. Thiên Chúa không quan tâm đến lời nói mà chỉ chú ý đến việc làm.

Để triển khai tư tưởng này, Chúa Giêsu đưa ra dụ ngôn “Hai người con” : đứa thứ nhất đã từ chối lời người cha để đi làm vườn, nhưng sau hối hận lại đi làm. Đứa con thứ hai : mau miệng thưa vâng để đi làm ngay, nhưng rồi nó chẳng chịu đi làm.

Qua dụ ngôn này Chúa Giêsu cho biết :
- Đứa con thứ nhất tượng trưng cho dân ngoại, tuy ban đầu họ đã từ chối, nhưng sau hối hận lại đi “làm” theo ý Thiên Chúa.
- Đứa con thứ hai đại diện cho dân Do thái, họ mau mắn thưa “vâng”, nhận lời ngay, nhưng trong thực tế thì “không làm” theo ý Thiên Chúa.
Dụ ngôn này áp dụng vào lời Chúa Giêsu đã nói :”Có những kẻ đứng trước hết sẽ nên sau hết và kẻ sau hết lại trở nên trước nhất”.

C. THỰC HÀNH LỜI CHÚA

Kitô hữu thật hay giả

I. TÌM HIỂU DỤ NGÔN

1. Dụ ngôn về hai người con

Các thượng tế, kỳ lão, luật sĩ và biệt phái Do thái thường tự hào mình là con cái Abraham, đã từng giữ luật Maisen một cách cặn kẽ, thế nào cũng được phần thưởng là Nước Trời. Theo họ nghĩ, Nước Trời được dành riêng cho người Do thái, còn các dân tộc khác, những người ngoại giáo sẽ bị loại ra ngoài, nhất là những người tội lỗi như bọn thu thuế và gái điếm.

Để sửa đổi quan niệm sai lạc đó, Chúa Giêsu đã đưa ra cho người Do thái dụ ngôn về hai đứa con. Người cha có hai đứa con, ông bảo đứa thứ nhất đi làm vườn nho cho ông, lúc đầu nó từ chối, nhưng sau nghĩ lại, hối hận, lại đi làm. Ông cũng bảo đứa con thứ hai như vậy, nó vui vẻ nhận lời, nhưng nó lại không đi làm. Chúa Giêsu hỏi người Do thái, trong hai đứa con, đứa nào đã làm theo ý cha mình ? Họ đều cho là đứa con thứ nhất.

2. Ý nghĩa dụ ngôn

Chúa Giêsu đã kết luận dụ ngôn này :”Tôi bảo thật các ông, những người thu thuế và gái điếm, sẽ vào Nước Trời trước các ông”. Chưa bao giờ ta thấy Chúa Giêsu đã nói thẳng với người biệt phái như lần này. Chính họ có lẽ cũng không ngờ.

Câu đó có nghĩa là : các ông tưởng mình thánh thiện trong sạch, giữ luật không trách được điểm nào, còn người thu thuế các ông coi như cặn bã xã hội, những người mà các ông cấm không cho đi chung đường với họ, coi như là những đàn bà dơ dáy đến nỗi con cái Israel đi vô ý quệt phải áo họ thì phải về tắm rửa đã. Các ngươi lầm. Những người thu thuế và đĩ điếm mà các người miệt thị đến mức đó sẽ vào Nước Trời trước các ông. Nói rõ là họ tốt hơn các ông.

Sự thực đã xẩy ra : Lêvi (Mt 9,9) và người đàn bà tội lỗi (Lc 7,37) đã theo sống bên Chúa, và biết bao người thu thuế đã tin lời Gioan (Mt 9,10 ; 11,19 ; Lc 3,12) trong khi đó thì Hội đồng Cộng tọa chống đối Chúa và tìm giết Chúa.
(Trần văn Khả, Phúc âm Chúa nhật, năm A, tr 236)

3. Con người thật và con người giả
a) Thế gian có hai hạng người : thật và giả

Người ta chia con người thành hai loại : tốt và xấu, thật và giả. Nhưng làm sao có thể phân biệt một cách chính xác về hai loại người đó ? Ai là người tốt hay xấu ? Ai là người thật hay giả ? Bởi vì có những người bề ngoài tốt lành thánh thiện mà trong lòng thì xấu xa, như người ta thường mỉa mai :

Bề ngoài thơn thớt nói cười
Mà trong nham hiểm giết người không dao.
(Truyện Kiều)

Người đời xưa cũng như đời nay hay công kích những bậc tu hành, những vị này sống khắc khổ, chay tịnh, tuân theo kỷ luật của giới mình, là những người đáng kính nể, nhưng trong nơi riêng rẽ kín đáo thì lại phạm luật trai giới, việc làm bị bại lộ, người đời không kiêng nể đã giáng trên đầu những vị phá giới đó những câu không thương tiếc …

Có những người chỉ chú trọng đến cái dáng bên ngoài theo phương châm “tốt đẹp khoe ra, xấu xa che lại”, nhưng chính cái họ khoe ra không phải là cái tốt thật bên trong mà chỉ là lớp hào nhoáng bên ngoài, làm lòe mắt mọi người, nhưng không bịt được ai :

Khác nào quạ mượn lông công
Ngoài hình xinh đẹp trong lòng xấu xa.
(Ca dao)

Thế giới ngày nay, quá ít người sống chân thật. Quá nhiều người sống mã nước sơn bên ngoài. Họ không còn biết giá trị “tốt gỗ hơn tốt nước sơn”. Lợi dụng nhược điểm này, nghệ thuật tuyên truyền quảng cáo tràn ngập thị trường. Hàng giả, hàng giỏm, đẹp mã, bán chạy như tôm tươi. Hàng thật, hàng tốt thì lại ế ẩm không ai mua. Người tài đức bị liệng bỏ. Kẻ vô tài thất đức, lẻo mồm tâng bốc nịnh hót thì lên như diều, để rồi “làm láo , báo cáo hay” :
Trông anh như thể sao mai,
Biết rằng trong có như ngoài hay không.
(Ca dao)

b) Kitô hữu thật hay giả ?

Theo bài đọc 1 hôm nay, thì tiên tri Ezéchiel cho biết, tiên tri thật thì ít, tiên tri giả thì quá nhiều. Họ làm nhiều người công chính, bỏ đàng công chính của Thiên Chúa đi theo tà thần đế quốc Babylon để kiếm danh lợi. Tiên tri Ezéchiel đã phải quyết liệt cảnh cáo họ :”Khi người công chính bỏ đàng công chính mà làm điều gian phi...thì nó phải chết”. Đồng thời ông cũng kêu gọi :”Kẻ bất luơng bỏ đàng bất lương, mà thi hành người công chính thì nó sẽ được sống”.

Ngày xưa có nhiều tiên tri giả, ngày nay không còn tiên tri nữa thì lại có Kitô hữu giả. Họ mang danh là Kitô hữu nhưng cuộc sống thực tế của họ không còn là Kitô hữu nữa. Có nhiều người cố gắng làm ra vẻ bề ngoài là Kitô hữu nhưng cuộc sống riêng tư của họ không còn là Kitô hữu chính danh nữa, vì họ không còn sống theo luật Chúa nữa. Có thể họ sẽ nói rất hay về đạo đức nhưng trong thực tế họ không sống đạo chút nào. Họ chỉ có cái vỏ bề ngoài là đạo nghĩa.

Muốn trở thành người Kitô hữu chính danh thì cần có sự “Hối cải”, vì như triết gia Soren Kierkegaard, thì “không hề có tình trạng đã thành một Kitô hữu mà chỉ có trong tình trạng đang trở thành một Kitô hữu”.

Theo Mark Link thì sự hối cải chỉ là một tiến trình, là một cuộc du hành đang tiếp diễn và chỉ chấm dứt khi nào chúng ta chết. Tiến trình này gồm ba bước :

- Bước thứ nhất trong tiến trình này là sự bất mãn tận căn với nếp sống hiện tại của chúng ta..
- Bước thứ hai là bước tia lửa làm thành ngọn lửa thúc giục chúng ta làm điều gì đó cho cuộc sống mình.
- Bước cuối cùng là thực hiện việc làm đầu tiên cực kỳ quan trọng là hướng về một cuộc sống mới, nhờ sự cầu nguyện kiên trì.

Các bài đọc hôm nay mời gọi chúng ta khám phá ra cuộc sống của mình. Chúng ta có cảm thấy bất mãn về mối tương giao hiện tại giữa mình và Chúa Giêsu không ? Chúng ta có ao ước thân tình sâu sắc với Chúa không ? Chúng ta có muốn yêu thương gia đình láng giềng của chúng ta nhiều hơn giống như Chúa Giêsu yêu thương họ không ?

Nếu có thì các bài đọc hôm nay có thể ví như tia lửa bật ra để biến thành ngọn lửa mà chúng ta cần thiết phải có để làm nên một điều gì cụ thể cho các mối tương giao trên (x. Mark Link, Giảng lễ Chúa nhật, năm A, tr 289).

II. TRỞ THÀNH KITÔ HỮU THỰC THỤ

1. Tránh tính phô trương

Chúa Giêsu đã nhiều lần lên án thói phô trương của đám luật sĩ và biệt phái. Ngài không ngại gọi họ là rắn độc, mồ quét vôi trắng. Chúa khuyên họ hãy lo làm đẹp cái bên trong chứ đừng chỉ lo cái bên ngoài :”Khốn cho các ngươi, hỡi các luật sĩ và biệt phái ! Các ngươi giống như mồ mả tô vôi, bên ngoài có vẻ đẹp, nhưng bên trong thì đầy xương người chết và đủ mọi thứ ô uế. Các ngươi cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác”(Mt 23,27).
Cái tính phô trương này xuất hiện trong khi người ta không để ý đến bởi vì nó được ngụy trang bằng nhiều cách. Nhưng giấu đầu hở đuôi, sự phô trương cũng bị lộ ra một cách bất ngờ.

Truyện : Ông Diogène và ông Platon.
Platon hồi ấy là người yêu nghệ thuật. Nhà ở của ông được trang trí bằng nhiều bức thảm qúi đẹp. Một hôm, DIOGENE, - người chủ trương sống màn trời chiếu đất, đầu đường xó chợ -, tới thăm Platon. Tới nơi, mặt đỏ gay, con mắt trợn trừng, ông ta vừa đạp thình thịch lên tấm thảm qúi của Platon, vừa nghiến răng nói :
- Ta chà đạp dưới chân tính phô trương kiêu hãnh của nhà ngươi.
Ông Platon bình tĩnh trả lời :
- Phải, và với một sự phô trương kiêu hãnh sâu rộng hơn nhiều.

Thì ra đời sống bên ngoài đầy quảng cáo của Diogène không đi đôi với đời sống bên trong. Nhà quân tử cũng mắc phải chứng bệnh phô trương như ai.
(Vũ minh Nghiễm, Dừng, 1962, tr 207).

2. Sống trung thực với lòng mình

Chúa Giêsu đã nói :”Có thì nói có, không thì nói không, thêm thắt là do lòng xấu mà ra”. Biết thế, nhưng con người vẫn phô trương, mà phô trương là phô ra ngoài những cái mình không có, ví dụ các luật sĩ và biệt phái, họ chỉ có cái vỏ bề ngoài, còn bên trong thì trống rỗng.

Phải sống trung thực với lòng mình, phải làm sao cho “ngôn hành đồng nhất”, lời nói và việc làm không được mâu thuẫn nhau. Nhiều người nói thì rất hăng nhưng khi làm thì chẳng thấy đâu, họ giống như đứa con thứ trong dụ ngôn hôm nay. Lời nói không có giá trị khi không có việc làm kèm theo :”Đức tin không có việc làm là đức tin chết”. Nói mà không làm thì sẽ bị người ta chê cười :

Nói thì đâm năm chém mười,
Đến khi tối trời chẳng dám ra sân.
(Tục ngữ)

Người ta đánh giá trị một người không phải ở lời nói nhưng là việc làm. Có một khoảng cách xa giữa lời nói và việc làm, cũng như giữa lý thuyết và thực hành : một lý thuyết dù hay mấy mà không đem ra thực hành thì cũng vô ích. Vì vậy mà người ta nói :”Năng thuyết bất năng hành”, chỉ nói mà không làm.

Truyện : Anh chàng Aristogiton.
Aristogiton hồi ấy lúc thanh bình, là một nhà ái quốc thượng thặng. Thở ra lửa trận, nói ra sấm sét. Chàng lợi dụng mọi hoàn cảnh để cổ võ những đức tính anh hùng kiêu xa của người chiến sĩ yêu nước. Nghe chàng nói, thính giả có ấn tượng như chàng đang tuyên chiến với tất cả các cường quốc trên thế giới.
Nhưng đến khi phải thi hành lệnh quân dịch, người ta thấy chàng đột nhiên bước đi khập khiễng, tay chống gậy, chân thì băng bó, trông thảm não vô cùng.
Biết rõ những bí ẩn của chàng, ông Photion trợn mắt nói :”Aristogiton đã làm một người què lại còn hèn nhát”.

III. BÀI HỌC THỰC HÀNH

Theo các bài đọc hôm nay, chúng ta có thể rút ra được hai bài học :

1. Giá trị của một đời người không nằm ở quá khứ đạo đức hay tội lỗi của người đó, mà hệ ở hiện tại người đó có quyết tâm sống công chính hay không. Theo bài đọc 1 :”Khi người công chính bỏ lẽ công chính của mình và làm điều bất chính mà chết, thì chính vì điều bất chính nó đã làm mà nó phải chết. Còn nếu kẻ gian ác từ bỏ điều dữ nó đã làm, mà thi hành điều chính trực công minh, thì nó sẽ cứu được mạng sống mình... nó không phải chết”.

2. Giá trị thực của con người không do những lời nói tốt đẹp người đó nói ra, mà do hành động của người đó :”Trong hai người con đó, ai đã thi hành ý muốn của người cha ? Họ trả lời : “Người thứ nhất””. Vì Thiên Chúa theo đường lối như thế cho nên Ngài đã ưu ái những người một thời nổi tiếng tội lỗi như Giakêu, Mađalena, tên trộm lành...

Phần chúng ta đã biết đường lối của Thiên Chúa là như thế, chúng ta phải làm sao ?

- Đừng nghĩ rằng mình đang thuộc hàng “công chính” để rồi ngủ mê trong ảo tưởng đạo đức về mình.

- Cũng đừng cho rằng mình thuộc hàng “thu thuế và đĩ điếm” để rồi buông xuôi cho dòng đời lôi cuốn. (x. Carôlô, Sợi chỉ đỏ, năm A, tr 491-492)

Hãy sống trung thực với lòng mình. Hãy sám hối và chỉnh sửa lại cuộc sống, sao cho mình xứng đáng là con Chúa, là Kitô hữu để cuộc sống tốt lành của mình toả ra mùi thơm tho nhân đức vì “hữu xạ tự nhiên hương”. Lúc đó không cần phải phô trương, tự cuộc sống của mình đã minh chứng điều đó :

Trúc xinh trúc mọc bờ ao,
Em xinh em đứng chỗ nào cũng xinh.
Trúc xinh trúc mọc đầu đình,
Em xinh em đứng một mình cũng xinh.
(Ca dao)

Chúng ta hãy cầu xin Chúa ban cho chúng ta có một tâm hồn và thể xác xinh đẹp như lời cầu của nhà hiền triết Aristote :

“Lạy các thần thánh
Xin cho tôi được xinh đẹp bên trong.
Xin cho mọi sự tôi có ở bên ngoài
đều thuận lợi cho vẻ đẹp của hồn tôi”.