Ngày 4 tháng 11 vừa qua, Tòa Nhân Quyền của Âu Châu phán quyết rằng sự hiện diện của Tượng Chịu Nạn tại các trường học là một vi phạm tới quyền tự do tôn giáo của các học sinh. Theo phán quyết của 7 chánh án thuộc tòa này, thì “tượng chịu nạn rất dễ bị các học sinh đủ cỡ tuổi giải thích như một biểu tượng tôn giáo. Như thế, chúng có cảm tưởng đang bị giáo dục trong một bầu không khí kinh viện của một truyền thống tôn giáo nào đó”.
Các chánh án trên đã ra lệnh phải bồi thường 5,000 đồng Âu Châu cho Soile Lautsi Albertin, một công dân Ý gốc Phần Lan, người, vào năm 2002, đã khởi tố để tháo bỏ tượng chịu nạn khỏi các lớp học nơi con trai bà theo học tại Padua. Sau khi các tòa án Ý đồng loạt phán quyết chống lại mình, bà bèn khởi tố lên Liên Hiệp Âu Châu, và như đã nói trên, Liên Hiệp này đã đứng về phía bà.
Dù phạt chính phủ Ý, nhưng toà án trên không ra lệnh tháo bỏ tượng chịu nạn vì luật pháp Ý nhìn nhận việc treo tượng đó tại các lớp học. Chính phủ Ý có 3 tháng để chống án.
Massimo Albertin, chồng nguyên cáo, hiển nhiên rất vui trước phán quyết trên. Ông ta nói: “Tượng chịu nạn gây ra nạn kỳ thị”. Tuy nhiên, theo Elisabeth Lev, một giáo sư nghệ thuật của Đại Học Duquesne tại Rôma, quan điểm của Albertin không được chính phủ Ý cũng như đại đa số dân chúng Ý ủng hộ. Các phóng viên truyền hình đã đi khắp các nơi công cộng để ghi nhận sự ngỡ ngàng và bối rối của người dân Ý.
Từ hữu khuynh tới tả khuynh, các đảng phái Ý đều không ủng hộ phán quyết trên. Pier Ferdinando Casini, lãnh tụ Liên Hiệp Kitô Giáo và Dân Chủ Trung Dung, cho rằng phán quyết trên là “hậu quả do sự hèn nhát của các thống đốc Âu Châu mang tới, những người đã từ khước không nhìn nhận gốc rễ Kitô Giáo của Âu Châu trong Hiến Pháp Âu Châu”. Ngay Paolo Ferrero,tổng thư ký Đảng Cộng Sản Ý, cũng nhận định rằng “phán quyết Strasburg không phải là một giải đáp tốt cho nhu cầu của một nhà nước thế tục, vốn là những nhu cầu hợp pháp và có thể hiểu được”.
Tuy nhiên, theo Lev, người vô thần và các liên đoàn Hồi Giáo, thẩy đều hân hoan vì phán quyết này. Họ không biết rằng một số chính khách Ý tỏ ra quan tâm tới một số khía cạnh có tính đe dọa của nó. Bộ Trưởng Giáo Dục Mariastella Gelmini cảnh cáo rằng “Liên Hiệp Âu Châu không được dựng lên do việc loại bỏ các truyền thống của các quốc gia cá thể”.Còn Sandro Bondi, Bộ Trưởng Văn Hóa, thì than rằng: “phán quyết này đã tách chúng ta ra khỏi ý niệm Âu Châu do những người như De Gaspari, Adenauer và Schumann đưa ra (tất cả đều là cha đẻ của Liên Hiệp Âu Châu). Cứ cái đà này, thất bại là cái chắc”.
Cũng theo Elisabeth Lev, tại ý, tượng chịu nạn không phải chỉ là một biểu tượng tôn giáo. Nó còn nhắc người ta nhớ tới điều vốn tiếp tục thống nhất hóa bán đảo này sau khi Đế Quốc Rôma sụp đổ. Từ ngày Constantinô thấy cây thánh giá trước trận đánh trên Cầu Milvian, tượng chịu nạn vốn là ngọn hải đăng hướng dẫn các thành tựu vĩ đại nhất của Ý. Vật tưởng niệm cuộc hy sinh của Chúa Kitô, thay vì là nguyên nhân gây kỳ thị, thực sự đã khiến người Ý đạt được những thành quả tốt đẹp nhất về mọi mặt. Thực thế, khi người Ý bộc phát giúp một người khốn khó nào đó, họ thường nói “quel povero Cristo” có ý kêu tới “Đấng Kitô khốn khổ” mà họ vốn nhìn thấy trên thánh giá, Đấng đã thúc đẩy họ thực hiện các hành vi vô vị kỷ này.
Lev bảo rằng: một trong những điều đầu tiên khiến bà rời bỏ Pháp để định cư ở Ý chính là ý thức mạnh mẽ về bản sắc và truyền thống nơi người Ý. Trong tư cách một nhà sử học về nghệ thuật, bà vẫn luôn tìm được thế giới của Michelangelo và Giotto nơi các hậu duệ hiện đại của họ. Thành ra, phán quyết của Tòa Án Nhân Quyền Âu Châu, vốn nhằm mục đích loại bỏ các dị biệt giữa các dân tộc thuộc Liên Hiệp Âu Châu, thực ra đã kết án Ý vì đã duy trì sợi dây nối kết với bản sắc Kitô giáo của họ. Phán quyết này hẳn phải là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với công dân của Liên Hiệp Âu Châu, thúc giục họ nên theo dõi sát nút các ý thức hệ đang mưu toan được ghép vào các nước thành viên của nó. Hầu hết người Âu Châu coi Liên Hiệp Âu Châu như một chiếc xe bán nước béo, dẫn các nước hội viên tới thịnh vượng lớn hơn, nhưng không có gì là miễn phí cả. Các công dân Âu Châu nên hiểu ra rằng vì một ít quần áo hợp thời trang cũng như mấy chiếc xe hơi bóng bẩy, kết cục họ dám phải bán cả linh hồn.
Người ta tự hỏi phán quyết này kết cục sẽ ra sao? Liệu người ta có phải hủy hoại các đền đài hay xé bỏ các tranh vẽ Đức Mẹ và Hài Nhi đang âu yếm nhìn chúng ta ở muôn vàn góc phố chăng? Liệu Đức Giáo Hoàng có bị cấm không được đeo thánh giá khi đi kiệu Mình Thánh hay không? Di sản sau cùng từ phán quyết của Tòa Âu Châu sẽ là một hố thẳm, một cuộc phá nát cái đẹp và truyền thống vốn tạo ra sắc thái đặc thù của văn hóa Ý. Như Đức Bênêđíctô XVI nhiều lần nhắc nhở, niềm tin và phát biểu tôn giáo luôn nằm ở cốt lõi nền văn hóa nhân bản. Loại bỏ chúng là lấy hết linh hồn siêu việt của nền văn hóa ấy.
Lấp được cái hố thẳm ấy là điều rất khó khăn. Vì Rex Murphy, viết cho tờ Globe and Mail vào tuần rồi, đã nhận xét rằng: phán quyết chống lại tượng chịu nạn kia trùng hợp với một phán quyết tại Vương Quốc Thống Nhất (Anh), là phán quyết ban cấp cho các niềm tin về thay đổi khí hậu cùng một vị thế pháp lý y như tôn giáo. Nếu đúng như thế, thì quả Âu Châu đang hạ bệ Cây Ban Sự Sống để cứu cây cối môi sinh.
Thập tự chinh tân thời
Theo Lev, để đáp lại phán quyết trên, Ý không quan tâm dùng quân đội để tổ chức các thập tự chinh, mà là dùng thứ vũ khí mạnh mẽ hơn nhiều, tức truyền thống nghệ thuật và văn hóa lâu đời của mình. Giữa những cuộc tranh luận gay gắt về tượng chịu nạn trong lớp học, Ý đã tổ chức một cuộc triển lãm xôm tụ để nhắc cho Liên Hiệp Âu Châu nhớ đến gốc rễ Kitô Giáo của mọi nước trong Liên Hiệp và của chính lục địa.
“Quyền Lực và Ơn Thánh: Các Thánh Quan Thầy của Âu Châu” chính là cuộc trưng bày độc đáo tại Palazzo Venezia ở Rôma, kéo dài tới ngày 31 tháng Giêng năm tới. Hơn một trăm tác phẩm của các nghệ sĩ từ El Greco tới Hans Memling, từ Caravaggio tới Mantegna, và từ Titian tới Murillo được trưng bày cạnh nhau, cùng với các tranh ảnh của Đông Phương và các trích đoạn từ các cuốn phim nổi tiếng nhất về các thánh.
Được đồng tài trợ bởi chính phủ Ý và Tòa Thánh, cuộc triển lãm này đã được khai mạc vào ngày 7 tháng 10 bởi Thủ Tướng Ý, Silvio Berlusconi và Đức Hồng Y Tarcisio Bertone (trùng hợp với ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi và ngày kỷ niệm chiến thắng Lepanto, nơi các lực lượng thế tục và lực lượng Giáo Hội đã chiến đấu bên nhau để cứu Âu Châu Kitô Giáo khỏi họa xâm lăng của Thổ Nhĩ Kỳ).
Đức TGM Gianfranco Ravasi, Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, trong bài đầu tiên giới thiệu cuộc triển lãm, đã đặt một câu hỏi khá khiêu khích. Mô phỏng theo Albert Camus, ngài hỏi: “Người ta có thể là thánh mà không cần Thiên Chúa được không? Làm một người thiện chí có đủ hay không?”. Câu trả lời hết sức vang dội của ngài là “không”. Ngài viết: Ơn thánh, tức sự viên mãn của đức tin, là điều chủ yếu đối với việc làm thánh. Hỗ trợ cho cái nhìn của ngài là 20 thế kỷ các vị nam nữ từ những vị tử đạo đầu tiên tới Mẹ Chân Phúc Têrêxa thành Calcutta, mà đời sống và việc làm phi thường đã thành tựu được là nhờ việc các ngài hợp tác với ơn thánh của Thiên Chúa.
Ngạc nhiên hơn sao bản tấm kính mầu cửa sổ Nhà Thờ Chánh Tòa Le Mans, là những lời mở đầu các ghi chú giáo khoa đại loại như: “Lịch sử nên thánh của Kitô Giáo và lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Âu Châu có liên hệ mật thiết với nhau”. Sức mạnh của các thánh, một ghi chú khác viết, là “mối liên kết giữa trời và đất”.
Phòng trưng bày đầu tiên dành cho Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Tấm kính mầu rạng rỡ, tấm ảnh Nga vẽ Đức Mẹ dịu hiền với Chúa Hài Nhi và bức tranh táo bạo của Murillo vẽ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai đã chứng minh cho Âu Châu thấy rõ lòng sùng kính Đức Mẹ trong cả không gian lẫn thời gian.
Các chứng nhân tử đạo, nhất là Thánh Phêrô, chiếm phòng kế bên, nhưng chỗ danh dự nhất dành cho Thánh Martin thành Tours, vị thánh có ngày mừng rơi vào ngày Thứ Tư. Thánh Martin là vị thánh đầu tiên không phải là tử đạo. Là một vị ẩn tu, tu viện trưởng, giám mục và nhà truyền giáo, Thánh Martin dẫn đường cho thế giới các Kitô hữu vừa được luật pháp nhìn nhận phải sống cuộc sống như Chúa Kitô ra sao khi không còn bị bách hại nữa.
Phong trào đan viện là hình thức nên thánh kế tiếp được cuộc triển lãm thăm dò. Thánh Bênêđíctô, người mà lời thề ổn định từng đem lại trật tự cho cảnh hỗn mang ngay sau khi Rôma bị sụp đổ, được trình bày bên cạnh bức tranh Thánh Gioan Tiền Hô đang suy niệm của Caravaggio. Bức chân dung tuyệt mỹ về thánh nhân của Hans Memling cho thấy Thánh Bênêđíctô đang đọc bộ luật của ngài, một bộ luật được cuộc trưng bày này coi là “phương tiện để duy trì kiến thức, văn bản, tập quán, kỹ thuật và các giá trị của nền văn minh thời cổ”.
Việc khai triển ra lòng sùng kính các thánh nhờ các phép lạ và tưởng niệm đã được trình bày qua các chứng tích cảm động thuở xưa được vẽ trên các ô bảng cổ, nhưng cũng trên nhiều tấm vải cực lớn của họa sĩ người Nga tên Illarion Michaijlovic Prjanisnkov từ năm 1887. Được gọi là “Ngày của Chúa Cứu Thế”, công trình này sử dụng những màu thật sáng để từ từ làm sáng cả một bầu trời xám như chì đang lơ lửng phía trên, qua đó gợi cho người thưởng lãm cả một truyền thống đức tin lâu dài của nước Nga. Phần triển lãm này cũng trưng bày Thánh Nicholas thành Bari, được cả người Đông Âu lẫn người Tây Âu yêu kính.
Các nhà huyền nhiệm qúy yêu của Âu Châu cũng đã được trình bày một cách trang trọng. Ô vẽ tinh tế của Jan Van Eyck mô tả Thánh Phanxicô được in năm dấu, trong khi Thánh Catarina thành Sienna, quan thầy Âu Châu, được họa trong các ô nhỏ trên những tranh vải lớn. Thánh Stanislaus của Ba Lan đã dẫn đầu việc ca tụng các vị giám mục và các nhà truyền giáo, tức những người đã mang Lời Chúa tới các lãnh thổ Âu Châu. Thánh St. Stephen của Hung Gia Lợi và Thánh Louis của Pháp đã nêu gương cho những người chiếm giữ quyền lực tạm bợ ở trần gian biết sống sao cho thánh thiện. Tuy nhiên, việc phối hợp giữa uy quyền trần gian với sự thánh thiện là một phối hợp khá mong manh và sự mong manh ấy cũng đã được cuộc trưng bày này mô tả. Nhiều đe dọa đã xâm phạm tới quyền tự do của Giáo Hội, cả bằng cách khóa cứng tự do tôn giáo lẫn làm cho tôn giáo ra hủ hóa. Cuốn phim năm 1964 của Peter Glenville tựa là “Beckett”, được chiếu trong cuộc triển lãm, đã cho thấy Đức TGM của Canterbury bị các tay sát nhân của vua Henry II xử tử ra sao.
Cuộc trưng bày kết thúc với lòng ngưỡng mộ dành cho Thánh Thomas More. Bức chân dung vẽ ngài của Hans Holbein cho thấy ngài đang như suy niệm các hình ảnh trong cuốn phim năm 1966, tựa là “Người muôn mùa” của Fred Zinneman. Các ô giáo khoa nhận định về chương này có những lời lẽ như sau: “Cuộc trưng bày này dẫn tới kết luận: sự quân bình giữa quyền lực và ơn thánh tùy thuộc nguyên tắc tự do tôn giáo, điều vốn là tiêu chuẩn để hiểu một cách đúng đắn nguyên tắc thế tục tính của nhà nước. Nguyên tắc này phải bao gồm việc nhìn nhận phẩm giá con người, vốn là những hữu thể có lương tâm bẩm sinh tự do và phù hợp theo lý trí; lương tâm này vốn là lời đáp trả đối với Thiên Chúa, mà không quyền lực nào có thể xui khiến hay ngăn cản”.
Những lời hình như phát ra từ cửa miệng hàng trăm vị thánh của Âu Châu, được cuộc trưng bày này mô tả, thiết tưởng có tính thuyết phục hơn cả phán quyết của các chánh án Tòa Nhân Quyền Âu Châu.
Các chánh án trên đã ra lệnh phải bồi thường 5,000 đồng Âu Châu cho Soile Lautsi Albertin, một công dân Ý gốc Phần Lan, người, vào năm 2002, đã khởi tố để tháo bỏ tượng chịu nạn khỏi các lớp học nơi con trai bà theo học tại Padua. Sau khi các tòa án Ý đồng loạt phán quyết chống lại mình, bà bèn khởi tố lên Liên Hiệp Âu Châu, và như đã nói trên, Liên Hiệp này đã đứng về phía bà.
Dù phạt chính phủ Ý, nhưng toà án trên không ra lệnh tháo bỏ tượng chịu nạn vì luật pháp Ý nhìn nhận việc treo tượng đó tại các lớp học. Chính phủ Ý có 3 tháng để chống án.
Massimo Albertin, chồng nguyên cáo, hiển nhiên rất vui trước phán quyết trên. Ông ta nói: “Tượng chịu nạn gây ra nạn kỳ thị”. Tuy nhiên, theo Elisabeth Lev, một giáo sư nghệ thuật của Đại Học Duquesne tại Rôma, quan điểm của Albertin không được chính phủ Ý cũng như đại đa số dân chúng Ý ủng hộ. Các phóng viên truyền hình đã đi khắp các nơi công cộng để ghi nhận sự ngỡ ngàng và bối rối của người dân Ý.
Từ hữu khuynh tới tả khuynh, các đảng phái Ý đều không ủng hộ phán quyết trên. Pier Ferdinando Casini, lãnh tụ Liên Hiệp Kitô Giáo và Dân Chủ Trung Dung, cho rằng phán quyết trên là “hậu quả do sự hèn nhát của các thống đốc Âu Châu mang tới, những người đã từ khước không nhìn nhận gốc rễ Kitô Giáo của Âu Châu trong Hiến Pháp Âu Châu”. Ngay Paolo Ferrero,tổng thư ký Đảng Cộng Sản Ý, cũng nhận định rằng “phán quyết Strasburg không phải là một giải đáp tốt cho nhu cầu của một nhà nước thế tục, vốn là những nhu cầu hợp pháp và có thể hiểu được”.
Tuy nhiên, theo Lev, người vô thần và các liên đoàn Hồi Giáo, thẩy đều hân hoan vì phán quyết này. Họ không biết rằng một số chính khách Ý tỏ ra quan tâm tới một số khía cạnh có tính đe dọa của nó. Bộ Trưởng Giáo Dục Mariastella Gelmini cảnh cáo rằng “Liên Hiệp Âu Châu không được dựng lên do việc loại bỏ các truyền thống của các quốc gia cá thể”.Còn Sandro Bondi, Bộ Trưởng Văn Hóa, thì than rằng: “phán quyết này đã tách chúng ta ra khỏi ý niệm Âu Châu do những người như De Gaspari, Adenauer và Schumann đưa ra (tất cả đều là cha đẻ của Liên Hiệp Âu Châu). Cứ cái đà này, thất bại là cái chắc”.
Cũng theo Elisabeth Lev, tại ý, tượng chịu nạn không phải chỉ là một biểu tượng tôn giáo. Nó còn nhắc người ta nhớ tới điều vốn tiếp tục thống nhất hóa bán đảo này sau khi Đế Quốc Rôma sụp đổ. Từ ngày Constantinô thấy cây thánh giá trước trận đánh trên Cầu Milvian, tượng chịu nạn vốn là ngọn hải đăng hướng dẫn các thành tựu vĩ đại nhất của Ý. Vật tưởng niệm cuộc hy sinh của Chúa Kitô, thay vì là nguyên nhân gây kỳ thị, thực sự đã khiến người Ý đạt được những thành quả tốt đẹp nhất về mọi mặt. Thực thế, khi người Ý bộc phát giúp một người khốn khó nào đó, họ thường nói “quel povero Cristo” có ý kêu tới “Đấng Kitô khốn khổ” mà họ vốn nhìn thấy trên thánh giá, Đấng đã thúc đẩy họ thực hiện các hành vi vô vị kỷ này.
Lev bảo rằng: một trong những điều đầu tiên khiến bà rời bỏ Pháp để định cư ở Ý chính là ý thức mạnh mẽ về bản sắc và truyền thống nơi người Ý. Trong tư cách một nhà sử học về nghệ thuật, bà vẫn luôn tìm được thế giới của Michelangelo và Giotto nơi các hậu duệ hiện đại của họ. Thành ra, phán quyết của Tòa Án Nhân Quyền Âu Châu, vốn nhằm mục đích loại bỏ các dị biệt giữa các dân tộc thuộc Liên Hiệp Âu Châu, thực ra đã kết án Ý vì đã duy trì sợi dây nối kết với bản sắc Kitô giáo của họ. Phán quyết này hẳn phải là tiếng chuông cảnh tỉnh đối với công dân của Liên Hiệp Âu Châu, thúc giục họ nên theo dõi sát nút các ý thức hệ đang mưu toan được ghép vào các nước thành viên của nó. Hầu hết người Âu Châu coi Liên Hiệp Âu Châu như một chiếc xe bán nước béo, dẫn các nước hội viên tới thịnh vượng lớn hơn, nhưng không có gì là miễn phí cả. Các công dân Âu Châu nên hiểu ra rằng vì một ít quần áo hợp thời trang cũng như mấy chiếc xe hơi bóng bẩy, kết cục họ dám phải bán cả linh hồn.
Người ta tự hỏi phán quyết này kết cục sẽ ra sao? Liệu người ta có phải hủy hoại các đền đài hay xé bỏ các tranh vẽ Đức Mẹ và Hài Nhi đang âu yếm nhìn chúng ta ở muôn vàn góc phố chăng? Liệu Đức Giáo Hoàng có bị cấm không được đeo thánh giá khi đi kiệu Mình Thánh hay không? Di sản sau cùng từ phán quyết của Tòa Âu Châu sẽ là một hố thẳm, một cuộc phá nát cái đẹp và truyền thống vốn tạo ra sắc thái đặc thù của văn hóa Ý. Như Đức Bênêđíctô XVI nhiều lần nhắc nhở, niềm tin và phát biểu tôn giáo luôn nằm ở cốt lõi nền văn hóa nhân bản. Loại bỏ chúng là lấy hết linh hồn siêu việt của nền văn hóa ấy.
Lấp được cái hố thẳm ấy là điều rất khó khăn. Vì Rex Murphy, viết cho tờ Globe and Mail vào tuần rồi, đã nhận xét rằng: phán quyết chống lại tượng chịu nạn kia trùng hợp với một phán quyết tại Vương Quốc Thống Nhất (Anh), là phán quyết ban cấp cho các niềm tin về thay đổi khí hậu cùng một vị thế pháp lý y như tôn giáo. Nếu đúng như thế, thì quả Âu Châu đang hạ bệ Cây Ban Sự Sống để cứu cây cối môi sinh.
Thập tự chinh tân thời
Theo Lev, để đáp lại phán quyết trên, Ý không quan tâm dùng quân đội để tổ chức các thập tự chinh, mà là dùng thứ vũ khí mạnh mẽ hơn nhiều, tức truyền thống nghệ thuật và văn hóa lâu đời của mình. Giữa những cuộc tranh luận gay gắt về tượng chịu nạn trong lớp học, Ý đã tổ chức một cuộc triển lãm xôm tụ để nhắc cho Liên Hiệp Âu Châu nhớ đến gốc rễ Kitô Giáo của mọi nước trong Liên Hiệp và của chính lục địa.
“Quyền Lực và Ơn Thánh: Các Thánh Quan Thầy của Âu Châu” chính là cuộc trưng bày độc đáo tại Palazzo Venezia ở Rôma, kéo dài tới ngày 31 tháng Giêng năm tới. Hơn một trăm tác phẩm của các nghệ sĩ từ El Greco tới Hans Memling, từ Caravaggio tới Mantegna, và từ Titian tới Murillo được trưng bày cạnh nhau, cùng với các tranh ảnh của Đông Phương và các trích đoạn từ các cuốn phim nổi tiếng nhất về các thánh.
Được đồng tài trợ bởi chính phủ Ý và Tòa Thánh, cuộc triển lãm này đã được khai mạc vào ngày 7 tháng 10 bởi Thủ Tướng Ý, Silvio Berlusconi và Đức Hồng Y Tarcisio Bertone (trùng hợp với ngày lễ Đức Mẹ Mân Côi và ngày kỷ niệm chiến thắng Lepanto, nơi các lực lượng thế tục và lực lượng Giáo Hội đã chiến đấu bên nhau để cứu Âu Châu Kitô Giáo khỏi họa xâm lăng của Thổ Nhĩ Kỳ).
Đức TGM Gianfranco Ravasi, Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Văn Hóa, trong bài đầu tiên giới thiệu cuộc triển lãm, đã đặt một câu hỏi khá khiêu khích. Mô phỏng theo Albert Camus, ngài hỏi: “Người ta có thể là thánh mà không cần Thiên Chúa được không? Làm một người thiện chí có đủ hay không?”. Câu trả lời hết sức vang dội của ngài là “không”. Ngài viết: Ơn thánh, tức sự viên mãn của đức tin, là điều chủ yếu đối với việc làm thánh. Hỗ trợ cho cái nhìn của ngài là 20 thế kỷ các vị nam nữ từ những vị tử đạo đầu tiên tới Mẹ Chân Phúc Têrêxa thành Calcutta, mà đời sống và việc làm phi thường đã thành tựu được là nhờ việc các ngài hợp tác với ơn thánh của Thiên Chúa.
Ngạc nhiên hơn sao bản tấm kính mầu cửa sổ Nhà Thờ Chánh Tòa Le Mans, là những lời mở đầu các ghi chú giáo khoa đại loại như: “Lịch sử nên thánh của Kitô Giáo và lịch sử xã hội, văn hóa và chính trị của Âu Châu có liên hệ mật thiết với nhau”. Sức mạnh của các thánh, một ghi chú khác viết, là “mối liên kết giữa trời và đất”.
Phòng trưng bày đầu tiên dành cho Đức Maria, Mẹ Thiên Chúa. Tấm kính mầu rạng rỡ, tấm ảnh Nga vẽ Đức Mẹ dịu hiền với Chúa Hài Nhi và bức tranh táo bạo của Murillo vẽ Đức Mẹ Vô Nhiễm Thai đã chứng minh cho Âu Châu thấy rõ lòng sùng kính Đức Mẹ trong cả không gian lẫn thời gian.
Các chứng nhân tử đạo, nhất là Thánh Phêrô, chiếm phòng kế bên, nhưng chỗ danh dự nhất dành cho Thánh Martin thành Tours, vị thánh có ngày mừng rơi vào ngày Thứ Tư. Thánh Martin là vị thánh đầu tiên không phải là tử đạo. Là một vị ẩn tu, tu viện trưởng, giám mục và nhà truyền giáo, Thánh Martin dẫn đường cho thế giới các Kitô hữu vừa được luật pháp nhìn nhận phải sống cuộc sống như Chúa Kitô ra sao khi không còn bị bách hại nữa.
Phong trào đan viện là hình thức nên thánh kế tiếp được cuộc triển lãm thăm dò. Thánh Bênêđíctô, người mà lời thề ổn định từng đem lại trật tự cho cảnh hỗn mang ngay sau khi Rôma bị sụp đổ, được trình bày bên cạnh bức tranh Thánh Gioan Tiền Hô đang suy niệm của Caravaggio. Bức chân dung tuyệt mỹ về thánh nhân của Hans Memling cho thấy Thánh Bênêđíctô đang đọc bộ luật của ngài, một bộ luật được cuộc trưng bày này coi là “phương tiện để duy trì kiến thức, văn bản, tập quán, kỹ thuật và các giá trị của nền văn minh thời cổ”.
Việc khai triển ra lòng sùng kính các thánh nhờ các phép lạ và tưởng niệm đã được trình bày qua các chứng tích cảm động thuở xưa được vẽ trên các ô bảng cổ, nhưng cũng trên nhiều tấm vải cực lớn của họa sĩ người Nga tên Illarion Michaijlovic Prjanisnkov từ năm 1887. Được gọi là “Ngày của Chúa Cứu Thế”, công trình này sử dụng những màu thật sáng để từ từ làm sáng cả một bầu trời xám như chì đang lơ lửng phía trên, qua đó gợi cho người thưởng lãm cả một truyền thống đức tin lâu dài của nước Nga. Phần triển lãm này cũng trưng bày Thánh Nicholas thành Bari, được cả người Đông Âu lẫn người Tây Âu yêu kính.
Các nhà huyền nhiệm qúy yêu của Âu Châu cũng đã được trình bày một cách trang trọng. Ô vẽ tinh tế của Jan Van Eyck mô tả Thánh Phanxicô được in năm dấu, trong khi Thánh Catarina thành Sienna, quan thầy Âu Châu, được họa trong các ô nhỏ trên những tranh vải lớn. Thánh Stanislaus của Ba Lan đã dẫn đầu việc ca tụng các vị giám mục và các nhà truyền giáo, tức những người đã mang Lời Chúa tới các lãnh thổ Âu Châu. Thánh St. Stephen của Hung Gia Lợi và Thánh Louis của Pháp đã nêu gương cho những người chiếm giữ quyền lực tạm bợ ở trần gian biết sống sao cho thánh thiện. Tuy nhiên, việc phối hợp giữa uy quyền trần gian với sự thánh thiện là một phối hợp khá mong manh và sự mong manh ấy cũng đã được cuộc trưng bày này mô tả. Nhiều đe dọa đã xâm phạm tới quyền tự do của Giáo Hội, cả bằng cách khóa cứng tự do tôn giáo lẫn làm cho tôn giáo ra hủ hóa. Cuốn phim năm 1964 của Peter Glenville tựa là “Beckett”, được chiếu trong cuộc triển lãm, đã cho thấy Đức TGM của Canterbury bị các tay sát nhân của vua Henry II xử tử ra sao.
Cuộc trưng bày kết thúc với lòng ngưỡng mộ dành cho Thánh Thomas More. Bức chân dung vẽ ngài của Hans Holbein cho thấy ngài đang như suy niệm các hình ảnh trong cuốn phim năm 1966, tựa là “Người muôn mùa” của Fred Zinneman. Các ô giáo khoa nhận định về chương này có những lời lẽ như sau: “Cuộc trưng bày này dẫn tới kết luận: sự quân bình giữa quyền lực và ơn thánh tùy thuộc nguyên tắc tự do tôn giáo, điều vốn là tiêu chuẩn để hiểu một cách đúng đắn nguyên tắc thế tục tính của nhà nước. Nguyên tắc này phải bao gồm việc nhìn nhận phẩm giá con người, vốn là những hữu thể có lương tâm bẩm sinh tự do và phù hợp theo lý trí; lương tâm này vốn là lời đáp trả đối với Thiên Chúa, mà không quyền lực nào có thể xui khiến hay ngăn cản”.
Những lời hình như phát ra từ cửa miệng hàng trăm vị thánh của Âu Châu, được cuộc trưng bày này mô tả, thiết tưởng có tính thuyết phục hơn cả phán quyết của các chánh án Tòa Nhân Quyền Âu Châu.