Như nhiều người biết, nguyên thượng phụ Latinh của Giêrusalem là Đức Tổng Giám Mục Michel Sabbah mới đây có cho xuất bản một cuốn sách, tựa là “Faithful Witness: On Reconciliation and Peace in the Holy Land” (Chứng Nhân Trung Thành: Về Hoà Giải và Hòa Bình tại Đất Thánh) do nhà xuất bản New City Press ấn hành.
Đức TGM Michel Sabbah là thượng phụ Latinh của Giêrusalem từ 1988 tới 2008. Cuốn sách trên thực ra là một tuyển tập các thư mục vụ, các bài giảng và các diễn văn của ngài, trong đó, ngài cho thấy các cam kết sâu sắc của ngài đối với Phúc Âm. Đồng thời, ngài cũng cho thấy nhiều chứng tá đáng tin cậy đối với các biến cố xẩy ra tại Trung Đông suốt trong hai thập niên qua. Thành thử, tựa đề phụ của sách “hòa giải và hoà bình tại Đất Thánh” quả đã nói lên đầy đủ mục tiêu chính trong các cố gắng của thượng phụ.
Ngài viết cho một cử tọa Kitô Giáo hết sức rộng rãi, khích lệ họ hành hương Đất Thánh, không phải chỉ để thăm thú các nơi thánh, mà còn để gặp gỡ “những viên đá sống động”, đó là các anh chị em trong đức tin, hiện đang sống dưới sự chiếm đóng quân sự, hệt như Chúa Giêsu vào thế kỷ thứ nhất. Các Kitô hữu này, mà con số đang xuống dốc, hiện không được hưởng nhân quyền căn bản trong việc tự do thực hành các xác tín tôn giáo của mình, trong đó, có quyền được lui tới các nơi thánh. Do sự chiếm đóng West Bank đầy gây chiến của Do Thái, các Kitô hữu ở Giêrusalem thường xuyên bị ngăn cản không được lui tới Bêlem dự lễ Giáng Sinh. Mà người dân Bêlem cũng không được tự do lui tới Giêrusalem dự Tuần Thánh, Lễ Phục Sinh hay Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Tác giả cũng đề cập tới các can dự của ngài vào cuộc đối thoại liên tôn với người Do Thái Giáo và người Hồi Giáo, và khích lệ Kitô Hữu khắp thế giới hãy cùng làm như thế. Đàng khác, các quan tâm của ngài không phải chỉ có tính thần học mà còn có tính thực tiễn đời thường nữa. Ngài không úp mở nhưng mô tả huỵch toẹt “việc xiết họng về kinh tế và xã hội” đối với các người Palestine theo Kitô Giáo và theo Hồi Giáo. Lời ngài: “hình phạt tập thể… phong tỏa tổng quát các thị trấn và làng mạc… triệt hạ những con đường có thể tới được… hàng trăm trạm kiểm soát quân sự… giới nghiêm ngăn cấm mọi di chuyển bên trong thị trấn… ám sát các nhà lãnh đạo và tranh đấu Palestine… pháo kích và triệt hạ nhà cửa cùng các cơ sở nông nghiệp”. Nhưng ngài không phải là người cổ vũ có tính phe phái, chỉ biết đòi hỏi chiến thắng cho một bên, mà thua thiệt cho bên kia. Trái lại, ngài bác bỏ mọi việc sử dụng tới sức mạnh khủng bố quân sự, coi chúng như vô luân, bất kể là phi cơ chiến đấu F-16 và trực trực thăng Apache ở Gaza, hay phi tiễn Palestine nhắm vào thường dân ở Siderot và Eshkalon.
Ngài ngỏ lời với mọi con cháu của Abraham khi cực lực lên án việc người Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo lạm dụng tôn giáo biện minh cho các hành vi bạo lực của mình. Ngài bảo: “Thánh chiến là một thuật ngữ mâu thuẫn… Không thể nào Thiên Chúa lại muốn áp bức ai, bất kể đó là cá nhân hay dân tộc, mà Thiên Chúa cũng không thể truyền làm việc ấy. Tình yêu của Người đối với một dân tộc không thể nào trở thành áp bức đối với một dân tộc khác. Cho nên, ngày nay, không ai có quyền nại tới tên vị Thiên Chúa này, Đấng hoàn toàn công chính, và nhân từ, Đấng luôn yêu thương nhân loại, để biện minh cho bạo lực nhân bản của riêng mình, bất kể vì quyền lợi và thiện ích tưởng tượng nào hoặc của tôn giáo hoặc của quốc gia”.
Cuốn “Faithful Witness” này trình bày một sứ điệp quan trọng đối với mọi người, dù là tín hữu tôn giáo hay không, miễn là biết quan tâm tới tính luân lý và tính hợp pháp của việc sử dụng sức mạnh nói chung, hay biết khao khát tìm một giải pháp bất bạo động, dựa trên thương thảo cho cuộc tranh chấp giữa Do Thái và Palestine nói riêng.
Dù được viết trong khoảng hai thập niên qua, nhưng các trước tác của Đức TGM Sabbah vẫn liên hệ đối với tình thế hiện nay vì nhiều lý do, tuy khác nhau nhưng có liên hệ với nhau. Hai thực tế hiện nay đang là nguồn cho cả đau buồn sâu xa lẫn hy vọng tràn trề. Buồn là do sự thảm khốc của đợt bạo động mới đây tại Gaza, từng đưa lại cái chết cho hơn 1,300 người Palestine và 13 người Do Thái, hơn một nghìn người bị thương, cảnh vô gia cư hàng loạt tại một vùng rất đông người do đợt tị nạn trước chiến tranh ồ ạt kéo tới. Đợt bạo động ấy cũng gây thiệt hại trầm trọng cho hạ tầng cơ sở tại một lãnh thổ vốn bị phong tỏa lâu dài và bị khủng hoảng nặng nề về nhân đạo. Chịu khó đọc sứ điệp của Đức TGM Sabbah, người ta sẽ thấy không một tàn phá nào thuộc loại trên là cần thiết hay có thể biện minh được.
Hy vọng là do hừng đông của một ngày mới trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tổng thống Barack Obama mới đây đề cử Thượng Nghị Sĩ George Mitchell làm đặc sứ của ông tại Trung Đông. Kinh nghiệm của TNS Mitchell trong các cuộc thương thảo nhằm chấm dứt bạo lực tại Bắc Ái Nhĩ Lan khiến ông rất thích hợp để đạt được một khai thông tương tự như thế tại đây, nơi các cố gắng nửa vời hoặc lầm lẫn từng thất bại trong quá khứ. Giống Thượng Phụ Sabbah, vị TNS này tin rằng đối với cuộc tranh chấp giữa Do Thái và Palestine, quân sự không phải là giải pháp, và “không thể có điều này là không thể giải quyết một cuộc tranh chấp”.
Đức TGM Sabbah minh nhiên tỏ ra thận trọng trong việc không để cho mình lẫn lộn giữa hy vọng và việc cậy trông vào sức mạnh quân sự. Ngài bảo: “Chiến thắng quân sự tự nó không đem lại an ninh. Chỉ có hòa bình, một nền hòa bình xây dựng trên công lý và tôn trọng nhân quyền, mới có thể đem lại an ninh mà thôi”. Do kinh nghiệm đau thương của mình, ngài biết rõ sự khủng khiếp và tính vô dụng của chiến tranh. Sinh tại Nadarét năm 1938, ngài lớn lên dưới quyền chiếm đóng quân sự của người Anh. Ngài bước vào tuổi thiếu niên lúc xẩy ra các biến cố của các năm từ 1947 tới 1949, được người Do Thái mô tả là “Chiến Tranh Độc Lập” còn người Palestine thì mô tả là Nakba (tiếng Ả Rập có nghĩa là thảm họa): tước đoạt và cưỡng bức hơn 750,000 người Palestine rời bỏ nhà cửa, quê cha đất tổ. Ngài là một linh mục trẻ khi cuộc chiến năm 1967 lại một lần nữa tước đoạt người Palestine lần thứ hai. Bởi thế, đối với ngài, vấn đề tị nạn là vấn đề chủ yếu cho bất cứ cuộc thương thảo sau cùng nào.
Ngài cảm thấy mủi lòng đối với cái đau của tình thế hiện nay, nhưng không cho phép mình than vãn như Giêrêmia. Không như Ông Hoàng Verona trong “Romeo và Juliet” của Shakespeare, Đức TGM Sabbah không nhẩy ra công trường để kết án cả hai gia đình thù nghịch tại Đất Thánh hay để cầu xin chúc dữ hoặc “đại dịch giáng xuống cả hai nhà”. Ngài không đem đến lời chúc dữ mà là chúc lành và một thách đố lớn cho cả hai cộng đồng: tha thứ cho nhau vì các lỗi lầm khủng khiếp của quá khứ, và sống với nhau bằng lòng kính trọng hỗ tương như láng giềng, cùng chia sẻ một mảnh đất vốn được cả ba tín ngưỡng lớn coi là thánh thiêng, nhưng từng bị phạm thánh vì những đợt bột phát của bạo lực.
Đức TGM Sabbah nhận diện rõ nguyên nhân tận gốc của bạo lực và nắm vững mối tương quan qua lại giữa các niềm hy vọng sâu sắc của cả hai dân tộc Do Thái và Palestine. Ngài nói: “Muốn chấm dứt bạo lực và khủng bố, ta phải chấm dứt việc chiếm đóng quân sự. Phải trả lại tự do và độc lập cho người Palestine… Chỉ khi ấy, sự an ninh của Do Thái mới đạt được và sợ sệt sẽ biến mất khỏi cuộc sống họ”.
Cả các cuộc thương thảo hòa bình thất bại tại Camp David năm 2000 và sau đó là “các thông số Clinton” (Clinton parameters) cho ta thấy rõ tư thế của Giêrusalem là điều chủ yếu. Tất cả mọi người cần chú ý tới quan điểm của Đức TGM Sabbah về vấn đề này: “Chủ nghĩa loại trừ, bất kể từ bên nào, bất kể là chính trị hay tôn giáo, đều có hại cho bản sắc của Giêrusalem và đe doạ sự hòa hợp giữa mọi người liên hệ, mọi con cái của nó”. Ba phụ lục của sách cho thấy các tài liệu thỏa hiệp có tính đại kết sâu sắc về Giêrusalem giữa các nhà cầm đầu các Giáo Hội Kitô Giáo tại Thành Thánh Hòa Bình này.
Thiển nghĩ, mọi người, bất luận là tôn giáo hay thế tục, Do Thái hay Palestine, Anh hay Pháp, nói chung nhân dân hế giới, tất cả đều hưởng ích nhờ tiếng nói chân thực của Thượng Phụ Sabbah, một người luôn duy trì được tư thế một nhân chứng hùng biện và trung thành cho nhu cầu khẩn thiết đòi hoà giải và hòa bình tại Đất Thánh.
Tưởng cũng nên nhắc lại, cuốn sách của Thượng Phụ Sabbah xuất hiện khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đang ráo riết chuẩn bị cho chuyến tông du qua Đất Thánh của ngài, một chuyến tông du vượt rất nhiều bức tường phân cách đầy chông gai, nhưng được kể là thành công nhất trong các chuyến tông du của ngài. Chắc chắn có phần đóng góp của vị cựu Thượng Phụ Latinh này.
Đức TGM Michel Sabbah là thượng phụ Latinh của Giêrusalem từ 1988 tới 2008. Cuốn sách trên thực ra là một tuyển tập các thư mục vụ, các bài giảng và các diễn văn của ngài, trong đó, ngài cho thấy các cam kết sâu sắc của ngài đối với Phúc Âm. Đồng thời, ngài cũng cho thấy nhiều chứng tá đáng tin cậy đối với các biến cố xẩy ra tại Trung Đông suốt trong hai thập niên qua. Thành thử, tựa đề phụ của sách “hòa giải và hoà bình tại Đất Thánh” quả đã nói lên đầy đủ mục tiêu chính trong các cố gắng của thượng phụ.
Ngài viết cho một cử tọa Kitô Giáo hết sức rộng rãi, khích lệ họ hành hương Đất Thánh, không phải chỉ để thăm thú các nơi thánh, mà còn để gặp gỡ “những viên đá sống động”, đó là các anh chị em trong đức tin, hiện đang sống dưới sự chiếm đóng quân sự, hệt như Chúa Giêsu vào thế kỷ thứ nhất. Các Kitô hữu này, mà con số đang xuống dốc, hiện không được hưởng nhân quyền căn bản trong việc tự do thực hành các xác tín tôn giáo của mình, trong đó, có quyền được lui tới các nơi thánh. Do sự chiếm đóng West Bank đầy gây chiến của Do Thái, các Kitô hữu ở Giêrusalem thường xuyên bị ngăn cản không được lui tới Bêlem dự lễ Giáng Sinh. Mà người dân Bêlem cũng không được tự do lui tới Giêrusalem dự Tuần Thánh, Lễ Phục Sinh hay Lễ Chúa Thánh Thần Hiện Xuống.
Tác giả cũng đề cập tới các can dự của ngài vào cuộc đối thoại liên tôn với người Do Thái Giáo và người Hồi Giáo, và khích lệ Kitô Hữu khắp thế giới hãy cùng làm như thế. Đàng khác, các quan tâm của ngài không phải chỉ có tính thần học mà còn có tính thực tiễn đời thường nữa. Ngài không úp mở nhưng mô tả huỵch toẹt “việc xiết họng về kinh tế và xã hội” đối với các người Palestine theo Kitô Giáo và theo Hồi Giáo. Lời ngài: “hình phạt tập thể… phong tỏa tổng quát các thị trấn và làng mạc… triệt hạ những con đường có thể tới được… hàng trăm trạm kiểm soát quân sự… giới nghiêm ngăn cấm mọi di chuyển bên trong thị trấn… ám sát các nhà lãnh đạo và tranh đấu Palestine… pháo kích và triệt hạ nhà cửa cùng các cơ sở nông nghiệp”. Nhưng ngài không phải là người cổ vũ có tính phe phái, chỉ biết đòi hỏi chiến thắng cho một bên, mà thua thiệt cho bên kia. Trái lại, ngài bác bỏ mọi việc sử dụng tới sức mạnh khủng bố quân sự, coi chúng như vô luân, bất kể là phi cơ chiến đấu F-16 và trực trực thăng Apache ở Gaza, hay phi tiễn Palestine nhắm vào thường dân ở Siderot và Eshkalon.
Ngài ngỏ lời với mọi con cháu của Abraham khi cực lực lên án việc người Do Thái Giáo, Kitô Giáo và Hồi Giáo lạm dụng tôn giáo biện minh cho các hành vi bạo lực của mình. Ngài bảo: “Thánh chiến là một thuật ngữ mâu thuẫn… Không thể nào Thiên Chúa lại muốn áp bức ai, bất kể đó là cá nhân hay dân tộc, mà Thiên Chúa cũng không thể truyền làm việc ấy. Tình yêu của Người đối với một dân tộc không thể nào trở thành áp bức đối với một dân tộc khác. Cho nên, ngày nay, không ai có quyền nại tới tên vị Thiên Chúa này, Đấng hoàn toàn công chính, và nhân từ, Đấng luôn yêu thương nhân loại, để biện minh cho bạo lực nhân bản của riêng mình, bất kể vì quyền lợi và thiện ích tưởng tượng nào hoặc của tôn giáo hoặc của quốc gia”.
Cuốn “Faithful Witness” này trình bày một sứ điệp quan trọng đối với mọi người, dù là tín hữu tôn giáo hay không, miễn là biết quan tâm tới tính luân lý và tính hợp pháp của việc sử dụng sức mạnh nói chung, hay biết khao khát tìm một giải pháp bất bạo động, dựa trên thương thảo cho cuộc tranh chấp giữa Do Thái và Palestine nói riêng.
Dù được viết trong khoảng hai thập niên qua, nhưng các trước tác của Đức TGM Sabbah vẫn liên hệ đối với tình thế hiện nay vì nhiều lý do, tuy khác nhau nhưng có liên hệ với nhau. Hai thực tế hiện nay đang là nguồn cho cả đau buồn sâu xa lẫn hy vọng tràn trề. Buồn là do sự thảm khốc của đợt bạo động mới đây tại Gaza, từng đưa lại cái chết cho hơn 1,300 người Palestine và 13 người Do Thái, hơn một nghìn người bị thương, cảnh vô gia cư hàng loạt tại một vùng rất đông người do đợt tị nạn trước chiến tranh ồ ạt kéo tới. Đợt bạo động ấy cũng gây thiệt hại trầm trọng cho hạ tầng cơ sở tại một lãnh thổ vốn bị phong tỏa lâu dài và bị khủng hoảng nặng nề về nhân đạo. Chịu khó đọc sứ điệp của Đức TGM Sabbah, người ta sẽ thấy không một tàn phá nào thuộc loại trên là cần thiết hay có thể biện minh được.
Hy vọng là do hừng đông của một ngày mới trong chính sách ngoại giao của Hoa Kỳ. Tổng thống Barack Obama mới đây đề cử Thượng Nghị Sĩ George Mitchell làm đặc sứ của ông tại Trung Đông. Kinh nghiệm của TNS Mitchell trong các cuộc thương thảo nhằm chấm dứt bạo lực tại Bắc Ái Nhĩ Lan khiến ông rất thích hợp để đạt được một khai thông tương tự như thế tại đây, nơi các cố gắng nửa vời hoặc lầm lẫn từng thất bại trong quá khứ. Giống Thượng Phụ Sabbah, vị TNS này tin rằng đối với cuộc tranh chấp giữa Do Thái và Palestine, quân sự không phải là giải pháp, và “không thể có điều này là không thể giải quyết một cuộc tranh chấp”.
Đức TGM Sabbah minh nhiên tỏ ra thận trọng trong việc không để cho mình lẫn lộn giữa hy vọng và việc cậy trông vào sức mạnh quân sự. Ngài bảo: “Chiến thắng quân sự tự nó không đem lại an ninh. Chỉ có hòa bình, một nền hòa bình xây dựng trên công lý và tôn trọng nhân quyền, mới có thể đem lại an ninh mà thôi”. Do kinh nghiệm đau thương của mình, ngài biết rõ sự khủng khiếp và tính vô dụng của chiến tranh. Sinh tại Nadarét năm 1938, ngài lớn lên dưới quyền chiếm đóng quân sự của người Anh. Ngài bước vào tuổi thiếu niên lúc xẩy ra các biến cố của các năm từ 1947 tới 1949, được người Do Thái mô tả là “Chiến Tranh Độc Lập” còn người Palestine thì mô tả là Nakba (tiếng Ả Rập có nghĩa là thảm họa): tước đoạt và cưỡng bức hơn 750,000 người Palestine rời bỏ nhà cửa, quê cha đất tổ. Ngài là một linh mục trẻ khi cuộc chiến năm 1967 lại một lần nữa tước đoạt người Palestine lần thứ hai. Bởi thế, đối với ngài, vấn đề tị nạn là vấn đề chủ yếu cho bất cứ cuộc thương thảo sau cùng nào.
Ngài cảm thấy mủi lòng đối với cái đau của tình thế hiện nay, nhưng không cho phép mình than vãn như Giêrêmia. Không như Ông Hoàng Verona trong “Romeo và Juliet” của Shakespeare, Đức TGM Sabbah không nhẩy ra công trường để kết án cả hai gia đình thù nghịch tại Đất Thánh hay để cầu xin chúc dữ hoặc “đại dịch giáng xuống cả hai nhà”. Ngài không đem đến lời chúc dữ mà là chúc lành và một thách đố lớn cho cả hai cộng đồng: tha thứ cho nhau vì các lỗi lầm khủng khiếp của quá khứ, và sống với nhau bằng lòng kính trọng hỗ tương như láng giềng, cùng chia sẻ một mảnh đất vốn được cả ba tín ngưỡng lớn coi là thánh thiêng, nhưng từng bị phạm thánh vì những đợt bột phát của bạo lực.
Đức TGM Sabbah nhận diện rõ nguyên nhân tận gốc của bạo lực và nắm vững mối tương quan qua lại giữa các niềm hy vọng sâu sắc của cả hai dân tộc Do Thái và Palestine. Ngài nói: “Muốn chấm dứt bạo lực và khủng bố, ta phải chấm dứt việc chiếm đóng quân sự. Phải trả lại tự do và độc lập cho người Palestine… Chỉ khi ấy, sự an ninh của Do Thái mới đạt được và sợ sệt sẽ biến mất khỏi cuộc sống họ”.
Cả các cuộc thương thảo hòa bình thất bại tại Camp David năm 2000 và sau đó là “các thông số Clinton” (Clinton parameters) cho ta thấy rõ tư thế của Giêrusalem là điều chủ yếu. Tất cả mọi người cần chú ý tới quan điểm của Đức TGM Sabbah về vấn đề này: “Chủ nghĩa loại trừ, bất kể từ bên nào, bất kể là chính trị hay tôn giáo, đều có hại cho bản sắc của Giêrusalem và đe doạ sự hòa hợp giữa mọi người liên hệ, mọi con cái của nó”. Ba phụ lục của sách cho thấy các tài liệu thỏa hiệp có tính đại kết sâu sắc về Giêrusalem giữa các nhà cầm đầu các Giáo Hội Kitô Giáo tại Thành Thánh Hòa Bình này.
Thiển nghĩ, mọi người, bất luận là tôn giáo hay thế tục, Do Thái hay Palestine, Anh hay Pháp, nói chung nhân dân hế giới, tất cả đều hưởng ích nhờ tiếng nói chân thực của Thượng Phụ Sabbah, một người luôn duy trì được tư thế một nhân chứng hùng biện và trung thành cho nhu cầu khẩn thiết đòi hoà giải và hòa bình tại Đất Thánh.
Tưởng cũng nên nhắc lại, cuốn sách của Thượng Phụ Sabbah xuất hiện khi Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đang ráo riết chuẩn bị cho chuyến tông du qua Đất Thánh của ngài, một chuyến tông du vượt rất nhiều bức tường phân cách đầy chông gai, nhưng được kể là thành công nhất trong các chuyến tông du của ngài. Chắc chắn có phần đóng góp của vị cựu Thượng Phụ Latinh này.