Thệ Phản tự do và Công Giáo tự do
Các người Công Giáo theo phe tự do ( tự do theo nghĩa thần học chứ không theo nghĩa chính trị) luôn khiến người ta phải ngạc nhiên. Vì một đàng, họ tỏ ra rất chân thành gắn bó với tôn giáo của mình. Nhưng đàng khác, họ lại vận động cho các thay đổi về luân lý cũng như về thần học, mà nếu đem ra thực hành, chắc chắn sẽ đem Giáo Hội của họ đến chỗ tự diệt. Đó là nhận định tổng quát của David R. Carlin, tác giả cuốn “The Decline and Fall of the Catholic Church in America” (Sự Suy Thoái và Xuống Dốc của Giáo Hội Công Giáo Mỹ).
Căn cứ vào đâu mà dám nói như trên? Căn cứ vào lịch sử của Thệ Phản. Lịch sử này cho thấy chuyện gì sẽ xẩy ra khi một giáo hội Kitô giáo trở thành tự do hay hiện đại. Khi hiểu rõ cái lịch sử đáng buồn đó của Thệ Phản, không một người Công Giáo nào lại đi hô hào việc giải phóng thần học và hiện đại hóa Đạo Công Giáo.
Ở Hoa Kỳ, phe tự do của Thệ Phản luôn có ba đặc điểm sau đây: (1) Cố gắng tìm ra một thỏa hiệp hay con đường trung dung (via media) giữa Kitô giáo truyền thống và chủ nghĩa bài Kitô giáo hợp thời trang hiện nay. (2) Trong khi đi tìm thoả hiệp trên, họ sẵn sàng vứt bỏ một số tín điều truyền thống của Kitô giáo, coi chúng như những hành lý ‘quá kí’. (3) Để bù đắp cho việc làm suy yếu tín lý này, họ tăng cường các cam kết luân lý.
Xin đơn cử ba “thời điểm” trong lịch sử của phong trào tự do Thệ Phản để minh chứng điều vừa nói. Thời điểm đầu tiên chính là lúc xuất hiện thuyết Nhất Thể (Unitarianism) vào đầu thế kỷ thứ 19. Phong trào bài Kitô giáo lúc đó là thuyết Duy Thần (Deism) tìm thấy trong các trước tác như The Age of Reason của Tom Paine. Thế là, trong cố gắng tìm ra con đường trung dung, thuyết Nhất Thể sẵn sàng vứt bỏ Thiên Chúa Ba Ngôi, thần tính của Chúa Kitô, tội nguyên tổ và khá nhiều học lý khác của Kitô giáo. Và để bù đắp cho việc vứt bỏ đó, họ mạnh mẽ dấn thân vào việc chống lại chế độ nô lệ.
Thời điểm thứ hai là lúc xuất hiện thuyết Duy Hiện Đại (Modernism) vào cuối thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20, lúc phong trào bài Kitô giáo được nhiều người ủng hộ lúc ấy chính là thuyết Bất Khả Tri (Agnosticism) (Herbert Spencer và Thomas Henry Huxley ở Anh, còn ở Hoa Kỳ là Robert Ingersoll). Phong trào duy hiện đại của Thệ Phản không công khai bác bỏ các tín điều truyền thống như thuyết Nhất Thể trên đây từng làm, nhưng đề cập tới các tín điều ấy một cách rất hàm hồ. Thí dụ, họ vẫn cho rằng họ tin Thiên Chúa Ba Ngôi, tin thần tính của Chúa Kitô, tin Phục Sinh… nhưng nếu khảo sát kỹ các điều họ nói, ta sẽ thấy họ thực sự không tin các tín điều đó chút nào. Thay vào đó, họ tin những điều khác hẳn, họ bóp méo ý nghĩa trong các thuật ngữ Kitô giáo truyền thống để áp dụng vào các niềm tin mới, không theo truyền thống chút nào. (Phe Thệ Phản tự do ngày nay như Marcus Borg chẳng hạn, cũng đang làm như vậy). Để đền bù cho việc vứt bỏ tín điều này, phe duy hiện đại mạnh mẽ cam kết phục vụ “phúc âm xã hội”.
Thời điểm thứ ba là lúc đáp ứng cuộc Cách Mạng Tình Dục trong hai thập niên 1960 và 1970. Lúc ấy, cuộc Cách Mạng này chính là hình thức bài Kitô giáo rất hợp thời trang, và cả ngày nay nữa, nó vẫn là một thời trang ăn khách. Phe Thệ Phản tự do, trong khi đi tìm con đường trung dung, đã chúc lành một cách có điều kiện cho việc làm tình tiền hôn nhân, cho việc sống chung mà không cần cheo cưới, cho việc phá thai, đồng tính luyến ái, và gần đây hơn, hôn nhân giữa những người cùng một giới tính. Nói “một cách có điều kiện” là bởi vì phe Thệ Phản tự do bảo rằng họ chỉ ủng hộ những việc ấy khi chúng được thực hiện một cách có suy nghĩ, có cầu nguyện và có yêu thương. Ở thời điểm thứ ba này, việc gia tăng các cam kết luân lý không còn liên hệ tới các hệ luận của nền luân lý Kitô giáo nữa, như trong hai trường hợp trên kia, nhưng mạnh mẽ cam kết đối với các yếu tố của một nền luân lý tính dục vốn chống lại Kitô giáo.
Phe Thệ Phản tự do thuộc một thế hệ nào bất cứ đều nói rằng: “Chúng tôi trút bỏ các yếu tố A, B, và C khỏi Kitô giáo truyền thống, và chỉ thế thôi, không trút bỏ thêm nữa”. Nhưng thế hệ sau đó sẽ nói: “Nếu cha ông chúng tôi đã trút bỏ các điều A, B, C, thì chúng tôi sẽ trút bỏ các điều D, E, F, và chỉ có thế, không trút bỏ thêm”. Và dĩ nhiên cứ thế tiếp diễn. Một khi “quyền trút bỏ” đã được khích lệ, thì cuối cùng, điều gì rồi cũng bị trút bỏ được cả.
Cho nên trong phần lớn thời kỳ 200 năm qua, phe Thệ Phản tự do đã trút bỏ hầu hết nội dung Kitô giáo ra khỏi tôn giáo của mình. Trước nhất, họ trút bỏ nội dung tín lý; gần đây hơn, họ trút bỏ hết nội dung luân lý Kitô giáo. Lẽ dĩ nhiên, phe tự do cho rằng họ chỉ trút bỏ “các niềm tin quá trớn” không có tính chủ yếu trong Kitô giáo và luôn duy trì nội dung chủ yếu của tôn giáo này là tình yêu đối với người lân cận. Mà cái tình yêu người lân cận này thực ra cũng chỉ là việc khoan dung và khuyến khích những điều vốn bị Kitô giáo coi là tội trọng!
Như thế, hẳn chẳng có ai ngạc nhiên khi thấy giáo phái Thệ Phản nào bị phe tự do này ảnh hưởng đều đang nhanh chóng mất dần tín hữu, không phải chỉ trong tương quan với dân số toàn quốc nói chung mà là trong con số tuyệt đối.
Người ta cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy Giáo Hội Công Giáo Mỹ, mà một phần tín hữu đã chạy theo chiều hướng thần học tự do sau Công Đồng Vatican II, cũng đang suy thoái. Sự suy thoái của Công Giáo chắc chắn bị che lấp bởi cách thế ‘ma giáo’ được người Công Giáo sử dụng để đếm số các thành viên của mình. Thực thế, được ‘đếm’ là người Công Giáo nếu đã rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo. Bởi thế, mà hàng triệu người tuy được ‘đếm’ là Công Giáo mà hoàn toàn dửng dưng, thậm chí còn thù nghịch, với Đạo Công Giáo nữa. Nếu chỉ đếm là Công Giáo những ai biết nghiêm chỉnh đối với tôn giáo của mình, như ít nhất cũng tham dự Thánh Lễ một lần vào ngày cuối tuần, thì chắc chắn ta sẽ thấy số người Công Giáo đang dần dần giảm sút đi.
Nếu chịu trung thực với chính mình, thì không một người Công Giáo nào, sau khi biết rõ lịch sử của phe Thệ Phản tự do, lại có thể ủng hộ phong trào thần học trong việc tự do hóa Đạo của mình. Khốn thay, trên thực tế, vẫn có những người Công Giáo hiểu biết lịch sử nhưng lại không chịu trung thực với chính mình, trong khi phần đông người Công Giáo không biết bao nhiêu về cái lịch sử kia. Cho nên người ta rất sợ cái đà suy thoái trên cứ thế tiếp diễn.
Công Giáo tự do
Một độc giả ký tên DJP, sau khi đọc D.R. Carlin, viết rằng phe Công Giáo tự do đang trở thành có tổ chức và hành động như một hội kín nhằm áp đặt các phương thức canh tân cũng như cách hiểu Phúc Âm của họ lên Giáo Hội định chế. Ông trưng một số bằng chứng:
(1) Một nữ tu ở Milwaukee, bang Wisconsin, viết cho một tờ báo Công Giáo địa phương để ủng hộ việc phá thai, còn dám gọi việc ấy là do Chúa chọn (divine choice) nữa. Hiển nhiên bà ta đã liên hiệp được với nhiều người trong Giáo Hội đi theo quan điểm của mình, chứ nếu không, một người công khai khấn dòng làm sao dám đưa ra một tuyên bố công khai như thế? Quan điểm của bà phổ biến giữa các nữ tu sĩ tiến bộ đến nỗi người ta sợ rằng họ không còn cho phá thai là việc xấu nữa… Chính vì thế mà một số đại học Công Giáo đã trở thành vườn ươm cho phong trào phò phá thai. Cũng chính vì thế, vị chủ tịch của Trinity College ở Hartford, Connecticut, mới hàm ý trên một tờ báo lớn của địa phương rằng một lá phiếu cho Obama là một lá phiếu ủng hộ phá thai, mà vị chủ tịch này là người ủng hộ Obama.
(2) Phần lớn các trang mạng của các cộng đồng nữ tu tiến bộ đều chú tâm một là tới việc thu lượm chai lọ bằng nhựa hai là tới việc chơi trò tìm đường lắt léo (labyrinth). Các công bố sứ mệnh (mission statements) của họ nói rất ít tới các cam kết tôn giáo đối với Chúa Giêsu và Giáo Hội của Người, và hầu như không đề cập gì tới lòng trung thành của họ đối với Giáo Hội. Đáng lưu ý một điều là họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thu lượm chai lọ bằng nhựa, chứ hầu như không làm gì hết hay không nói gì hết về việc bảo vệ các trẻ em chưa sinh ra đời. Phần lớn các hình ảnh phụng vụ của họ loại trừ hẳn nam giới, nhất là các linh mục. Còn Thánh Thể thì sao? Cái nền văn hóa Công Giáo hình như không còn, không hiện hữu nữa trong tu viện của họ. Điều khiến người ta thắc mắc và bối rối là họ vẫn tiếp tục mặc áo dòng, trùm khăn đầu. Điều ấy hình như gây gương mù gương xấu nhiều hơn thì phải!
(3) Hãy đọc các lời tuyên bố với báo chí cũng như các bài vở chuyển tải lên mạng của Hội Đồng Lãnh Đạo Các Dòng Nữ (The Leadership Conference of Women Religious), bạn sẽ thấy họ sẵn sàng tham gia các lực lượng chính trị của phe chống đối các giáo huấn căn bản nhất của Giáo Hội Công Giáo. Đã đành là họ có cố gắng tìm cách bắt tay với giáo hội định chế, nhưng họ thề cho đến chết rằng họ sẽ không bao giờ thỏa hiệp mà chịu từ bỏ niềm tin rằng Giáo Hội quả sai lầm về các vấn đề phá thai, linh mục đàn bà, liên hệ tình dục bên ngoài hôn nhân truyền thống. Nếu đặt các nhà lãnh đạo của họ lên một dữ căn (database) toàn quốc, bạn sẽ thấy ta đang có những tác giả và lãnh tụ cực tả ngay trong lòng Giáo Hội.
(4) Phe cực tả Công Giáo đang dự định tổ chức một cuộc họp vào năm tới để phác thảo ra các chiến lược chống đối Giáo Hội và các phương thế hỗ trợ chính phủ Obama. Họ rất rõ ràng trong mục tiêu và họ hy vọng sẽ bắt tay với các phong trào như Người Công Giáo Phò Chọn Lựa (Catholics for Choice), Liên Minh Công Giáo Phò Ích Chung (The Catholic Alliance for the Common Good) v.v… để chống đối các giáo huấn chính thức của Giáo Hội. Họ đã bắt đầu lên tiếng bênh vực Đạo Luật Tự Do Chọn Lựa (FOCA) hay ít nhất cũng cố gắng làm tịt ngòi các lo âu khi FOCA được thông qua. Vị chủ tịch Các Bệnh Viện Công Giáo, chẳng hạn, dám tuyên bố rằng FOCA sẽ không buộc các bệnh viện Công Giáo phải đóng cửa. Có ai buộc họ phải đóng cửa đâu, nếu chịu khó thực hiện các thủ tục phá thai. Liệu các vị giám mục Công Giáo có cho phép các bệnh viện Công Giáo im lặng khi các thủ tục như thế diễn ra trong các bệnh viện của mình?
(5) Khá buồn khi thấy 4 thập niên qua, đã có khá nhiều đàn ông, đàn bà chống đối giáo huấn của Giáo Hội. Những người ấy đôi khi lại là chính các mục tử, các nhà điều khiển chương trình RCIA (tân tòng), các quản trị viên giáo xứ, các chủ tịch đại học… khắp nước. Họ âm thầm nhưng rất cương quyết. Thay vì tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, người ta sợ họ đang tự xưng mình là cứu chúa của thế gian.
Đá tảng, Giáo Hội và phe tự do
Một độc giả khác, ký tên Steve B, có cái nhìn tích cực hơn, bằng cách trích dẫn câu Chúa Giêsu nói với Thánh Phêrô: “Con là Đá, và trên tảng đá này, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy. Và các cửa hỏa ngục sẽ không bao giờ làm gì được nó” (Mt 16:17-19).
Theo Steve B, trên đây là Lời Thiên Chúa. Và vì ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa và Lời của Người, nên ta hãy bớt lo lắng đi và hãy tin tưởng phó thác nhiều hơn. Người sẽ không làm ta thất vọng. Mặc dù 40 năm qua, ta đã chứng kiến nhiều bất ổn trong Giáo Hội Chiến Đấu, trong Giáo Hội Công Giáo trên trần thế, nhưng ta không mất hết, hay gần như mất hết. Có người bỏ đi nhưng cũng có người trở về như chính bản thân Steve B. Hàng lãnh đạo Giáo Hội ở Mỹ trong giai đoạn liền sau Vatican II quả có xuống dốc. Bất trung, không vâng lời, thiếu can đảm, thiếu nghị trình thẳng thắn, sợ bị lép vế nếu tỏ ra chính thống v.v… Những quan điểm trái ngược về tín lý, giáo luật, và giáo lý dẫn tới mơ hồ lớn lao. Không thích quan điểm của một mục tử về ngừa thai hả, đã có “ông linh mục chào hàng” giải quyết. Nhìn kỹ thì thấy cả mục tử lẫn đoàn chiên đều lầm lỗi. Hậu quả: chủ nghĩa tự do tỉnh bơ bước vào Giáo Hội.
Nhưng nay đã khác rồi. Hơn 100 giám mục Mỹ đồng loạt lên tiếng về vấn đề sự sống và cuộc bầu cử vừa qua. Chưa bao giờ xẩy ra một việc như thế trong lịch sử gần đây. Các vị này đang đem lại hiệu quả nhưng bạn không thể một sớm một chiều gỡ bỏ 40 năm sống tầm thường ngày cũ.
Gần đây, Steve B có diễm phúc hầu truyện ba vị linh mục: một vị người Kenya, tới làm việc thường trực tại Mỹ, một vị người Mỹ gốc Việt là cha sở của ông, và một vị người Mỹ. Bốn người cùng bàn luận tới các vấn đề trên. Tất cả đều đồng ý: hàng giáo sĩ vừa là vấn nạn vừa là giải pháp cho Giáo Hội. Giáo Luật và Giáo Lý ngày nay đủ sức làm cho Đức Tin ngay ngắn trở lại. Có điều các linh mục nói thêm: hàng ngũ giáo dân có bổn phận phải học hỏi về Đức Tin vì nay các phương tiện cho việc ấy rất sẵn có. Đàng khác nên biết cách đặt vấn đề, dĩ nhiên phải trong tinh thần bác ái, với hàng giáo sĩ theo phe tự do và việc ấy có thể thay đổi tính chính thống. Dù chủ thuyết tự do là điều xấu, nhưng chính chúng ta, đoàn chiên, đã làm nó trở thành khả thể. Tuy thế, ta vẫn còn hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất hứa, chỉ là vì ta không sống đủ lâu để thấy lời hứa ấy nên trọn. Phải tin tưởng vào Thiên Chúa, vào lời cầu nguyện và các bí tích…và một chút phong trào phúc âm (evangelism).
Các người Công Giáo theo phe tự do ( tự do theo nghĩa thần học chứ không theo nghĩa chính trị) luôn khiến người ta phải ngạc nhiên. Vì một đàng, họ tỏ ra rất chân thành gắn bó với tôn giáo của mình. Nhưng đàng khác, họ lại vận động cho các thay đổi về luân lý cũng như về thần học, mà nếu đem ra thực hành, chắc chắn sẽ đem Giáo Hội của họ đến chỗ tự diệt. Đó là nhận định tổng quát của David R. Carlin, tác giả cuốn “The Decline and Fall of the Catholic Church in America” (Sự Suy Thoái và Xuống Dốc của Giáo Hội Công Giáo Mỹ).
Căn cứ vào đâu mà dám nói như trên? Căn cứ vào lịch sử của Thệ Phản. Lịch sử này cho thấy chuyện gì sẽ xẩy ra khi một giáo hội Kitô giáo trở thành tự do hay hiện đại. Khi hiểu rõ cái lịch sử đáng buồn đó của Thệ Phản, không một người Công Giáo nào lại đi hô hào việc giải phóng thần học và hiện đại hóa Đạo Công Giáo.
Ở Hoa Kỳ, phe tự do của Thệ Phản luôn có ba đặc điểm sau đây: (1) Cố gắng tìm ra một thỏa hiệp hay con đường trung dung (via media) giữa Kitô giáo truyền thống và chủ nghĩa bài Kitô giáo hợp thời trang hiện nay. (2) Trong khi đi tìm thoả hiệp trên, họ sẵn sàng vứt bỏ một số tín điều truyền thống của Kitô giáo, coi chúng như những hành lý ‘quá kí’. (3) Để bù đắp cho việc làm suy yếu tín lý này, họ tăng cường các cam kết luân lý.
Xin đơn cử ba “thời điểm” trong lịch sử của phong trào tự do Thệ Phản để minh chứng điều vừa nói. Thời điểm đầu tiên chính là lúc xuất hiện thuyết Nhất Thể (Unitarianism) vào đầu thế kỷ thứ 19. Phong trào bài Kitô giáo lúc đó là thuyết Duy Thần (Deism) tìm thấy trong các trước tác như The Age of Reason của Tom Paine. Thế là, trong cố gắng tìm ra con đường trung dung, thuyết Nhất Thể sẵn sàng vứt bỏ Thiên Chúa Ba Ngôi, thần tính của Chúa Kitô, tội nguyên tổ và khá nhiều học lý khác của Kitô giáo. Và để bù đắp cho việc vứt bỏ đó, họ mạnh mẽ dấn thân vào việc chống lại chế độ nô lệ.
Thời điểm thứ hai là lúc xuất hiện thuyết Duy Hiện Đại (Modernism) vào cuối thế kỷ 19 qua đầu thế kỷ 20, lúc phong trào bài Kitô giáo được nhiều người ủng hộ lúc ấy chính là thuyết Bất Khả Tri (Agnosticism) (Herbert Spencer và Thomas Henry Huxley ở Anh, còn ở Hoa Kỳ là Robert Ingersoll). Phong trào duy hiện đại của Thệ Phản không công khai bác bỏ các tín điều truyền thống như thuyết Nhất Thể trên đây từng làm, nhưng đề cập tới các tín điều ấy một cách rất hàm hồ. Thí dụ, họ vẫn cho rằng họ tin Thiên Chúa Ba Ngôi, tin thần tính của Chúa Kitô, tin Phục Sinh… nhưng nếu khảo sát kỹ các điều họ nói, ta sẽ thấy họ thực sự không tin các tín điều đó chút nào. Thay vào đó, họ tin những điều khác hẳn, họ bóp méo ý nghĩa trong các thuật ngữ Kitô giáo truyền thống để áp dụng vào các niềm tin mới, không theo truyền thống chút nào. (Phe Thệ Phản tự do ngày nay như Marcus Borg chẳng hạn, cũng đang làm như vậy). Để đền bù cho việc vứt bỏ tín điều này, phe duy hiện đại mạnh mẽ cam kết phục vụ “phúc âm xã hội”.
Thời điểm thứ ba là lúc đáp ứng cuộc Cách Mạng Tình Dục trong hai thập niên 1960 và 1970. Lúc ấy, cuộc Cách Mạng này chính là hình thức bài Kitô giáo rất hợp thời trang, và cả ngày nay nữa, nó vẫn là một thời trang ăn khách. Phe Thệ Phản tự do, trong khi đi tìm con đường trung dung, đã chúc lành một cách có điều kiện cho việc làm tình tiền hôn nhân, cho việc sống chung mà không cần cheo cưới, cho việc phá thai, đồng tính luyến ái, và gần đây hơn, hôn nhân giữa những người cùng một giới tính. Nói “một cách có điều kiện” là bởi vì phe Thệ Phản tự do bảo rằng họ chỉ ủng hộ những việc ấy khi chúng được thực hiện một cách có suy nghĩ, có cầu nguyện và có yêu thương. Ở thời điểm thứ ba này, việc gia tăng các cam kết luân lý không còn liên hệ tới các hệ luận của nền luân lý Kitô giáo nữa, như trong hai trường hợp trên kia, nhưng mạnh mẽ cam kết đối với các yếu tố của một nền luân lý tính dục vốn chống lại Kitô giáo.
Phe Thệ Phản tự do thuộc một thế hệ nào bất cứ đều nói rằng: “Chúng tôi trút bỏ các yếu tố A, B, và C khỏi Kitô giáo truyền thống, và chỉ thế thôi, không trút bỏ thêm nữa”. Nhưng thế hệ sau đó sẽ nói: “Nếu cha ông chúng tôi đã trút bỏ các điều A, B, C, thì chúng tôi sẽ trút bỏ các điều D, E, F, và chỉ có thế, không trút bỏ thêm”. Và dĩ nhiên cứ thế tiếp diễn. Một khi “quyền trút bỏ” đã được khích lệ, thì cuối cùng, điều gì rồi cũng bị trút bỏ được cả.
Cho nên trong phần lớn thời kỳ 200 năm qua, phe Thệ Phản tự do đã trút bỏ hầu hết nội dung Kitô giáo ra khỏi tôn giáo của mình. Trước nhất, họ trút bỏ nội dung tín lý; gần đây hơn, họ trút bỏ hết nội dung luân lý Kitô giáo. Lẽ dĩ nhiên, phe tự do cho rằng họ chỉ trút bỏ “các niềm tin quá trớn” không có tính chủ yếu trong Kitô giáo và luôn duy trì nội dung chủ yếu của tôn giáo này là tình yêu đối với người lân cận. Mà cái tình yêu người lân cận này thực ra cũng chỉ là việc khoan dung và khuyến khích những điều vốn bị Kitô giáo coi là tội trọng!
Như thế, hẳn chẳng có ai ngạc nhiên khi thấy giáo phái Thệ Phản nào bị phe tự do này ảnh hưởng đều đang nhanh chóng mất dần tín hữu, không phải chỉ trong tương quan với dân số toàn quốc nói chung mà là trong con số tuyệt đối.
Người ta cũng chẳng ngạc nhiên khi thấy Giáo Hội Công Giáo Mỹ, mà một phần tín hữu đã chạy theo chiều hướng thần học tự do sau Công Đồng Vatican II, cũng đang suy thoái. Sự suy thoái của Công Giáo chắc chắn bị che lấp bởi cách thế ‘ma giáo’ được người Công Giáo sử dụng để đếm số các thành viên của mình. Thực thế, được ‘đếm’ là người Công Giáo nếu đã rửa tội trong Giáo Hội Công Giáo. Bởi thế, mà hàng triệu người tuy được ‘đếm’ là Công Giáo mà hoàn toàn dửng dưng, thậm chí còn thù nghịch, với Đạo Công Giáo nữa. Nếu chỉ đếm là Công Giáo những ai biết nghiêm chỉnh đối với tôn giáo của mình, như ít nhất cũng tham dự Thánh Lễ một lần vào ngày cuối tuần, thì chắc chắn ta sẽ thấy số người Công Giáo đang dần dần giảm sút đi.
Nếu chịu trung thực với chính mình, thì không một người Công Giáo nào, sau khi biết rõ lịch sử của phe Thệ Phản tự do, lại có thể ủng hộ phong trào thần học trong việc tự do hóa Đạo của mình. Khốn thay, trên thực tế, vẫn có những người Công Giáo hiểu biết lịch sử nhưng lại không chịu trung thực với chính mình, trong khi phần đông người Công Giáo không biết bao nhiêu về cái lịch sử kia. Cho nên người ta rất sợ cái đà suy thoái trên cứ thế tiếp diễn.
Công Giáo tự do
Một độc giả ký tên DJP, sau khi đọc D.R. Carlin, viết rằng phe Công Giáo tự do đang trở thành có tổ chức và hành động như một hội kín nhằm áp đặt các phương thức canh tân cũng như cách hiểu Phúc Âm của họ lên Giáo Hội định chế. Ông trưng một số bằng chứng:
(1) Một nữ tu ở Milwaukee, bang Wisconsin, viết cho một tờ báo Công Giáo địa phương để ủng hộ việc phá thai, còn dám gọi việc ấy là do Chúa chọn (divine choice) nữa. Hiển nhiên bà ta đã liên hiệp được với nhiều người trong Giáo Hội đi theo quan điểm của mình, chứ nếu không, một người công khai khấn dòng làm sao dám đưa ra một tuyên bố công khai như thế? Quan điểm của bà phổ biến giữa các nữ tu sĩ tiến bộ đến nỗi người ta sợ rằng họ không còn cho phá thai là việc xấu nữa… Chính vì thế mà một số đại học Công Giáo đã trở thành vườn ươm cho phong trào phò phá thai. Cũng chính vì thế, vị chủ tịch của Trinity College ở Hartford, Connecticut, mới hàm ý trên một tờ báo lớn của địa phương rằng một lá phiếu cho Obama là một lá phiếu ủng hộ phá thai, mà vị chủ tịch này là người ủng hộ Obama.
(2) Phần lớn các trang mạng của các cộng đồng nữ tu tiến bộ đều chú tâm một là tới việc thu lượm chai lọ bằng nhựa hai là tới việc chơi trò tìm đường lắt léo (labyrinth). Các công bố sứ mệnh (mission statements) của họ nói rất ít tới các cam kết tôn giáo đối với Chúa Giêsu và Giáo Hội của Người, và hầu như không đề cập gì tới lòng trung thành của họ đối với Giáo Hội. Đáng lưu ý một điều là họ sẵn sàng làm bất cứ điều gì để thu lượm chai lọ bằng nhựa, chứ hầu như không làm gì hết hay không nói gì hết về việc bảo vệ các trẻ em chưa sinh ra đời. Phần lớn các hình ảnh phụng vụ của họ loại trừ hẳn nam giới, nhất là các linh mục. Còn Thánh Thể thì sao? Cái nền văn hóa Công Giáo hình như không còn, không hiện hữu nữa trong tu viện của họ. Điều khiến người ta thắc mắc và bối rối là họ vẫn tiếp tục mặc áo dòng, trùm khăn đầu. Điều ấy hình như gây gương mù gương xấu nhiều hơn thì phải!
(3) Hãy đọc các lời tuyên bố với báo chí cũng như các bài vở chuyển tải lên mạng của Hội Đồng Lãnh Đạo Các Dòng Nữ (The Leadership Conference of Women Religious), bạn sẽ thấy họ sẵn sàng tham gia các lực lượng chính trị của phe chống đối các giáo huấn căn bản nhất của Giáo Hội Công Giáo. Đã đành là họ có cố gắng tìm cách bắt tay với giáo hội định chế, nhưng họ thề cho đến chết rằng họ sẽ không bao giờ thỏa hiệp mà chịu từ bỏ niềm tin rằng Giáo Hội quả sai lầm về các vấn đề phá thai, linh mục đàn bà, liên hệ tình dục bên ngoài hôn nhân truyền thống. Nếu đặt các nhà lãnh đạo của họ lên một dữ căn (database) toàn quốc, bạn sẽ thấy ta đang có những tác giả và lãnh tụ cực tả ngay trong lòng Giáo Hội.
(4) Phe cực tả Công Giáo đang dự định tổ chức một cuộc họp vào năm tới để phác thảo ra các chiến lược chống đối Giáo Hội và các phương thế hỗ trợ chính phủ Obama. Họ rất rõ ràng trong mục tiêu và họ hy vọng sẽ bắt tay với các phong trào như Người Công Giáo Phò Chọn Lựa (Catholics for Choice), Liên Minh Công Giáo Phò Ích Chung (The Catholic Alliance for the Common Good) v.v… để chống đối các giáo huấn chính thức của Giáo Hội. Họ đã bắt đầu lên tiếng bênh vực Đạo Luật Tự Do Chọn Lựa (FOCA) hay ít nhất cũng cố gắng làm tịt ngòi các lo âu khi FOCA được thông qua. Vị chủ tịch Các Bệnh Viện Công Giáo, chẳng hạn, dám tuyên bố rằng FOCA sẽ không buộc các bệnh viện Công Giáo phải đóng cửa. Có ai buộc họ phải đóng cửa đâu, nếu chịu khó thực hiện các thủ tục phá thai. Liệu các vị giám mục Công Giáo có cho phép các bệnh viện Công Giáo im lặng khi các thủ tục như thế diễn ra trong các bệnh viện của mình?
(5) Khá buồn khi thấy 4 thập niên qua, đã có khá nhiều đàn ông, đàn bà chống đối giáo huấn của Giáo Hội. Những người ấy đôi khi lại là chính các mục tử, các nhà điều khiển chương trình RCIA (tân tòng), các quản trị viên giáo xứ, các chủ tịch đại học… khắp nước. Họ âm thầm nhưng rất cương quyết. Thay vì tuyên xưng Đức Giêsu là Chúa, người ta sợ họ đang tự xưng mình là cứu chúa của thế gian.
Đá tảng, Giáo Hội và phe tự do
Một độc giả khác, ký tên Steve B, có cái nhìn tích cực hơn, bằng cách trích dẫn câu Chúa Giêsu nói với Thánh Phêrô: “Con là Đá, và trên tảng đá này, Thầy sẽ xây dựng Giáo Hội của Thầy. Và các cửa hỏa ngục sẽ không bao giờ làm gì được nó” (Mt 16:17-19).
Theo Steve B, trên đây là Lời Thiên Chúa. Và vì ta phải tin tưởng vào Thiên Chúa và Lời của Người, nên ta hãy bớt lo lắng đi và hãy tin tưởng phó thác nhiều hơn. Người sẽ không làm ta thất vọng. Mặc dù 40 năm qua, ta đã chứng kiến nhiều bất ổn trong Giáo Hội Chiến Đấu, trong Giáo Hội Công Giáo trên trần thế, nhưng ta không mất hết, hay gần như mất hết. Có người bỏ đi nhưng cũng có người trở về như chính bản thân Steve B. Hàng lãnh đạo Giáo Hội ở Mỹ trong giai đoạn liền sau Vatican II quả có xuống dốc. Bất trung, không vâng lời, thiếu can đảm, thiếu nghị trình thẳng thắn, sợ bị lép vế nếu tỏ ra chính thống v.v… Những quan điểm trái ngược về tín lý, giáo luật, và giáo lý dẫn tới mơ hồ lớn lao. Không thích quan điểm của một mục tử về ngừa thai hả, đã có “ông linh mục chào hàng” giải quyết. Nhìn kỹ thì thấy cả mục tử lẫn đoàn chiên đều lầm lỗi. Hậu quả: chủ nghĩa tự do tỉnh bơ bước vào Giáo Hội.
Nhưng nay đã khác rồi. Hơn 100 giám mục Mỹ đồng loạt lên tiếng về vấn đề sự sống và cuộc bầu cử vừa qua. Chưa bao giờ xẩy ra một việc như thế trong lịch sử gần đây. Các vị này đang đem lại hiệu quả nhưng bạn không thể một sớm một chiều gỡ bỏ 40 năm sống tầm thường ngày cũ.
Gần đây, Steve B có diễm phúc hầu truyện ba vị linh mục: một vị người Kenya, tới làm việc thường trực tại Mỹ, một vị người Mỹ gốc Việt là cha sở của ông, và một vị người Mỹ. Bốn người cùng bàn luận tới các vấn đề trên. Tất cả đều đồng ý: hàng giáo sĩ vừa là vấn nạn vừa là giải pháp cho Giáo Hội. Giáo Luật và Giáo Lý ngày nay đủ sức làm cho Đức Tin ngay ngắn trở lại. Có điều các linh mục nói thêm: hàng ngũ giáo dân có bổn phận phải học hỏi về Đức Tin vì nay các phương tiện cho việc ấy rất sẵn có. Đàng khác nên biết cách đặt vấn đề, dĩ nhiên phải trong tinh thần bác ái, với hàng giáo sĩ theo phe tự do và việc ấy có thể thay đổi tính chính thống. Dù chủ thuyết tự do là điều xấu, nhưng chính chúng ta, đoàn chiên, đã làm nó trở thành khả thể. Tuy thế, ta vẫn còn hy vọng. Thiên Chúa không bao giờ thất hứa, chỉ là vì ta không sống đủ lâu để thấy lời hứa ấy nên trọn. Phải tin tưởng vào Thiên Chúa, vào lời cầu nguyện và các bí tích…và một chút phong trào phúc âm (evangelism).