Đối thoại liên tôn, sự đóng góp của Giáo Hội Công Giáo(tiếp theo)

Cột mốc Regensburg hay bài diễn văn của Đức Bênêđíctô XVI

Biến cố bi thảm ngày 11 tháng Chín năm 2001 kéo theo cuộc khủng hoảng đối thoại liên tôn, một cuộc đối thoại trước đó vốn có nhiều phức tạp như chính Công Đồng Vatican II và các vị giáo hoàng gần đây xác nhận, nhất là Đức Gioan Phaolô II, nhưng nay kết cục đã làm giảm giá các điểm đặc thù mà niềm tin Kitô giáo từng đem lại trong nhiều thế kỷ qua. Trong các cuộc tấn công ở New York, mẫu mực đa văn hóa chủ hòa đã gặp một trở ngại chưa bao giờ được các vị ủng hộ đối thoại dự ứng trước. Dĩ nhiên, các cuộc tấn công khủng bố không khởi đầu với biến cố 11 tháng Chín năm 2001. Nhưng trong hình ảnh chết chóc đầy rùng rợn và khiếp đảm ấy, quả ta đã gặp nguyên mẫu chủ nghĩa phá hoại tận cùng đến trở thành hư vô. Tại cái tòa tháp đôi thực sự đã trở thành tro bụi ấy, gần như có đến 3 ngàn con người. Có phải tất cả đều là Kitô hữu cả chăng? Có phải đó là cuộc tấn công của người Hồi Giáo nhắm vào sào huyệt những tên Kitô hữu khốn kiếp chuyên thèm khát quyền lực và tiền bạc trong mưu đồ bá chủ hoàn cầu chăng? Không phải thế: có biết bao đàn ông đàn bà đủ mọi nguồn gốc, sắc tộc, tôn giáo đến đó, để lại chồng, vợ, con cái hay cha mẹ ở nhà hòng nhờ công việc mà tự thể hiện được mình và cổ vũ người khác tự thể hiện họ.

Điều ta chứng kiến quả là một thứ toàn thiêu không chỉ nhắm vào một sắc tộc đặc thù, như từng xẩy ra trong quá khứ, mà là nhắm vào những người đàn ông và đàn bà đúng nghĩa. Đâu là câu giải đáp thích đáng nhất cho nỗi kinh hoàng ấy? Phải chăng là một cuộc chiến tranh phòng ngừa nhằm hạ cho đến những con người cuối cùng? Một cuộc chiến tranh nhằm dạy cho các thế hệ tương lai biết coi tín hữu của các tôn giáo khác như mối nguy cần trừ khử? Một cuộc chiến tranh tiếp nối đường hướng đa văn hóa nhằm đặt mọi tôn giáo lên cùng một trình độ trong khi chờ đợi một siêu tôn giáo hoàn cầu xuất hiện, pha trộn đủ thứ tốt nhất của các tôn giáo kia? Các ý niệm ấy rất có thể làm ta phấn khích, nếu chúng không bị các sự kiện trong mấy thập niên gần đây bác bỏ. Đối với chúng ta, điểm căn bản trong cuộc đối thoại liên tôn là phải biết phân biệt được đức tin với văn hóa và mối liên hệ giữa một đức tin nhất định nào đó với một nền văn hóa đặc thù. Vấn đề này đã được bàn luận một cách hết sức rõ ràng trong tác phẩm của Đức Hồng Y Joseph Ratzinger có tựa đề tiếng Ý là Fede, Verità, Tolleranza (Đức Tin, Chân Lý, Lòng Khoan Dung, Cantagalli, Siena, 2003). Trong chương nói về Đức Tin, Tôn Giáo và Văn Hóa, bắt đầu với khả năng phổ quát hóa của Kitô giáo, tác giả thận trọng phân biệt ý nghĩa các hạn từ dùng trong vấn đề, và trong khi làm thế, ngài đã nhấn mạnh tới sự kiện này: việc chồng chất các khía cạnh kia vào với nhau rất có thể sẽ khiến người ta hiểu lầm về điều có liên hệ với hệ thống tin của một tôn giáo mà từ đó cái vỏ văn hóa của tôn giáo ấy được tạo thành. Có lúc, ngài tự đặt câu hỏi: “điều gì có thể nối kết các nền văn hóa với nhau, không theo lối khâu vá chúng lại với nhau, nhưng theo lối cuộc gặp gỡ giữa chúng sẽ đem lại một phong phú hóa và thanh tẩy thâm hậu?” (Joseph Ratzinger, sách đã dẫn. tr. 68).

Điều ấy giúp ta hiểu ra rằng trong cố gắng đối thoại của con người, dù đáng khen, nhưng nếu chỉ đặt các nền văn hóa, các tôn giáo và chủng tộc khác nhau bên cạnh nhau, như kiểu ráp hàng rào, mà thiếu cơ hội thông đạt hỗ tương, thì điều ấy chẳng có giá trị chi. Đối với nhiều người, quả là cay đắng khi khám phá ra căn cước của những người gây ra các cuộc tấn công khủng bố mấy năm trước đây tại Luân Đôn. Họ không xuất phát từ các trại huấn luyện bên A Phú Hãn hay bên I Răng mà đều là người sinh ra, lớn lên và được ‘giáo dục’ ngay tại nước Anh. Họ là những người từng đi học một trường với những người bị giết. Trong quá nhiều thập niên, người ta vẫn ngây thơ nghĩ rằng chỉ cần chào đón người thuộc các nền văn hóa và tôn giáo khác tới các thành phố của ta là đủ, không cần phải cố gắng lập liên hệ chi với họ. Thực ra, phương thế thực sự cổ vũ cho cuộc gặp gỡ bổ ích giữa các nền văn hóa “chỉ có thể là chân lý chung về con người, trong đó luôn có vấn đề chân lý về Thiên Chúa và thực tại như một toàn thể. Nền văn hóa nào càng tương tự với bản nhiên con người, thì càng cao thượng, càng mong vươn tới chân lý mà ở một thời điểm nào đó nó đã từng bị chia cắt, và càng có khả năng thẩm thấu chân lý này và đồng hóa với nó” (tác phẩm đã dẫn tr.68-69).

Tuy nhiên, theo thiển ý, cột mốc thực sự đánh dấu đối thoại liên tôn phải là bài diễn văn Đức Thánh Cha Bênêđíctô XVI đọc tại Trường Đại Học Regensburg. Thực vậy, dịp đó, Đức Thánh Cha đã liên kết vấn đề đức tin với lý trí. Ngài dẫn nhập bài diễn văn của mình bằng cách nhắc đến cuộc đàm luận, có lẽ đã xẩy ra vào năm 1391 ở Ankara, giữa Manuel II Paleologus, Hoàng Đế Byzantine, và một học giả Ba Tư, về Kitô giáo và Hồi giáo và chân lý của hai tôn giáo này. Đây là một cuộc đàm luận đa dạng về cấu trúc đức tin tìm thấy trong Thánh Kinh và Kinh Kôrăng, chủ yếu dựa trên hình ảnh Thiên Chúa và hình ảnh con người trong Cựu Ước, Tân Ước và Kinh Kôrăng. Trong cuộc đàm luận này, Hoàng đế Byzantine có đề cập tới jihād, thánh chiến. Tuy không đồng ý với tư tưởng của vị Hoàng Đế này nghĩ về Mohammed, nhưng Đức Bênêđíctô XVI đã giữ lại điểm chính yếu trong tư tưởng ấy khi nói tới mối liên hệ giữa Thiên Chúa và bạo lực. Đức Giáo Hoàng nói: “Sau khi phát biểu một cách mạnh mẽ, hoàng đế tiếp tục giải thích trong chi tiết các lý do tại sao truyền bá đức tin bằng bạo lực lại là điều vô lý. Bạo lực không đi đôi với bản tính Thiên Chúa và bản tính linh hồn”. Ngài nói: Thiên Chúa không vui vì máu, và không hành động hợp lý là đi ngược lại bản tính Thiên Chúa. Đức tin do linh hồn phát sinh, chứ không do thân xác. Người nào muốn dẫn đưa ai đó vào đức tin cần phải có khả năng nói năng đàng hoàng và suy luận thích đáng, không cần tới bạo lực hay đe doạ…Muốn thuyết phục một linh hồn hợp lý, ta không cần cánh tay khỏe, hay vũ khí bất cứ loại nào, hay bất cứ phương tiện nào khác nhằm đe dọa người ta bằng cái chết…” (Benedict XVI, gặp gỡ đại diện giới khoa học, Đức tin, lý trí và đại học. Ký ức và Suy tư. Đại Giảng Đường Đại Học Regensburg, 12 tháng Chín 2006).

Tụ điểm bài diễn văn của Ngài chính là câu tuyên bố của Hoàng Đế Paleologus: không hành động cách hợp lý là chống lại bản tính Thiên Chúa. Câu tuyên bố ấy thật ra không nhằm tấn công ai như nhiều người trong thế giới Hồi Giáo thường nghĩ, mà chỉ là một khởi điểm giúp Đức Giáo Hoàng đưa ra một số nét đại cương có tính triết lý và lịch sử tuy vắn vỏi nhưng đầy hiệu quả trong cố gắng liên kết lý trí với đức tin… Các suy tư của Đức Giáo Hoàng, nhân lúc nhắc tới cuộc đàm luận giữa hai đại biểu của hai tôn giáo lớn là Kitô giáo và Hồi giáo trong thế kỷ Mười Bốn, đã đi tới chỗ coi thần học và triết học như một phương pháp nhận thức. Khi trách cứ tư tưởng Tây Phương đã không sử dụng lý trí cách thoả đáng để vươn tới đức tin đến nỗi kết cục đã “đầy ải” đức tin vào lãnh vực chủ quan tính, Đức Giáo Hoàng muốn mời gọi mọi người “mở rộng quan niệm của ta về lý trí và cách áp dụng nó. Trong khi ta hân hoan trước các khả thể mới đang mở ra cho nhân loại, thì ngược lại ta cũng đang chứng kiến nhiều nguy cơ phát sinh từ chính các khả thể ấy và ta hãy tự hỏi làm cách nào có thể vượt qua các nguy cơ kia. Ta chỉ có thể vượt qua các nguy cơ ấy nếu lý trí và đức tin đến với nhau cách mới mẻ, nếu ta chịu vượt qua các giới hạn do mình tự ấn định lên lý trí, các giới hạn thu gọn lý trí vào phạm vi thực nghiệm, và nếu ta một lần nữa khai mở các chân trời bao la của lý trí. Trong chiều hướng này, thần học quả thực thuộc về đại học và là cuộc đối thoại sâu rộng của khoa học, không hẳn chỉ là một môn học có tính lịch sử, một ngành trong các khoa học nhân văn, nhưng là một môn học chuyên biệt, một thứ truy tầm tính thuận lý của đức tin. Chỉ khi nào làm được như thế, ta mới có khả năng thực hiện cuộc đối thoại chân chính giữa văn hóa và tôn giáo, một cuộc đối thoại hết sức cần thiết trong lúc này” (Benedict XVI, gặp gỡ đại diện giới khoa học, Đức tin, lý trí và đại học. Ký ức và Suy tư. Đại Giảng Đường Đại Học Regensburg, 12 tháng Chín)

Con người ngày nay đang giáp mặt với các thách đố vừa nhiều vừa phức tạp: từ thách đố hàng triệu sinh mạng đang bị đe doạ chết đói tới các thách đố chiến tranh liên sắc tộc và chiến tranh hoàn cầu, từ việc thiếu tôn trọng sự sống tới việc truyền bá chủ nghĩa duy khoái lạc vốn là đặc điểm lối sống của phần đông con người trên thế giới. Đó là lý do khiến con người ngày nay quay trở lại lắng nghe tôn giáo. Đức Giáo Hoàng nói “việc lắng nghe các kinh nghiệm cao cả và các tầm nhìn trong sáng nơi các truyền thống tôn giáo của nhân loại, nhất là các kinh nghiệm và tầm nhìn của niềm tin Kitô giáo, vốn được coi là nguồn đem lại nhận thức, nên làm lơ nó là hạn chế khả năng nghe và đáp ứng của ta, một việc không thể chấp nhận được” (Benedict XVI, gặp gỡ đại diện giới khoa học, Đức tin, lý trí và đại học. Ký ức và Suy tư. Đại Giảng Đường Đại Học Regensburg, 12 tháng Chín). Ta không thể dung thứ được các giới hạn do các cố gắng trong quá khứ nhằm chỉ áp dụng Phúc Âm vào một số hoàn cảnh của đời sống như một số kẻ tiêu cực từng chủ trương, mà buồn thay, trong đó có cả những con người của Giáo Hội nữa. Về điểm này, Đức Giáo Hoàng trích dẫn câu của Socrates nói với Phaedo như sau: “ “sẽ dễ dàng hiểu được nếu có ai đó vì quá buồn bực trong suốt quãng đời còn lại đối với các ý niệm sai lạc này mà khinh miệt và chế diễu mọi cuộc nói truyện về hữu thể, nhưng làm thế, anh ta đã tự đánh mất chân lý về hiện hữu và sẽ chịu mất mát thật lớn biết chừng nào”. Đã từ lâu, Phương Tây vốn bị đe dọa bởi việc tránh né các câu hỏi nhấn mạnh tới tính thuận lý của mình, và do đó đã tự chuốc lấy nhiều thiệt hại lớn lao” (đã dẫn). Theo cách trình bầy của Đức Thánh Cha, ta hiểu rằng cái khó khăn trong việc có được một con đường đối thoại liên tôn thích đáng không hẳn hệ ở việc thiếu cởi mở đối với những người khác mình, một điều dĩ nhiên lúc nào cũng cần phải có và đáng ước ao, nhưng hệ ở việc đã biến cuộc đối thoại kia thành mục tiêu thay vì chỉ là phương tiện. Quá lâu nay ta vốn nghĩ rằng muốn đối thoại được với một ai đó, ta phải gột bỏ khỏi bản sắc ta mọi ý nghĩa mang theo cảm nghiệm. Thực tế ra, chỉ lý trí nào có khả năng tự mở cửa chào đón thực tại trong tất cả các chiều rộng dài của nó mới thực sự khám phá được hết nét vĩ đại trong cảm nghiệm tôn giáo chân chính và chỉ những cảm nghiệm này mới có thể nói được rằng “không hành động cách hợp lý là đi ngược lại bản tính Thiên Chúa”.

Hậu Regensburg

Liền sau diễn văn Regensburg, ta thấy xuất hiện hai loại phản ứng. Một là ầm ĩ phản đối từ phía quần chúng của một số nước Hồi Giáo. Một số nhà xã luận Phương Tây “khôn khéo” khai triển một hai câu rồi cho phổ biến trên báo chí hòng động viên hàng ngàn những người vốn không muốn mà cũng không có thì giờ đọc chính lời Đức Giáo Hoàng nói. Tòa Thánh phải lên tiếng giải thích ý Đức Giáo Hoàng muốn nói và chính Đức Bênêđíctô XVI cũng không bỏ lỡ cơ hội tái khẳng định điều Ngài thực sự nghĩ trong đầu. Ý thực sự Đức Giáo Hoàng muốn nói đã trở nên rõ ràng khi Ngài qua thăm Thổ Nhĩ Kỳ và đến viếng Đền Thờ nổi tiếng Sultanahmet, cũng có tên là Đền Xanh (Blue Mosque) hồi tháng Mười Một năm 2006, chỉ vài tháng sau bài diễn văn trên. Phản ứng thứ hai, cũng không kém nguy hiểm, là thái độ của một số giới trong Giáo Hội, nửa xấu hổ nửa bất bình, lên tiếng cho rằng bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng hết sức phiến diện, không thích hợp vào thời điểm đầy bạo lực và bất khoan dung này.

Tuy nhiên, nhờ giọng điệu chừng mực và nội dung chính xác, bài diễn văn trên mang lại nhiều hiệu quả thực sự mà nhiều cuộc gặp gỡ nhằm cổ vũ hòa bình và đối thoại khác chưa bao giờ có thể tạo ra được. Chúng tôi chỉ xin đơn cử một số sau đây:

Một tháng sau bài diễn văn Regensburg, một bức thư ngỏ được trình lên cho Đức Bênêđíctô XVI, do 38 nhân vật hàng đầu của Hồi Giáo thuộc nhiều quốc gia và xu hướng ký tên. Bức thư này thảo luận từng điểm các phê phán của Đức Giáo Hoàng trong bài diễn văn trên đối với Hồi Giáo. Các tác giả bức thư này chấp nhận và đánh giá cao lời giải thích của Đức Bênêđíctô XVI sau loạt phản đối dữ dội của thế giới Hồi Giáo mấy ngày sau bài diễn văn kia, nhất là bài diễn văn của Đức Giáo Hoàng đọc trước các vị đại sứ của các nước Hồi Giáo vào ngày 25 tháng Chín và thư của Đức Hồng Y Tarcisio Bertone, Quốc vụ khanh Tòa Thánh ngày 16 tháng Chín trong đó bản tuyên bố “Nostra Aetate” của Công Đồng Vatican II đã được trưng dẫn. Các nhà lãnh đạo Hồi Giáo này cực lực lên án vụ sát hại nữ tu truyền giáo người Ý, Leonella Sgorbati, ở Somalia. Họ hoan hô ý muốn đối thoại của Đức Giáo Hoàng. Đặc biệt nhất là họ coi trọng các lý thuyết của Ngài. Thái độ của 38 nhà lãnh đạo Hồi Giáo này chính là điều Đức Bênêđíctô XVI mong muốn: nhờ bài diễn văn mạnh bạo trên, thế giới Hồi Giáo sẽ suy tư công khai nhằm đạt tới việc tháo gỡ tôn giáo ra khỏi bạo lực và nối kết nó với lý trí. Cho nên, theo ý kiến của Đức Giáo Hoàng, “tính hợp lý” (reasonableness) của niềm tin chính là thửa đất tự nhiên cho cuộc gặp gỡ giữa Kitô hữu và các tôn giáo cũng như các nền văn hóa khác.

Một năm sau bức thư trên, 138 nhân vật hàng đầu của Hồi Giáo viết cho Đức Giáo Hoàng một bức thư khác. Không như bức đầu, bức thứ hai này ngỏ với cả Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI lẫn Thượng phụ đại kết của Constantinople, Bartholomew I, Thượng phụ Mạc Tư Khoa, Alexis II, và các nhà lãnh đạo của 18 Giáo Hội Đông Phương khác; Tổng giám mục Anh Giáo Rowan Williams; Các nhà lãnh đạo Liên Đoàn Luthêrô Thế Giới, Các Giáo Hội Cải Cách, Methodist và Baptist; Samuel Kobia, Tổng thư ký Hội Đồng Các Giáo Hội Hoàn Cầu, và ‘các nhà lãnh đạo các giáo hội Kitô’ nói chung. Về nội dung, bức thư đầu ủng hộ chủ trương tự do tín ngưỡng ‘không hạn chế’, bênh vực tính hợp lý của Hồi Giáo trong khi giữ vững tính siêu việt của Thiên Chúa. Thư này tái khẳng định các giới hạn do lý thuyết của Hồi Giáo đặt để liên quan tới việc sử dụng chiến tranh và bạo lực, lên án “những giấc mơ không tưởng trong đó mục tiêu biện minh cho phương tiện”. Bức thư kết thúc với lời hy vọng Hồi Giáo và Kitô Giáo thiết lập liên hệ dựa trên tình yêu Thiên Chúa và tình yêu tha nhân, hai “giới răn trọng nhất” được Chúa Giêsu nhắc đến trong Phúc Âm Máccô chương 12, các câu 29-31. Bức thư thứ hai bắt đầu ở chỗ bức thư thứ nhất kết thúc, bằng cách khai triển thêm. Hai giới răn yêu Chúa và yêu tha nhân, có cả trong kinh Kôrăng lẫn Thánh Kinh, quả là “lời chung” mang lại “căn bản thần học chắc chắn nhất” cho cuộc gặp gỡ giữa Hồi Giáo và Kitô Giáo.

Ngày 6 tháng Mười Một năm 2007, tại Vatican, Đức Giáo Hoàng tiếp kiến Vua Abdallah bin Abdulaziz Al Saud của Saudi Arabia. Vương quốc Saudi Arabia hiện không có liên hệ ngoại giao với Tòa Thánh. Thành thử cuộc viếng thăm của Nhà Vua là một biến cố lịch sử có một không hai. Arabia hiện được nhìn nhận có thế giá hàng đầu trong thế giới Hồi Giáo Sunni, cả vì lý do lịch sử (Hồi Giáo phát sinh và phát triển tại vùng này) lẫn lý do kinh tế xã hội nữa: xứ này cung cấp viện trợ tài chánh cho hầu hết các nước Hồi Giáo. Thông cáo của Tòa Thánh về cuộc gặp gỡ này khá ngắn nhưng rất nồng ấm: “Cuộc gặp mặt diễn ra trong bầu khí thân ái và đem lại cơ hội để xem sét các vấn đề cả hai bên rất quan tâm. Đặc biệt, việc cam kết đối thoại liên tôn và liên văn hóa nhằm sống chung hoà bình và phát đạt giữa các cá nhân và dân tộc được tái khẳng định cũng như tầm quan trọng của việc hợp tác giữa các tín hữu Kitô giáo, Hồi giáo và Do Thái giáo để cổ cổ vũ hòa bình, công lý và các giá trị thiêng liêng và luân lý, nhất là để hỗ trợ các gia đình”.

Một cái nhìn phiến diện rất có thể coi bài diễn văn Regensburg như một nấm mồ chôn sống cuộc đối thoại giữa Kitô giáo và Hồi giáo. Nhưng thực ra, bức thư ấy quả là khúc quanh trong chính cuộc đối thoại trên.

Người Trẻ và Đối Thoại Liên Tôn

Gần đây, những cuộc đối thoại song phương trên nhiều bình diện giữa Do Thái và Công Giáo đã liên tiếp được tổ chức. Gần đây nhất là cuộc gặp gỡ tại Budapest, từ ngày 9 tới ngày 12 tháng Mười Một giữa Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo với Người Do Thái, thuộc Hội Đồng Giáo Hoàng phụ trách Cổ Vũ Hiệp Nhất Kitô Giáo và Ủy Ban Do Thái Quốc Tế. Không như các cuộc gặp gỡ cao cấp vừa nhắc trên đây, cuộc gặp gỡ lần này mời gọi sự tham dự của những con người bình thường nhất. Thực vậy, linh mục Norbert Hofmann, thư ký của Ủy Ban Liên Lạc Tôn Giáo với Người Do Thái cho hay: muốn có tiến bộ trong liên hệ Do Thái và Công Giáo, ta cần mời gọi sự tham gia của giới trẻ.

Trong các ngày từ mồng 9 tới 12 tháng Mười Một, Ủy Ban trên sẽ tham dự cuộc họp tại Budapest, Hung Gia Lợi, với Ủy Ban Do Thái Quốc Tế bàn về Những Tham Khảo Liên Tôn với chủ đề: “Xã hội dân sự và tôn giáo: Quan điểm Công giáo và Do thái giáo”. Đây là hội nghị quốc tế lần thứ hai thuộc loại này đã diễn ra tại Đông Âu. Hội nghị lần đầu được tổ chức tại Prague năm 1990. Hội nghị lần này nhằm lôi cuốn các thế hệ tương lai tham dự cuộc đối thoại liên tôn và cổ vũ sự hợp tác giữa Công Giáo, Do Thái Giáo và Chính Thống Giáo.

Cha Hofmann cho hay lý do hai bên cùng chọn Budapest là vì ở đấy có một cộng đồng Do Thái khá lớn. Trước khi hội nghị bắt đầu, hai bên đã tổ chức cuộc gặp mặt vào ngày cuối tuần cho 6 bạn trẻ Do Thái và 6 bạn trẻ Công Giáo. Cả hai nhóm lần lượt cùng tới một hội đường và sau đó tới một nhà thờ dự Thánh Lễ. Ngày cuối tuần đó đã là một chuẩn bị rất tốt cho cuộc hội nghị lần này.

Theo cha Hofmann, chúng ta là những con người tôn giáo, nên đức tin là tâm điểm của đối thoại. Một trong các khía cạnh của xã hội đương thời là hiện tượng thế tục hóa với nhiều hiệu quả đối với sinh hoạt tôn giáo của cả Do Thái lẫn Công Giáo. Làm thế nào để đương đầu với hiện tượng ấy, đó chính là ưu tư của Hội Nghị.

Hiện nay đã có sự nhất trí giữa hai bên về tầm quan trọng của tôn giáo và việc tìm ra bản sắc mình. Người Công Giáo không khai triển bản sắc mình trong phòng áo lễ, mà khai triển nó trong sinh hoạt xã hội và đời sống công cộng. Bởi thế, người Do Thái Giáo và người Công Giáo phải làm việc chung với nhau, phải tạo ra nhiều giá trị chung. Mười Điều Răn dĩ nhiên là căn bản chung rồi.

Ngoài ra, còn cần giúp người nghèo và những ai sống bên lề xã hội nữa. Có rất nhiều giá trị ta cần thực hiện chung với nhau.

Hoài mong chung là cùng nhau thâm hậu hóa tình thân hữu giữa người Công Giáo và người Do Thái Giáo trên bình diện quốc tế để tạo tiến bộ và thâm hậu hóa cuộc đối thoại giữa hai bên. Việc một giáo sĩ Do Thái lên tiếng trong Thượng Hội Đồng Giám Mục Thế Giới gần đây quả là đáng khích lệ. Ta cần khai triển những hợp tác như thế. Và trong việc này, giới trẻ đóng một vai trò quan trọng.

Kết luận

Để kết luận, theo thiển ý, muốn làm cho cuộc đối thoại hữu hiệu, nghĩa là biến nó thành một phương tiện chứ không phải là một cùng đích, điều cần là phải gạt sang một bên cái xác tín cho rằng chỉ có thể có hòa bình và tôn trọng lẫn nhau, khi người ta xóa bỏ việc làm chứng tá cho chính bản sắc mình. Đó không phải là điều Chúa Giêsu dạy ta: Người vươn tay ra chào đón mọi người, nói với mọi người, nhưng không bao giờ bỏ lỡ cơ hội cho họ hay lý do tại sao Người bước vào trần gian. Lý do ấy là đến để làm chứng về Chúa Cha của Người. Giáo Hội, khi bước chân theo Thầy Chí Thánh, đã luôn luôn tiếp nối cùng một phương pháp ấy: công bố cho mọi người thuộc mọi thời đại tin mừng Nhập Thể của Ngôi Lời, việc Người chịu khổ hình, chịu chết nhưng sau đó đã sống lại. Để làm điển hình, chúng tôi xin trình bầy kinh nghiệm đối thoại của một nhân vật ngoại hạng trong lịch sử Giáo Hội: Thánh Phanxicô thành Assisi. Thời ngài sống không phải là thời hòa bình: chiến tranh xẩy ra khắp nơi, nào là chiến tranh giữa các thành thị, rồi thập tự chinh. Trong bối cảnh ấy, ngài đã đích thân đi gặp Ông Hoàng Ai Cập. Câu truyện này được kể lại trong cuốn “Leggenda Maggiore di San Bonaventura da Bagnoregio” (Những dã sử lớn.của Thánh Bonaventura thành Bagoregio). Mười ba năm sau ngày hồi tâm, Thánh Phanxicô lên đường qua Phương Đông. Trên đường hành hương ấy, ngài muốn được gặp Ông Hoàng, mặc dù lúc ấy, Kitô hữu và người Hồi Giáo đang có tranh chấp lớn. Các liên hệ trở nên tồi tệ khi Ông Hoàng này ra sắc lệnh hứa thuởng vàng bạc cho bất cứ ai trao nạp được đầu một Kitô hữu.

Trong cuộc hưu chiến vào cuối tháng Tám và cuối tháng Chín năm 1219, trước mặt Ông Hoàng Melek-el Kaamel, Thánh Phanxicô bị vặn hỏi lý do thăm viếng. “Với một tâm hồn mau mắn, thánh nhân trả lời rằng ngài được sai tới đây không phải bởi người trần thế mà là bởi Thiên Chúa Toàn Năng, để tỏ bầy cùng Ông Hoàng và thần dân của Ngài con dường cứu rỗi, và để công bố Phúc Âm Sự Thật. Ngài giảng cho Ông Hoàng nghe về Thiên Chúa, Thiên Chúa duy nhất trong Ba Ngôi Vị và Chúa Cứu Thế muôn dân là Chúa Giêsu Kitô” (Leggenda Maggiore, San Bonaventura da Bagnoregio)

Câu truyện trên cho thấy một phương pháp đối thoại rất đặc biệt. Phương pháp ấy được môn đệ Thánh Phanxicô tiếp tục sử dụng mãi cho tới ngày nay. Chỉ cần đơn cử việc Dòng Phanxicô Trông Coi Đất Thánh là đủ. Đây là một công cuộc đối thoại đầy khó khăn giữa hai khối đa số Do Thái giáo và Hồi Giáo, một cuộc vật lộn khiến cho cuộc sống người Kitô hữu thiểu số ngay trên quê hương của Chúa Giêsu ra khó khăn vô cùng. Cũng như trong quá khứ, các công trình trợ giúp và giáo dục của Dòng Phanxicô không những nhằm các đối tượng Kitô giáo mà cả các đối tượng Hồi giáo nữa. Mẹ Têrêxa thành Calcutta cũng áp dụng cùng một phương pháp như thế. Ngài biến các công việc bác ái của mình thành cố gắng liên tôn liên tục; tuy không dùng công việc bác ái của mình vào việc khuyên người ta bỏ Ấn Giáo mà theo Kitô Giáo, nhưng lúc nào Á Thánh cũng tuyên bố rằng việc mình làm là vì Chúa Kitô. Hay công trình mục vụ của nhà truyền giáo Ý, Cha Andrea Santoro, mới bị sát hại gần đây tại Thổ Nhĩ Kỳ.

Ta không quen thuộc với hình thức đối thoại trên vì ngày nay người ta thường có ý niệm cho rằng cuộc đối thoại chỉ chân thực và hữu ích khi ta từ bỏ tính đặc thù trong bản sắc mình để tránh đừng xúc phạm tới người đối thoại với ta. Trên thực tế, cái xác tín lạ lẫm đó, cái xác tín cho rằng khẳng nhận bản sắc mình là nguyên nhân tạo ra tranh chấp, đã xâm nhập vào cả thế giới Công Giáo từ lâu.

Ở điểm này, ta cần hiểu rõ thế nào là bản sắc. Nếu ý niệm bản sắc có nghĩa là phải dùng tôn giáo hay quan điểm của mình làm cờ hiệu vẫy lên để kéo chú ý của người khác, thì điều đó dễ biến thành ý thức hệ: trong trường hợp này, mục tiêu là chiếm lãnh Sự Thật chứ không còn phục vụ Sự Thật nữa. Nhưng nếu hiểu bản sắc như là yêu thương làm chứng cho kinh nghiệm đức tin của mình, một kinh nghiệm sống để minh chứng đức tin ấy bằng công cuộc bác ái, thì nguy cơ bất khoan dung sẽ không còn. Các tài liệu ta vừa đọc có mục đích nhấn mạnh điều này: mục tiêu của việc làm chứng cho đức tin là làm cho cuộc sống con người bớt khó khăn, giúp ho đạt tới điều tốt, từ điều tốt của cá nhân tới điều tốt hơn của toàn thể xã hội. Làm sao ta có thể quên lời Chúa Giêsu dạy: “Ta đến không để luận phạt nhưng để cứu vớt thế gian”.

Khó có thể đối thoại, nếu ta không là môn đệ của ai đó, bất kể đó là tôn giáo nào. Theo thiển ý, Giáo Hội tiếp tục can đảm sử dụng các từ ngữ nhân vị, gia đình, giáo dục, chân lý, tình yêu chỉ vì biết rõ mình là sự liên tục lịch sử của Đấng Emmanuel, Thiên Chúa ở cùng chúng tôi, Đấng đã không bỏ qua cơ hội nào để giúp đỡ con người trở thành điều họ được mời gọi trở nên. Cái chết của Chúa Kitô trên Thánh Giá là hình ảnh yêu thương vô giới hạn đối với cả những người hành hình mình.

Chủ đề đối thoại đã trở nên quá mơ hồ vì bị tách rời khỏi chủ đề Chân Lý, do đó, trong não trạng chung, đã nẩy sinh ra ý niệm lầm lẫn muốn đặt hai cực ấy ở thế đối nghịch nhau. Loại bỏ ý niệm Chân Lý ra khỏi tôn giáo là loại bỏ vật liệu ra khỏi việc xây dựng một cái gì đó. Chủ nghĩa cực đoan (fundamentalism) có cái nguy cơ là đã loại bỏ khả thể có thể có chân lý và chân lý ấy có thể thông đạt được cho con người. Tuy nhiên, dấu hiệu hy vọng không thiếu: các triều giáo hoàng gần đây, kể cả triều giáo hoàng hiện nay, đều nổi bật ý muốn bắc cầu với nền văn hóa thời đại để phá đổ mọi rào cản từng được dựng lên làm khí cụ ngăn cách tín hữu với người không tin, ngăn cách các tín hữu của các tôn giáo với nhau. Tương lai của hòa bình, của đối thoại và hoà hợp giữa các dân tộc không nằm trong cố gắng từ nhiều thế kỷ qua, nhất là thế kỷ hiện nay, nhằm triệt hạ tôn giáo, mà là nằm trong cố gắng sống chân lý do kinh nghiệm tôn giáo bản thân của mỗi người đem lại. Các Kitô hữu biết rằng vì Thiên Chúa đã làm người, vì Ngôi Lời đã thành xác thân, nên không điều gì và không ai còn xa lạ nữa; theo cách thế nhiệm mầu, mỗi chủ thể và mọi chủ thể đều được nối kết với Chúa Giêsu Kitô, khuôn mặt đích thực của Thiên Chúa.

________________________________________________________________________________

Tài liệu của Hãng tin Fides, ngày 6 tháng Tám 2008 và của Hãng tin Zenit ngày 9 tháng 11 2008.