Đối thoại liên tôn, sự đóng góp của Giáo Hội Công Giáo
Vấn đề liên tôn chắc chắn là một vấn đề then chốt trong các xã hội ngày nay. Các biên giới truyền thống vốn hạn chế các phạm vi phát triển văn hóa khác nhau đã và đang dần biến đi. Ngày nay, người thuộc các nền văn hóa, truyền thống và tôn giáo khác nhau buộc phải sống bên cạnh nhau. Hiện tượng này tiếp tục lớn mạnh do việc người ta đi tìm các điều kiện sống tốt đẹp hơn và việc cần phải chia sẻ tín liệu mới phát triển được các dân tộc nói chung.
Trong bối cảnh biến hóa không ngừng ấy, nhiều vấn đề đáng lưu ý đã được đặt ra cả trong lãnh vực kinh tế, xã hội lẫn chính trị, nhất là tôn giáo. Về lãnh vực cuối cùng vừa kể, não trạng hiện nay coi chiều kích tôn giáo nơi con người như một điều gì cần phải giới hạn vào phạm vi cá nhân, tư riêng, không dính dáng gì tới chiều kích công cộng. Nhưng thực ra, nói tới các vấn đề tôn giáo chủ yếu là nói tới phương cách con người liên hệ với Hữu Thể cao hơn mình ngõ hầu nhận ra cách thế đặc thù mà nhìn thực tại cho đúng đắn: tôn giáo là ý niệm của ta về cuộc đời, về các mối tương quan liên bản ngã, về lòng kính trọng sáng thế, về việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, về lao động của con người v.v…Theo quan điểm này, bất cứ cố gắng nào nhằm thu gọn kinh nghiệm tôn giáo vào phạm vi hoàn toàn cá nhân, riêng tư mà thôi là đã không xét tới các dữ kiện có tính cơ cấu vốn lên đặc điểm cho hữu thể nhân bản.
Điều tệ hơn nữa là những người đang cố gắng trung lập hóa khía cạnh xã hội của tôn giáo kia sớm muộn gì rồi cũng sẽ phá hủy luôn khía cạnh tư riêng của nó. Trong quá khứ đã có quá nhiều thí dụ điển hình. Thực vậy, các nền văn hóa nói chung, kể cả những nền văn hóa bán khai, lúc nào cũng lấy tính tôn giáo tự nhiên nơi con người làm cách thế đánh dấu các giai đoạn đời họ trong xã hội. Chỉ cần đơn cử các nghi lễ khai tâm trong nhiều nền văn hóa thời xưa là thấy. Các nghi lễ ấy được dùng như hành trang (viaticum) để lên đường làm một thành viên trọn vẹn của xã hội; hay các nghi lễ chuộc tội (expiation) với sự tham dự của cả thẩm quyền đạo lẫn thẩm quyền đời. Tuy nhiên, chính trong nền văn hóa Tây Phương một phần lớn, mà hai lãnh vực kia đã bị phân cách và sự phân cách này đạt tới cao điểm với phong trào Ánh Sáng (Enlightenment), tiền thân Cách mạng Pháp. Dựa vào các tiến bộ lớn lao của khoa học và kỹ thuật, con người nhấn mạnh tới giá trị của lý trí. Điều ấy đúng thôi. Nhưng họ đi quá đà bằng cách loại bỏ Thiên Chúa, và tự biến mình thành quan án duy nhất và tối hậu cho chính mình. Trong thế giới tự nhận là phát triển, vấn đề tôn giáo nói chung và cuộc đối thoại liên tôn nói riêng, phần lớn đang bị quan điểm trên làm cho ô nhiễm.
Tuy thế, Giáo Hội Công Giáo, một tôn giáo với chủ trương duy thực (realism) lành mạnh từng đánh dấu bước đi của mình trong lịch sử, không bỏ chạy trước thách đố do trạng huống trên đem lại. Khi cố gắng đề nghị ra các phương tiện và phương cách để cổ vũ đối thoại và hòa hợp giữa mọi người, giữa người tin lẫn người không tin, giữa Kitô hữu lẫn người không phải là Kitô hữu, Giáo Hội Công Giáo quả đang đi tiên phong trong việc cổ vũ thảo luận. Thực vậy, nhờ Giáo Hội Công Giáo, ngày nay ta mới có các cuộc đối thoại, thảo luận và hợp tác giữa những người có tôn giáo khác nhau. Các văn kiện của Công Đồng Vatican II như “Nostra Aetate” (Thời Đại Ta), “Gaudium et Spe” (Vui Mừng và Hy Vọng), “Dignitatis Humanae” (Nhân Phẩm) là những đóng góp lớn cho những cuộc đối thoại, thảo luận và hợp tác nói trên. Ngoài ra, còn rất nhiều các buổi gặp gỡ giữa các vị Giáo Hoàng gần đây với các nhà lãnh đạo một số tôn giáo lớn có tính hoàn cầu nhưng không phải là Kitô Giáo.
Tuy nhiên, các cố gắng cổ vũ đối thoại của Giáo Hội đã phát sinh ra nhiều hiểu lầm nơi dân Chúa, nhất là trong 40 năm qua, liên quan tới việc thích đáng có nên phúc âm hóa hay không, như thể ta đang bước vào một thời kỳ trong đó lệnh truyền của Chúa Kitô đòi ta phải ra đi và rửa tội cho muôn dân nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi đã không còn giá trị nữa, không những thế, có khi còn phá hoại việc chung sống hòa bình giữa tín hữu của các tôn giáo khác nhau nữa. Sự mâu thuẫn biểu kiến giữa bản sắc và đối thoại khiến người ta nghiêng về khía cạnh thứ hai vừa kể ở trên. Đã đành các tổ chức không phải là Công Giáo kia đang thực hiện được nhiều công trình đáng ca ngợi trong việc giúp đỡ người nghèo và làm trung gian hòa giải cho nhiều cuộc tranh chấp trên thế giới, nhưng ta đừng quên tính đặc thù trong đức tin Kitô giáo so với các tôn giáo hoàn cầu khác.
Việc cổ vũ một số sáng kiến, dù có nhiều khía cạnh tích cực đi song song với nó, song nhiều khi cũng gây mù mờ về các dị biệt giữa các tôn giáo với nhau. Đồng văn hóa (contextualisation) một cách thiếu chính xác các biến cố hay sáng kiến này từng phát sinh ra nhiều hiểu lầm lạ lẫm nơi dân Chúa. Không những một số trí thức Công Giáo mà cả một số giáo sĩ nữa đang bắt đầu hoài nghi chính bản chất độc hữu của ơn cứu rỗi do Chúa Giêsu đem lại. Họ coi bất cứ ai còn trì chí loan báo ơn cứu rỗi và việc trở lại là lỗi thời, thiển cận. Rất may, một trong những thánh bộ chủ yếu của Giáo Hội Công Giáo là Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã thấy ra nhu cầu cần phải làm sáng tỏ tính duy nhất trong ơn cứu rỗi của Chúa Kitô, đến độ phải làm một hành động long trọng là cho công bố tài liệu “Chúa Giêsu” (Dominus Iesus, tháng Tám năm 2000), và ít năm sau một tài liệu khác tựa là Doctrinal Note on some aspects of evangelisation (Ghi chú Tín lý về một số khía cạnh của việc phúc âm hóa, Rome, 2007)
Giờ đây, ta phải tự hỏi chính mình: nếu cuộc đối thoại và thảo luận liên tôn dưới hình thức như hiện nay không đem lại kết quả, thì đâu là phương thức thay thế? Có nên cứng ngắc bám vào quan điểm của mình dù kết quả chỉ là tranh chấp? Các bản sắc khác nhau phải chăng không bao giờ gặp nhau? Ta hãy cùng nhau cố gắng trả lời những câu hỏi ấy bằng lời Đức Gioan Phaolô II từng nói trong một buổi đọc Kinh Truyền Tin rằng: “Đức tin của ta rằng Chúa Kitô là Người Con duy nhất nhờ Người ta thấy các sự kiện về Chúa Cha (xem Ga 14:8) không phải là một thái độ ngạo mạn coi thường mọi tôn giáo khác, nhưng chỉ là lòng hân hoan biết ơn Chúa Kitô đã tỏ mình ra với ta dù ta chẳng đáng công chút nào”.
Lời trên đặt ta vào quan điểm đúng đắn: đức tin Kitô giáo là một hồng phúc ta không đáng được mà cũng không có công trạng chi để mà đòi hỏi; nó là của châu báu mà ta không được phép giữ làm của riêng nhưng có nhiệm vụ phải chia sẻ với người khác.
Tôn giáo: một câu hỏi, nhiều giải đáp
Trong Công Đồng Vatican II
Trong sắc chỉ triệu tập Công đồng Vatican II tựa là “Sự cứu rỗi con người” (Humanae Salutis), Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan XXIII buồn rầu nói tới thế giới đang gặp khủng hoảng “một thế giới đang tự hiển dương mình vì các chiến thắng trong phạm vi khoa học và kỹ thuật nhưng cũng đang mang lại các hậu quả của một trật tự chóng qua mà một số người muốn dùng để tái tổ chức bất cần Thiên Chúa. Đó chính là lý do tại sao thế giới hiện đại tuy được đánh dấu bằng tiến bộ vĩ đại về vật chất nhưng song song với tiến bộ này lại không có được sự tiến bộ tương xứng nào trong lãnh vực luân lý”…
Trong diễn văn khai mạc Công Đồng ngày 11 tháng Mười năm 1962, Ngài còn nói: “vấn đề lớn đang thách thức thế giới luôn luôn vẫn như nhau: đi với Thiên Chúa hay chống lại Thiên Chúa. Sẽ dễ dàng nhận ra tình huống này nếu ta chịu khó quan sát thế giới ngày nay một cách cẩn thận, thế giới ấy chỉ biết quan tâm tới chính trị và tranh chấp kinh tế đến độ không còn thì giờ nào để lắng nghe bất cứ thúc đẩy thiêng liêng nào”
Khi mở lại Công Đồng, Đức Phaolô VI cũng bắt đầu với cùng một quan tâm như vị tiền nhiệm. Ngài cho hay cần phải làm sống dậy trong con người một cảm thức về tôn giáo và về việc thờ phượng Thiên Chúa và Ngài kêu gọi các Kitô hữu hãy biết đánh giá điều tốt và điều đúng nơi các tôn giáo khác. Ngài thúc giục họ nhận trách nhiệm đối với toàn thể nhân loại vì, như thông điệp “Pacem in Terris” từng nói, “thế giới ngày nay còn xa chân lý, công bình, tự do và yêu thương, nghĩa là xa hoà bình xiết bao” (Paul VI, diễn văn khai mạc Khóa 4 CĐ Vatican II)
Từ những điều vừa nói, ta thấy Giáo Hội quan tâm tới nhân loại và số mệnh của họ. Các công bố của Giáo Hội đều nhằm vào việc cứu rỗi cả con người lẫn xã hội. Giáo Hội đồng hóa nỗi khó khăn chính của con người với việc đi tìm ý nghĩa mang lại hình ảnh chân thực nhất cho họ.
Hiến chế Mục vụ “Vui mừng và Hy vọng” về Giáo Hội trong thế giới ngày nay quả quyết rằng: “Tuy thế, trước sự phát triển hiện nay của thế giới, càng ngày càng có nhiều người hoặc đặt vấn đề hoặc nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như: con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, của sự ác, của sự chết, những vấn đề cứ tiếp tục hiện hữu bất chấp rất nhiều tiến bộ?” (Vui Mừng và Hy Vọng, số 10).
Trong lịch sử nhân loại, nhiều tài liệu cho thấy sự hiện hữu của các câu hỏi như trên, những câu hỏi hết sức sâu sắc, có ý nghĩa tôn giáo. Chống lại các câu hỏi ấy lúc nào cũng là cái trật tự mau qua nhằm bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Hoặc nếu không bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì con người vẫn thường đòi quyền được tự phán quyết về các hành động của mình và do đó tiếm đoạt địa vị của Thiên Chúa.
“Vui Mừng và Hy Vọng” (VMHV) tiếp tục cho hay: “Trong khi một số người minh nhiên bác bỏ Thiên Chúa, thì nhiều người khác tin rằng con người tuyệt nhiên không thể quyết đoán được điều gì về Thiên Chúa (…) Nhiều người đã vượt quá cả các giới hạn của khoa học thực nghiệm để chủ trương rằng mọi sự đều có thể giải thích được bằng một mình lý luận khoa học mà thôi, hay ngược lại, họ cùng nhất trí bác bỏ việc có những chân lý tuyệt đối” (VMHV, số 19)
Hình thức vô thần thịnh hành và có tính đe doạ hơn cả chính là hình thức vô thần không hẳn bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa mà chối bỏ khả năng thay đổi lịch sử của Người. Tính trầm trọng của ý niệm này là ở chỗ nó thường trở thành một thứ ngẫu thần, vì bản tính con người không thể không có lòng sùng kính đối với Đấng Tuyệt Đối.
Khởi đầu lại từ phẩm giá con người
Tuy nhiên, Giáo hội ý thức rằng ta không thể giải quyết các vấn đề bằng cách tránh né chúng, trái lại phải đối diện với chúng và các thách đố của chúng. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng quả quyết rằng: “bên dưới mọi thay đổi, ta thấy nhiều thực tại không đổi thay và các thực tại ấy có nền tảng tối hậu trong Chúa Kitô, Đấng vẫn là một vào ngày hôm qua, vào ngày hôm nay và mãi mãi về sau”. Dưới ánh sáng ý thức này, Giáo Hội “mong muốn nói với mọi người hầu có thể dõi sáng cho mầu nhiệm con người và có thể hợp tác với họ tìm giải pháp cho các vấn đề hệ trọng của thời đại ta” (10).
Vì các vấn đề phải giải quyết có rất nhiều nên phạm vi hợp tác giữa các dân tôc, các nền văn hóa và tôn giáo hết sức bao la. Phương pháp được Giáo Hội đề nghị là phải trân trọng mọi cố gắng của tín hữu cũng như người bất tín trong việc làm cho đời sống bớt khó khăn: “Theo ý kiến gần như nhất trí của người tin lẫn người không tin, thì ta phải liên hệ mọi việc trong thế gian với con người, lấy con người làm trung tâm và đỉnh cao” (12). Nhưng hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng ý thức rằng câu trên rất có thể hàm hồ. Nếu không biết mình đang nói về con người nào, ta sẽ khó tránh được việc rơi vào cái bẫy ý thức hệ mà nếu phân tích cho tới cùng sẽ chỉ xác nhận được loại người ít nhiều có tính chức năng đối với các dự án của họ. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng giải thích: “Dù được tạo nên có xác có hồn, con người vẫn là một thực thể duy nhất. Qua cấu trúc xác thân, con người gom lại trong mình các yếu tố của thế giới vật chất; như thế, qua con người, các yếu này đạt tới đỉnh cao của chúng và cũng nhờ con người chúng cất được tiếng hát ngợi ca Đấng Hóa Công” (14)
Tâm điểm cuộc thảo luận về tôn giáo phải là khía cạnh tạo nên nhân vị mà đặc điểm căn bản chính là lý trí. Lý trí cởi mở, với khả năng nắm bắt những điều bao quanh, không thể là sản phẩm của tính sáng tạo nơi ta; mà là phản ảnh của một Hữu Thể sáng tạo, Đấng lên khuôn và đổi mới. Loại bỏ hay biên tế hóa chiều kích siêu việt nơi con người là hạ thấp nhân vị con người xuống hàng cơ chế tự động của thiên nhiên.
Tự do tôn giáo
Cổ vũ một bầu khí văn hóa biết đặt nặng tầm quan trọng của chiều kích linh thiêng nơi con người là đặt để được các tiền đề cho cuộc đối thoại chân chính giữa các tín hữu của nhiều tôn giáo khác nhau. Tự do tôn giáo chắc chắn có liên hệ đến khía cạnh này. Cộng đồng tôn giáo nào không sẵn sàng hay không có khả năng tự lượng giá mình theo cái nhân quyền đệ nhất hạng ấy chẳng chóng thì chầy cũng sẽ tự biến mất. Điều thường được gọi là “nguyên tắc Gamaliel” (Cv 5:34-39), từng được Thượng Hội Đồng Do Thái Giáo áp dụng cho Giáo Hội sơ khai, vẫn còn giá trị sau nhiều ngàn năm.
Ngoài việc là một trắc nghiệm để đánh giá cảm nghiệm đức tin ra, nguyên tắc tự do tôn giáo còn được dùng để chứng thực khả năng của một quốc gia trong việc tổ chức hệ thống tài phán của họ nữa, tức mức độ hệ thống này sẵn sàng xem sét việc để cho công dân của mình cảm nghiệm tôn giáo, chịu nhìn nhận các cộng đồng tôn giáo khác nhau đang hiện diện trên xứ sở của mình, biết cổ vũ quyền tự do phát biểu.
Theo tuyên bố “Dignitatis Humanae” của Công Đồng Vatican II, tự do tôn giáo đặt nền tảng trên phẩm giá nhân vị và do đó, phải được quyền tài phán nhìn nhận và bảo đảm “Vì thế, mỗi người đều có bổn phận, và do đó, có quyền tìm kiếm chân lý trong lãnh vực tôn giáo, để họ dùng những phương tiện thích đáng mà phán đoán đúng đắn và chân thật theo lương tâm một cách khôn ngoan (Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo “Dignitatis Humanae” số 3). Mỗi người chúng ta đều được đặt để trong một môi trường cộng đoàn. Chính bản nhiên sự vật đã cho thấy điều ấy: ta sinh ra trong một cộng đồng, được giáo dục trong một cộng đồng, ta sống phần lớn cuộc đời ta với người khác. “Tự do hay sự miễn chước khỏi cưỡng bức trong các vấn đề tôn giáo, tự nó vốn là một quyền lợi của con người trong tư cách cá nhân, cũng phải được nhìn nhận là quyền lợi của họ khi họ hành động trong cộng đồng”. Và câu này nữa: “Các cộng đồng tôn giáo cũng có quyền không bị cản trở trong việc giảng dậy công khai và làm chứng cho đức tin của mình, bất kể dưới hình thức nói hay chữ viết” (“Dignitatis Humanae” số 4).
Phương pháp được kinh nghiệm tôn giáo sử dụng nói lên tính chân chính của nó: biết mở cửa thế giới cho Thiên Chúa và đem thế giới tới cho Thiên Chúa; biết tôn trọng tự do trong đề nghị và chấp nhận. Công đồng Vatican II chủ trương rằng “đáp ứng của con người đối với Thiên Chúa bằng đức tin phải là một đáp ứng tự do: do đó, không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin Kitô giáo ngược với ý chí của họ” (tài liệu đã dẫn, số 10).
Dù nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vấn đề đi với Người hay chống lại Người, Chúa Giêsu Kitô vẫn đã thi hành sứ mệnh công bố và đề nghị con đường cứu rỗi của mình mà không đưa ra bất cứ hình thức cưỡng chế nào. Tuy nhiên, tuyên bố của Công Đồng khẳng định rằng Giáo Hội “từng bảo tồn và truyền lại học lý mình đã tiếp nhận được từ Thầy Chí Thánh và các tông đồ. Trong cuộc sống của Dân Chúa, nghĩa là lúc Giáo Hội còn đang trên đường lữ hành vượt qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhân loại, có những lúc, xem ra phương thức hành động (của Giáo Hội) không phù hợp bao nhiêu với tinh thần Phúc Âm, nhiều khi còn chống đối lại cả tinh thần ấy nữa. Tuy nhiên, học lý của Giáo Hội cho rằng không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin thì luôn luôn đứng vững” (tài liệu đã dẫn, số 12).
Tuyên bố “Dignitatitis Humanae” coi tự do tôn giáo là chìa khóa giải quyết vấn đề phát triển văn minh. Thay vì dùng nó như một chiêu bài để gia tăng bá quyền của mình, Giáo Hội chỉ dựa vào nguyên tắc trên để đòi hỏi tự do cho mọi nhóm người, kể cả những nhóm thiểu số nhỏ nhoi nhất. Bất cứ xã hội nào, bất cứ quốc gia nào, bất cứ nhà nước nào cũng phải tôn trọng các dị biệt và các nhóm thiểu số đến độ phải xem sét tới quyền căn để này. Không lạ gì, các chế độ toàn trị, dù trong quá khứ hay trong hiện tại, đều cố gắng làm cho ý thức hệ của nó bén rễ sâu nơi công chúng, cố gắng bóp nghẹt nơi con người sự cần thiết của tôn giáo, tìm cách ngăn cản không cho họ công khai tuyên xưng đức tin của họ.
Sự liên lập giữa các dân tộc
Một tài liệu đáng lưu ý khác của Công Đồng giúp ta nắm được cách tiếp cận của Giáo Hội đối với các tôn giáo không phải là Kitô giáo chính là Tuyên Bố “Nostra Aetate” về “Các mối liên hệ của Giáo Hội với các tôn giáo không phải là Kitô giáo”. Tài liệu ấy cho thấy khuôn mặt của một Giáo Hội hằng chăm chú theo dõi phong trào thống nhất và liên lập của loài người ngày nay. Giống như các tài liệu khác của Công Đồng, tài liệu này có tính tiên tri liên quan tới điều ngày nay đã trở thành phổ quát.
Đặc điểm tiên tri của “Nostra Aetate” được chứng tỏ qua việc nhấn mạnh tới hai khát vọng căn bản của con người thuộc mọi thời đại: tìm kiếm Thiên Chúa để bước vào giao hảo với Người; tìm trả lời cho các vấn nạn căn bản của đời người. Mục đích của tôn giáo là gì nếu không phải là để trả lời cho các vấn nạn sâu sắc nhất của trái tim con người? Chúng ta đọc thấy “những bí ẩn trong thân phận con người ngày nay, những bí ẩn khiến trái tim con người hết sức âu lo giống như trong quá khứ”; nhờ tài liệu trên, ta hiểu rõ các bí ẩn này: “Con người là gì? Đời ta có ý nghĩa và mục đích nào? Sự thiện luân lý là gì? Tội là gì? Đau khổ do đâu mà có và nó có mục đích gì? Đâu là đường dẫn tới hạnh phúc đích thực? Chết là gì, phán xét và thưởng phạt ra sao sau khi chết? Cuối cùng, mầu nhiệm tối hậu không diễn tả nổi có tính trùm phủ trọn hiện sinh ta là: ta từ đâu tới và đang đi về đâu?” (Nostra Aetate, số 1).
Có thể dùng các điểm vừa liệt kê ở trên làm tiêu chuẩn để so sánh các tôn giáo với nhau. Ta có thể “tra vấn” các tôn giáo khác nhau căn cứ vào từng điểm một ở trên để đánh giá sự hữu lý trong các giải đáp của từng tôn giáo này. Một cách rõ ràng, việc so sánh này cần phải xem sét tới bối cảnh lịch sử, địa dư và văn hóa trong đó các tín ngưỡng liên hệ đã phát sinh và phát triển. Vì mặc dù kinh nghiệm tôn giáo quả đúng là có thể được “xuất khẩu” đi bất cứ nơi nào và có thể tiếp xúc với nhiều nền văn hóa hết sức khác biệt với nền văn hóa gốc của nó, nhưng không ai chối cãi được sự kiện này: có những khía cạnh tôn giáo hay triết lý về cuộc đời chỉ có thể áp dụng được trong bối cảnh văn hóa nơi chúng phát sinh mà thôi.
Về phương diện này, ta không thể quên rằng Kitô giáo, nhất là trong thời kỳ phôi thai của nó, trước nhất đã phải đương đầu với loại khó khăn trên trong tương quan đối với Do Thái Giáo và các nghi lễ của tôn giáo này.
Theo tuyên bố trên của Công Đồng, cũng như mọi khía cạnh khác của đời người, tâm thức tôn giáo, yếu tố chung đối với mọi dân tộc, hiển nhiên cần được giáo dục, nuôi dưỡng, phát triển và liên tục mở rộng. Đó là thái độ sẽ giúp Giáo Hội cởi mở đối với mọi điều chân thực trong các tôn giáo khác.
“Nostra Aetate” dành hai đoạn cho các tôn giáo độc thần là Do Thái Giáo và Hồi Giáo.
(a) Với người Do Thái giáo
Đặc biệt trong tài liệu này là đoạn 4, là đoạn nhấn mạnh tới mối dây liên kết đặc biệt giữa Kitô hữu và người theo Do Thái Giáo, vốn liên kết với nhau qua một truyền thống tâm linh chung lâu đời “Giáo Hội Chúa Kitô nhìn nhận rằng, theo kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, nguyên khởi đức tin của mình cũng như việc mình được tuyển chọn đã được tìm thấy nơi các Tổ Phụ, nơi Môsen và nơi các tiên tri. Giáo Hội tuyên xưng rằng mọi người tin vào Chúa Kitô, tức con cái Abraham trong đức tin, đều được bao gồm trong cùng một ơn gọi của Abraham…” (Tài liệu đã dẫn, số 4). Chúa Giêsu, Mẹ của Người, các tông đồ, nhiều môn đệ đầu tiên từng công bố Phúc Âm của Chúa Kitô tất cả đều là người Do Thái.
Tài liệu trên còn viết: “Vì cha ông họ, Thiên Chúa luôn thương mến người Do Thái; Người không ân hận các hồng ân Người đã thực hiện hay những ơn gọi Người đã ngỏ (cùng dân Do Thái), đó là lời chứng của Thánh Phaolô. Cùng với các tiên tri và Thánh Phaolô, Giáo Hội chờ đón cái ngày, chỉ có Chúa mới biết, lúc mọi dân tộc đều cùng một cung giọng ca ngợi Thiên Chúa và “vai chen vai phụng sự Người”. Trên căn bản “gia tài thiêng liêng vĩ đại chung”, Giáo Hội thúc giục mọi Kitô hữu và người Do Thái cổ vũ sự hiểu biết hỗ tương qua việc học hỏi thánh kinh và thần học, tuy không quên các tương phản từng xẩy ra giữa người Do Thái và môn đệ Chúa Giêsu thành Nadarét từ ngày có Kitô giáo.
b) Với người Hồi Giáo
Đoạn dành cho người Hồi Giáo bắt đầu với lời đánh giá cao coi các tín hữu của Mohammed như những người tôn thờ một Thiên Chúa chân thật, hằng sống, vô cùng nhân hậu và quyền năng, Đấng tạo dựng trời và đất. Kinh Kôrăng từng viết rằng “Thiên Chúa duy nhất hằng sống, vô cùng nhân hậu và quyền năng, Đấng tạo dựng trời và đất, từng nói truyện với nhân loại…vốn giữ chìa khóa mọi mầu nhiệm mà chỉ có Người mới hiểu biết trọn vẹn”
Có những khía cạnh, dù được hiểu khác nhau vẫn có thể dùng để thảo luận được. Bản tuyên bố nhấn mạnh tới lòng trân qúy của người Hồi Giáo đối với Chúa Giêsu; tuy nhiên, vì muốn nhấn mạnh tới sự siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa, Kinh Kôrăng đã đặt vào miệng Chúa Giêsu câu như sau: “Chúa biết mọi điều ở trong con, nhưng con không biết điều gì ở trong Chúa. Chúa biết một cách hoàn toàn mọi điều bí ẩn vô hình”; Kinh Kôrăng và Đạo Hồi dành cho Chúa Giêsu một vị thế hết sức cao trọng trong hàng ngũ tiên tri, Người là đầy tớ mẫu mực, minh nhiên từ khước mọi phẩm tính mà người Kitô giáo vốn dành cho Người: Người không phải là Thiên Chúa, cũng chẳng phải là Chúa Tể, Con Thiên Chúa, hay Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi, cũng chẳng phải người Do Thái đã đóng đinh và giết Người. Kinh Kôrăng coi đức Maria như một phụ nữ được chúc phúc đặc biệt, một trinh nữ ưu tuyệt, một phụ nữ có đức tin và lòng sùng kính vĩ đại, tiếp nhận lời thông báo sinh con, sinh ra mà không cần có sự can thiệp của con người; thêm vào đó, kinh Kôrăng cũng tuyên xưng niềm tin vào Tổ Phụ Abraham, vị tổ phụ mà cả ba tín ngưỡng đều nhìn nhận. Người Hồi Giáo cũng tin rằng có một số người được Thiên Chúa, vì lòng yêu thương nhân từ, sai xuống với loài người trong một lịch sử được nhắc đi nhắc lại nhiều lần; họ phân biệt hai thứ tiên tri: tiên tri lớn và tiên tri nhỏ. Trong số các tiên tri lớn, ta thấy có Abraham, “bạn hữu của Thiên Chúa”, vị sáng lập ra tôn giáo trong tinh thần và chân lý, và Môsen, “người trò truyện với Thiên Chúa”, nhà làm luật cho con cái Israel.
Tuy nhiên, dù biết có nhiều bất đồng và thù nghịch từng xẩy ra trong nhiều thế kỷ qua giữa Kitô hữu và người Hồn Giáo, Công Đồng vẫn “khuyến khích hai bên quên đi quá khứ và thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau cách thành thực” để cổ vũ “công bằng xã hội, các giá trị luân lý, hòa bình và tự do” (Tài liệu đã dẫn, số 3).
Bản chất tiên tri của các dòng trên ai cũng thấy. Một lãnh vực mà người Kitô giáo lẫn người Hồi Giáo có thể hợp tác với nhau chắc chắn là lãnh vực cổ vũ phát triển, chiến thắng các bất công đang hiện diện nơi các xứ Hồi Giáo và mọi đất nước khác. Cho nên, nếu có một số khía cạnh nào đó dị biệt hóa phương cách người Kitô giáo và người Hồi Giáo hiểu về Thiên Chúa, thì bất cứ hoạt động nào nhằm bảo vệ phẩm giá con người đều có giá trị: dù vẫn có những khác biệt về điểm này, nhưng nó là một giải pháp thích đáng nhất để giải quyết các khó khăn có tính thời đại thực sự đang thách thức toàn thể nhân loại ngày nay.
Trong huấn quyền của Đức Gioan Phaolô II
Đức Giaon Phaolô II tiếp nhận khá nhiều khuyến cáo của Công Đồng và can đảm đem chúng ra thi hành. Trong các cố gắng đáng chú ý của Ngài, ta phải kể đến cuộc gặp gỡ với cộng đồng Hồi Giáo tại Casablanca ở Morocco, cuộc viếng thăm Đại Hội Đường tại Rôma để gặp gỡ cộng đồng Do Thái của thủ đô, ngày Cầu Nguyện lần thứ nhất và lần thứ hai cho Hòa Bình tại Assisi với đại diện các tôn giáo chính trên thế giới.
Ngày 19 tháng Tám 1985, gặp gỡ cộng đồng Hồi Giáo tại Casablanca.
Đây quả là một gặp gỡ có ý nghĩa thiêng liêng rất cao như chính Đức Giáo Hoàng đã quả quyết: “Hôm nay tôi tới với qúy bạn với tư cách một tín hữu. Một cách đơn giản, tại đây, tôi chỉ muốn làm chứng cho điều mình tin, làm chứng cho điều mình mong muốn đối với phúc lợi của người ta, những người vốn là anh chị em tôi, làm chứng cho điều tôi coi là hữu ích cho mọi người theo kinh nghiệm của mình. Đó là tin vào Thiên Chúa” (Gặp gỡ các bạn trẻ Hồi Giáo tại Casablanca, 19/8/1985).
Ngài cũng đã nói với họ: “Tuy nhiên, tín hữu hẳn không quên: trong quá khứ, từng đã có nhiều hiểu lầm, khó khăn, và đôi khi gây hấn, nhưng ta không nên thực hiện những điều ấy nhân danh Thiên Chúa, Đấng chúng ta cùng tin. Đức vâng lời đối với Thiên Chúa và tình yêu thương đối với đồng loại phải dẫn ta tới việc tôn trọng quyền lợi người khác. Những quyền lợi này vốn là biểu thức của Thiên Ý và là đòi hỏi của bản nhiên con người, một bản nhiên vốn do Thiên Chúa tạo thành (…). Cho nên, tôn trọng và đối thoại đòi có sự hỗ tương qua lại trong mọi phạm vi, nhất là trong các quyền tự do căn bản nhất, và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo” (tài liệu vừa dẫn).
Ngày 13 tháng Tư 1986, thăm viếng Đại Hội Đường Rôma và gặp gỡ Elio Toaff, Đại Giáo Trưởng của cộng đồng Do Thái địa phương.
Đức Giáo Hoàng thực hiện nghĩa cử này để tiếp nối các tiến triển của các vị tiền nhiệm. Ngài tuyên bố: “Một số qúy vị từng đến thăm Vatican nhiều lần, trong các dịp tôi gặp gỡ các đại diện Do Thái Giáo của Ý và của các nước khác trên thế giới, và ngay cả trước đó nữa, vào thời các vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, Đức Gioan XXIII và Đức Piô XII (Gặp gỡ cộng đồng Do Thái Rôma ngày 13 tháng Tư 1986). Ngài nói thêm: “Sau triều đại giáo hoàng của Đức Gioan XXIII và Công Đồng Vatican II, cuộc gặp gỡ này đã kết thúc một thời kỳ lâu dài mà ta cần phải suy nghĩ để rút tỉa được những bài học thích hợp” (cùng tài liệu)
Ngày 27 tháng Mười 1986, tại Assisi, gặp gỡ các nhà lãnh đạo các tôn giáo chính trên thế giới
Lý do khiến Đức Gioan Phaolô II mời các nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn của thế giới tới Assisi vào tháng Mười năm 1986 là để mỗi vị, trong cương vị của mình, cầu nguyện cho hòa bình. Vào dịp này, Đức Giáo Hoàng nói rằng mặc dù có “nhiều khác biệt rõ rệt”, ta cần phải tìm ra “một căn bản chung để cùng nhau kiếm tìm giải pháp cho thách thức hết sức nghiêm trọng của thời đại ta: hòa bình chân thực hay chiến tranh đại họa?” ( Gặp gỡ Liên Tôn tại Assisi, 27101986). Vào dịp này, các tham dự viên không được yêu cầu từ bỏ các truyền thống riêng biệt của mình hay phương thức cầu nguyện của họ. Nhưng tất cả cùng mở lòng ra với Thiên Chúa theo phương thức riêng của mình, ngỏ cùng Người những hoài mong thâm hậu nhất của mình.
Ngày 24 tháng Giêng 2002, tại Assisi, lần gặp gỡ liên tôn lần thứ hai.
Ngày 18 tháng Mười Một năm 2001, Đức Gioan Phaolô II công bố ý định cho mời thành viên các tôn giáo hoàn cầu trở lại Assisi một lần nữa để cầu xin cho các mâu thuẫn được vượt qua và cho nền hòa bình chân thực được cổ vũ nơi mọi dân tộc. Ngài lấy ngày 24 tháng Giêng năm 2004 làm ngày gặp gỡ. Nhân dịp công bố này, Ngài cho hay: đây là cuộc gặp gỡ nhằm loại bỏ bất cứ việc sử dụng căn bản tôn giáo nào để biện minh cho bạo lực, chiến tranh hay khủng bố. Ta cần nhớ rằng Ngày Cầu Nguyện Cho Hòa Bình lần thứ hai này xẩy ra sau biến cố bi thảm 11 tháng Chín năm 2001, trong đó toà Tháp Đôi của New York bị tấn công và sau đó là cuộc chiến tranh tại Afghanistan.
Sau đây xin trích đoạn chủ yếu trong diễn văn của Đức Giáo Hoàng: “Một lần nữa cùng gặp mặt tại đây, chúng ta tuyên bố rằng bất cứ ai sử dụng tôn giáo để gieo rắc bạo lực là đi ngược lại khát vọng sâu sắc và chân thực nhất của tôn giáo. Cho nên, điều chủ yếu là con người và các cộng đồng tôn giáo phải từ bỏ bạo lực một cách minh nhiên và căn để nhất, bất cứ hình thức bạo lực nào, bắt đầu là thứ bạo lực đội lốt tôn giáo, dám nại tới danh thánh Thiên Chúa mà xúc phạm tới con người. Điều chắc chắn hết sức là khi chống lại con người, người ta cũng chống lại Thiên Chúa. Không có mục tiêu tôn giáo nào lại có thể biện minh cho việc con người dùng bạo lực chống lại con người” (Ngày 24 tháng Giêng 2002, tại Assisi, cuộc gặp gỡ Liên Tôn lần thứ hai)
Việc tổ chức những ngày cầu nguyện này, vì loại bỏ được cố gắng có tính ý thức hệ muốn truyền bá niềm tin Kitô giáo, nên đã chứng tỏ được tính lịch sử của nó, tính lịch sử trong đó những nhà lãnh đạo có thẩm quyền của các tôn giáo đã nhất trí làm chứng rằng: chân tình cởi mở với Thiên Chúa sẽ giúp người ta cởi mở với tha nhân. Mọi tôn giáo đều có chung một phương pháp đó là cầu nguyện. Về điểm vừa nói, Đức Gioan Phaolô cho rằng “cầu nguyện không trốn chạy khỏi lịch sử và các vấn đề do lịch ấy đem lại. Trái lại, cầu nguyện là chọn đối diện với thực tại không nhờ sức mạnh riêng mình mà nhờ sức mạnh từ trên cao, sức mạnh của chân lý và yêu thương mà nguồn gốc tối hậu là chính Thiên Chúa. Đối diện với sự ác đầy lừa lọc, con người tôn giáo có thể trông cậy vào Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối chỉ muốn điều thiện. Họ có thể cầu nguyện với Người để được can đảm đương đầu với những khó khăn lớn lao nhất với một ý thức trách nhiệm bản thân, không bao giờ khoan dung bất cứ hình thức định mịnh thuyết hay phản ứng thiếu suy nghĩ nào” (24 tháng Giêng 2002, tại Assisi, cuộc gặp gỡ liên tôn lần thứ hai).
Những ngày tại Assisi có hiệu quả gì chăng? Đây là một trong các câu hỏi không phải chỉ có chúng ta mới đặt ra, mà chính các tham dự viên có lẽ cũng đã từng đặt ra. Câu hỏi ấy khó mà trả lời cho chníh xác được. Tuy nhiên, hình ảnh hột giống khiến ta chỉ biết khiêm cung thưa lại rằng nhiệm vụ ta là gieo vãi, hột giống lớn lên và mang hoa trái lúc nào và ra sao còn tùy thuộc Chúa quyết định.
Vấn đề liên tôn chắc chắn là một vấn đề then chốt trong các xã hội ngày nay. Các biên giới truyền thống vốn hạn chế các phạm vi phát triển văn hóa khác nhau đã và đang dần biến đi. Ngày nay, người thuộc các nền văn hóa, truyền thống và tôn giáo khác nhau buộc phải sống bên cạnh nhau. Hiện tượng này tiếp tục lớn mạnh do việc người ta đi tìm các điều kiện sống tốt đẹp hơn và việc cần phải chia sẻ tín liệu mới phát triển được các dân tộc nói chung.
Trong bối cảnh biến hóa không ngừng ấy, nhiều vấn đề đáng lưu ý đã được đặt ra cả trong lãnh vực kinh tế, xã hội lẫn chính trị, nhất là tôn giáo. Về lãnh vực cuối cùng vừa kể, não trạng hiện nay coi chiều kích tôn giáo nơi con người như một điều gì cần phải giới hạn vào phạm vi cá nhân, tư riêng, không dính dáng gì tới chiều kích công cộng. Nhưng thực ra, nói tới các vấn đề tôn giáo chủ yếu là nói tới phương cách con người liên hệ với Hữu Thể cao hơn mình ngõ hầu nhận ra cách thế đặc thù mà nhìn thực tại cho đúng đắn: tôn giáo là ý niệm của ta về cuộc đời, về các mối tương quan liên bản ngã, về lòng kính trọng sáng thế, về việc sử dụng các tài nguyên thiên nhiên, về lao động của con người v.v…Theo quan điểm này, bất cứ cố gắng nào nhằm thu gọn kinh nghiệm tôn giáo vào phạm vi hoàn toàn cá nhân, riêng tư mà thôi là đã không xét tới các dữ kiện có tính cơ cấu vốn lên đặc điểm cho hữu thể nhân bản.
Điều tệ hơn nữa là những người đang cố gắng trung lập hóa khía cạnh xã hội của tôn giáo kia sớm muộn gì rồi cũng sẽ phá hủy luôn khía cạnh tư riêng của nó. Trong quá khứ đã có quá nhiều thí dụ điển hình. Thực vậy, các nền văn hóa nói chung, kể cả những nền văn hóa bán khai, lúc nào cũng lấy tính tôn giáo tự nhiên nơi con người làm cách thế đánh dấu các giai đoạn đời họ trong xã hội. Chỉ cần đơn cử các nghi lễ khai tâm trong nhiều nền văn hóa thời xưa là thấy. Các nghi lễ ấy được dùng như hành trang (viaticum) để lên đường làm một thành viên trọn vẹn của xã hội; hay các nghi lễ chuộc tội (expiation) với sự tham dự của cả thẩm quyền đạo lẫn thẩm quyền đời. Tuy nhiên, chính trong nền văn hóa Tây Phương một phần lớn, mà hai lãnh vực kia đã bị phân cách và sự phân cách này đạt tới cao điểm với phong trào Ánh Sáng (Enlightenment), tiền thân Cách mạng Pháp. Dựa vào các tiến bộ lớn lao của khoa học và kỹ thuật, con người nhấn mạnh tới giá trị của lý trí. Điều ấy đúng thôi. Nhưng họ đi quá đà bằng cách loại bỏ Thiên Chúa, và tự biến mình thành quan án duy nhất và tối hậu cho chính mình. Trong thế giới tự nhận là phát triển, vấn đề tôn giáo nói chung và cuộc đối thoại liên tôn nói riêng, phần lớn đang bị quan điểm trên làm cho ô nhiễm.
Tuy thế, Giáo Hội Công Giáo, một tôn giáo với chủ trương duy thực (realism) lành mạnh từng đánh dấu bước đi của mình trong lịch sử, không bỏ chạy trước thách đố do trạng huống trên đem lại. Khi cố gắng đề nghị ra các phương tiện và phương cách để cổ vũ đối thoại và hòa hợp giữa mọi người, giữa người tin lẫn người không tin, giữa Kitô hữu lẫn người không phải là Kitô hữu, Giáo Hội Công Giáo quả đang đi tiên phong trong việc cổ vũ thảo luận. Thực vậy, nhờ Giáo Hội Công Giáo, ngày nay ta mới có các cuộc đối thoại, thảo luận và hợp tác giữa những người có tôn giáo khác nhau. Các văn kiện của Công Đồng Vatican II như “Nostra Aetate” (Thời Đại Ta), “Gaudium et Spe” (Vui Mừng và Hy Vọng), “Dignitatis Humanae” (Nhân Phẩm) là những đóng góp lớn cho những cuộc đối thoại, thảo luận và hợp tác nói trên. Ngoài ra, còn rất nhiều các buổi gặp gỡ giữa các vị Giáo Hoàng gần đây với các nhà lãnh đạo một số tôn giáo lớn có tính hoàn cầu nhưng không phải là Kitô Giáo.
Tuy nhiên, các cố gắng cổ vũ đối thoại của Giáo Hội đã phát sinh ra nhiều hiểu lầm nơi dân Chúa, nhất là trong 40 năm qua, liên quan tới việc thích đáng có nên phúc âm hóa hay không, như thể ta đang bước vào một thời kỳ trong đó lệnh truyền của Chúa Kitô đòi ta phải ra đi và rửa tội cho muôn dân nhân danh Thiên Chúa Ba Ngôi đã không còn giá trị nữa, không những thế, có khi còn phá hoại việc chung sống hòa bình giữa tín hữu của các tôn giáo khác nhau nữa. Sự mâu thuẫn biểu kiến giữa bản sắc và đối thoại khiến người ta nghiêng về khía cạnh thứ hai vừa kể ở trên. Đã đành các tổ chức không phải là Công Giáo kia đang thực hiện được nhiều công trình đáng ca ngợi trong việc giúp đỡ người nghèo và làm trung gian hòa giải cho nhiều cuộc tranh chấp trên thế giới, nhưng ta đừng quên tính đặc thù trong đức tin Kitô giáo so với các tôn giáo hoàn cầu khác.
Việc cổ vũ một số sáng kiến, dù có nhiều khía cạnh tích cực đi song song với nó, song nhiều khi cũng gây mù mờ về các dị biệt giữa các tôn giáo với nhau. Đồng văn hóa (contextualisation) một cách thiếu chính xác các biến cố hay sáng kiến này từng phát sinh ra nhiều hiểu lầm lạ lẫm nơi dân Chúa. Không những một số trí thức Công Giáo mà cả một số giáo sĩ nữa đang bắt đầu hoài nghi chính bản chất độc hữu của ơn cứu rỗi do Chúa Giêsu đem lại. Họ coi bất cứ ai còn trì chí loan báo ơn cứu rỗi và việc trở lại là lỗi thời, thiển cận. Rất may, một trong những thánh bộ chủ yếu của Giáo Hội Công Giáo là Thánh Bộ Giáo Lý Đức Tin đã thấy ra nhu cầu cần phải làm sáng tỏ tính duy nhất trong ơn cứu rỗi của Chúa Kitô, đến độ phải làm một hành động long trọng là cho công bố tài liệu “Chúa Giêsu” (Dominus Iesus, tháng Tám năm 2000), và ít năm sau một tài liệu khác tựa là Doctrinal Note on some aspects of evangelisation (Ghi chú Tín lý về một số khía cạnh của việc phúc âm hóa, Rome, 2007)
Giờ đây, ta phải tự hỏi chính mình: nếu cuộc đối thoại và thảo luận liên tôn dưới hình thức như hiện nay không đem lại kết quả, thì đâu là phương thức thay thế? Có nên cứng ngắc bám vào quan điểm của mình dù kết quả chỉ là tranh chấp? Các bản sắc khác nhau phải chăng không bao giờ gặp nhau? Ta hãy cùng nhau cố gắng trả lời những câu hỏi ấy bằng lời Đức Gioan Phaolô II từng nói trong một buổi đọc Kinh Truyền Tin rằng: “Đức tin của ta rằng Chúa Kitô là Người Con duy nhất nhờ Người ta thấy các sự kiện về Chúa Cha (xem Ga 14:8) không phải là một thái độ ngạo mạn coi thường mọi tôn giáo khác, nhưng chỉ là lòng hân hoan biết ơn Chúa Kitô đã tỏ mình ra với ta dù ta chẳng đáng công chút nào”.
Lời trên đặt ta vào quan điểm đúng đắn: đức tin Kitô giáo là một hồng phúc ta không đáng được mà cũng không có công trạng chi để mà đòi hỏi; nó là của châu báu mà ta không được phép giữ làm của riêng nhưng có nhiệm vụ phải chia sẻ với người khác.
Tôn giáo: một câu hỏi, nhiều giải đáp
Trong Công Đồng Vatican II
Trong sắc chỉ triệu tập Công đồng Vatican II tựa là “Sự cứu rỗi con người” (Humanae Salutis), Chân Phúc Giáo Hoàng Gioan XXIII buồn rầu nói tới thế giới đang gặp khủng hoảng “một thế giới đang tự hiển dương mình vì các chiến thắng trong phạm vi khoa học và kỹ thuật nhưng cũng đang mang lại các hậu quả của một trật tự chóng qua mà một số người muốn dùng để tái tổ chức bất cần Thiên Chúa. Đó chính là lý do tại sao thế giới hiện đại tuy được đánh dấu bằng tiến bộ vĩ đại về vật chất nhưng song song với tiến bộ này lại không có được sự tiến bộ tương xứng nào trong lãnh vực luân lý”…
Trong diễn văn khai mạc Công Đồng ngày 11 tháng Mười năm 1962, Ngài còn nói: “vấn đề lớn đang thách thức thế giới luôn luôn vẫn như nhau: đi với Thiên Chúa hay chống lại Thiên Chúa. Sẽ dễ dàng nhận ra tình huống này nếu ta chịu khó quan sát thế giới ngày nay một cách cẩn thận, thế giới ấy chỉ biết quan tâm tới chính trị và tranh chấp kinh tế đến độ không còn thì giờ nào để lắng nghe bất cứ thúc đẩy thiêng liêng nào”
Khi mở lại Công Đồng, Đức Phaolô VI cũng bắt đầu với cùng một quan tâm như vị tiền nhiệm. Ngài cho hay cần phải làm sống dậy trong con người một cảm thức về tôn giáo và về việc thờ phượng Thiên Chúa và Ngài kêu gọi các Kitô hữu hãy biết đánh giá điều tốt và điều đúng nơi các tôn giáo khác. Ngài thúc giục họ nhận trách nhiệm đối với toàn thể nhân loại vì, như thông điệp “Pacem in Terris” từng nói, “thế giới ngày nay còn xa chân lý, công bình, tự do và yêu thương, nghĩa là xa hoà bình xiết bao” (Paul VI, diễn văn khai mạc Khóa 4 CĐ Vatican II)
Từ những điều vừa nói, ta thấy Giáo Hội quan tâm tới nhân loại và số mệnh của họ. Các công bố của Giáo Hội đều nhằm vào việc cứu rỗi cả con người lẫn xã hội. Giáo Hội đồng hóa nỗi khó khăn chính của con người với việc đi tìm ý nghĩa mang lại hình ảnh chân thực nhất cho họ.
Hiến chế Mục vụ “Vui mừng và Hy vọng” về Giáo Hội trong thế giới ngày nay quả quyết rằng: “Tuy thế, trước sự phát triển hiện nay của thế giới, càng ngày càng có nhiều người hoặc đặt vấn đề hoặc nhận thức một cách sâu sắc mới mẻ về những vấn đề hết sức căn bản như: con người là gì? Đâu là ý nghĩa của đau khổ, của sự ác, của sự chết, những vấn đề cứ tiếp tục hiện hữu bất chấp rất nhiều tiến bộ?” (Vui Mừng và Hy Vọng, số 10).
Trong lịch sử nhân loại, nhiều tài liệu cho thấy sự hiện hữu của các câu hỏi như trên, những câu hỏi hết sức sâu sắc, có ý nghĩa tôn giáo. Chống lại các câu hỏi ấy lúc nào cũng là cái trật tự mau qua nhằm bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa. Hoặc nếu không bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa, thì con người vẫn thường đòi quyền được tự phán quyết về các hành động của mình và do đó tiếm đoạt địa vị của Thiên Chúa.
“Vui Mừng và Hy Vọng” (VMHV) tiếp tục cho hay: “Trong khi một số người minh nhiên bác bỏ Thiên Chúa, thì nhiều người khác tin rằng con người tuyệt nhiên không thể quyết đoán được điều gì về Thiên Chúa (…) Nhiều người đã vượt quá cả các giới hạn của khoa học thực nghiệm để chủ trương rằng mọi sự đều có thể giải thích được bằng một mình lý luận khoa học mà thôi, hay ngược lại, họ cùng nhất trí bác bỏ việc có những chân lý tuyệt đối” (VMHV, số 19)
Hình thức vô thần thịnh hành và có tính đe doạ hơn cả chính là hình thức vô thần không hẳn bác bỏ sự hiện hữu của Thiên Chúa mà chối bỏ khả năng thay đổi lịch sử của Người. Tính trầm trọng của ý niệm này là ở chỗ nó thường trở thành một thứ ngẫu thần, vì bản tính con người không thể không có lòng sùng kính đối với Đấng Tuyệt Đối.
Khởi đầu lại từ phẩm giá con người
Tuy nhiên, Giáo hội ý thức rằng ta không thể giải quyết các vấn đề bằng cách tránh né chúng, trái lại phải đối diện với chúng và các thách đố của chúng. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng quả quyết rằng: “bên dưới mọi thay đổi, ta thấy nhiều thực tại không đổi thay và các thực tại ấy có nền tảng tối hậu trong Chúa Kitô, Đấng vẫn là một vào ngày hôm qua, vào ngày hôm nay và mãi mãi về sau”. Dưới ánh sáng ý thức này, Giáo Hội “mong muốn nói với mọi người hầu có thể dõi sáng cho mầu nhiệm con người và có thể hợp tác với họ tìm giải pháp cho các vấn đề hệ trọng của thời đại ta” (10).
Vì các vấn đề phải giải quyết có rất nhiều nên phạm vi hợp tác giữa các dân tôc, các nền văn hóa và tôn giáo hết sức bao la. Phương pháp được Giáo Hội đề nghị là phải trân trọng mọi cố gắng của tín hữu cũng như người bất tín trong việc làm cho đời sống bớt khó khăn: “Theo ý kiến gần như nhất trí của người tin lẫn người không tin, thì ta phải liên hệ mọi việc trong thế gian với con người, lấy con người làm trung tâm và đỉnh cao” (12). Nhưng hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng ý thức rằng câu trên rất có thể hàm hồ. Nếu không biết mình đang nói về con người nào, ta sẽ khó tránh được việc rơi vào cái bẫy ý thức hệ mà nếu phân tích cho tới cùng sẽ chỉ xác nhận được loại người ít nhiều có tính chức năng đối với các dự án của họ. Hiến chế Vui Mừng và Hy Vọng giải thích: “Dù được tạo nên có xác có hồn, con người vẫn là một thực thể duy nhất. Qua cấu trúc xác thân, con người gom lại trong mình các yếu tố của thế giới vật chất; như thế, qua con người, các yếu này đạt tới đỉnh cao của chúng và cũng nhờ con người chúng cất được tiếng hát ngợi ca Đấng Hóa Công” (14)
Tâm điểm cuộc thảo luận về tôn giáo phải là khía cạnh tạo nên nhân vị mà đặc điểm căn bản chính là lý trí. Lý trí cởi mở, với khả năng nắm bắt những điều bao quanh, không thể là sản phẩm của tính sáng tạo nơi ta; mà là phản ảnh của một Hữu Thể sáng tạo, Đấng lên khuôn và đổi mới. Loại bỏ hay biên tế hóa chiều kích siêu việt nơi con người là hạ thấp nhân vị con người xuống hàng cơ chế tự động của thiên nhiên.
Tự do tôn giáo
Cổ vũ một bầu khí văn hóa biết đặt nặng tầm quan trọng của chiều kích linh thiêng nơi con người là đặt để được các tiền đề cho cuộc đối thoại chân chính giữa các tín hữu của nhiều tôn giáo khác nhau. Tự do tôn giáo chắc chắn có liên hệ đến khía cạnh này. Cộng đồng tôn giáo nào không sẵn sàng hay không có khả năng tự lượng giá mình theo cái nhân quyền đệ nhất hạng ấy chẳng chóng thì chầy cũng sẽ tự biến mất. Điều thường được gọi là “nguyên tắc Gamaliel” (Cv 5:34-39), từng được Thượng Hội Đồng Do Thái Giáo áp dụng cho Giáo Hội sơ khai, vẫn còn giá trị sau nhiều ngàn năm.
Ngoài việc là một trắc nghiệm để đánh giá cảm nghiệm đức tin ra, nguyên tắc tự do tôn giáo còn được dùng để chứng thực khả năng của một quốc gia trong việc tổ chức hệ thống tài phán của họ nữa, tức mức độ hệ thống này sẵn sàng xem sét việc để cho công dân của mình cảm nghiệm tôn giáo, chịu nhìn nhận các cộng đồng tôn giáo khác nhau đang hiện diện trên xứ sở của mình, biết cổ vũ quyền tự do phát biểu.
Theo tuyên bố “Dignitatis Humanae” của Công Đồng Vatican II, tự do tôn giáo đặt nền tảng trên phẩm giá nhân vị và do đó, phải được quyền tài phán nhìn nhận và bảo đảm “Vì thế, mỗi người đều có bổn phận, và do đó, có quyền tìm kiếm chân lý trong lãnh vực tôn giáo, để họ dùng những phương tiện thích đáng mà phán đoán đúng đắn và chân thật theo lương tâm một cách khôn ngoan (Tuyên ngôn về Tự Do Tôn Giáo “Dignitatis Humanae” số 3). Mỗi người chúng ta đều được đặt để trong một môi trường cộng đoàn. Chính bản nhiên sự vật đã cho thấy điều ấy: ta sinh ra trong một cộng đồng, được giáo dục trong một cộng đồng, ta sống phần lớn cuộc đời ta với người khác. “Tự do hay sự miễn chước khỏi cưỡng bức trong các vấn đề tôn giáo, tự nó vốn là một quyền lợi của con người trong tư cách cá nhân, cũng phải được nhìn nhận là quyền lợi của họ khi họ hành động trong cộng đồng”. Và câu này nữa: “Các cộng đồng tôn giáo cũng có quyền không bị cản trở trong việc giảng dậy công khai và làm chứng cho đức tin của mình, bất kể dưới hình thức nói hay chữ viết” (“Dignitatis Humanae” số 4).
Phương pháp được kinh nghiệm tôn giáo sử dụng nói lên tính chân chính của nó: biết mở cửa thế giới cho Thiên Chúa và đem thế giới tới cho Thiên Chúa; biết tôn trọng tự do trong đề nghị và chấp nhận. Công đồng Vatican II chủ trương rằng “đáp ứng của con người đối với Thiên Chúa bằng đức tin phải là một đáp ứng tự do: do đó, không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin Kitô giáo ngược với ý chí của họ” (tài liệu đã dẫn, số 10).
Dù nhấn mạnh tới tầm quan trọng của vấn đề đi với Người hay chống lại Người, Chúa Giêsu Kitô vẫn đã thi hành sứ mệnh công bố và đề nghị con đường cứu rỗi của mình mà không đưa ra bất cứ hình thức cưỡng chế nào. Tuy nhiên, tuyên bố của Công Đồng khẳng định rằng Giáo Hội “từng bảo tồn và truyền lại học lý mình đã tiếp nhận được từ Thầy Chí Thánh và các tông đồ. Trong cuộc sống của Dân Chúa, nghĩa là lúc Giáo Hội còn đang trên đường lữ hành vượt qua nhiều thăng trầm của lịch sử nhân loại, có những lúc, xem ra phương thức hành động (của Giáo Hội) không phù hợp bao nhiêu với tinh thần Phúc Âm, nhiều khi còn chống đối lại cả tinh thần ấy nữa. Tuy nhiên, học lý của Giáo Hội cho rằng không ai bị cưỡng bức phải chấp nhận đức tin thì luôn luôn đứng vững” (tài liệu đã dẫn, số 12).
Tuyên bố “Dignitatitis Humanae” coi tự do tôn giáo là chìa khóa giải quyết vấn đề phát triển văn minh. Thay vì dùng nó như một chiêu bài để gia tăng bá quyền của mình, Giáo Hội chỉ dựa vào nguyên tắc trên để đòi hỏi tự do cho mọi nhóm người, kể cả những nhóm thiểu số nhỏ nhoi nhất. Bất cứ xã hội nào, bất cứ quốc gia nào, bất cứ nhà nước nào cũng phải tôn trọng các dị biệt và các nhóm thiểu số đến độ phải xem sét tới quyền căn để này. Không lạ gì, các chế độ toàn trị, dù trong quá khứ hay trong hiện tại, đều cố gắng làm cho ý thức hệ của nó bén rễ sâu nơi công chúng, cố gắng bóp nghẹt nơi con người sự cần thiết của tôn giáo, tìm cách ngăn cản không cho họ công khai tuyên xưng đức tin của họ.
Sự liên lập giữa các dân tộc
Một tài liệu đáng lưu ý khác của Công Đồng giúp ta nắm được cách tiếp cận của Giáo Hội đối với các tôn giáo không phải là Kitô giáo chính là Tuyên Bố “Nostra Aetate” về “Các mối liên hệ của Giáo Hội với các tôn giáo không phải là Kitô giáo”. Tài liệu ấy cho thấy khuôn mặt của một Giáo Hội hằng chăm chú theo dõi phong trào thống nhất và liên lập của loài người ngày nay. Giống như các tài liệu khác của Công Đồng, tài liệu này có tính tiên tri liên quan tới điều ngày nay đã trở thành phổ quát.
Đặc điểm tiên tri của “Nostra Aetate” được chứng tỏ qua việc nhấn mạnh tới hai khát vọng căn bản của con người thuộc mọi thời đại: tìm kiếm Thiên Chúa để bước vào giao hảo với Người; tìm trả lời cho các vấn nạn căn bản của đời người. Mục đích của tôn giáo là gì nếu không phải là để trả lời cho các vấn nạn sâu sắc nhất của trái tim con người? Chúng ta đọc thấy “những bí ẩn trong thân phận con người ngày nay, những bí ẩn khiến trái tim con người hết sức âu lo giống như trong quá khứ”; nhờ tài liệu trên, ta hiểu rõ các bí ẩn này: “Con người là gì? Đời ta có ý nghĩa và mục đích nào? Sự thiện luân lý là gì? Tội là gì? Đau khổ do đâu mà có và nó có mục đích gì? Đâu là đường dẫn tới hạnh phúc đích thực? Chết là gì, phán xét và thưởng phạt ra sao sau khi chết? Cuối cùng, mầu nhiệm tối hậu không diễn tả nổi có tính trùm phủ trọn hiện sinh ta là: ta từ đâu tới và đang đi về đâu?” (Nostra Aetate, số 1).
Có thể dùng các điểm vừa liệt kê ở trên làm tiêu chuẩn để so sánh các tôn giáo với nhau. Ta có thể “tra vấn” các tôn giáo khác nhau căn cứ vào từng điểm một ở trên để đánh giá sự hữu lý trong các giải đáp của từng tôn giáo này. Một cách rõ ràng, việc so sánh này cần phải xem sét tới bối cảnh lịch sử, địa dư và văn hóa trong đó các tín ngưỡng liên hệ đã phát sinh và phát triển. Vì mặc dù kinh nghiệm tôn giáo quả đúng là có thể được “xuất khẩu” đi bất cứ nơi nào và có thể tiếp xúc với nhiều nền văn hóa hết sức khác biệt với nền văn hóa gốc của nó, nhưng không ai chối cãi được sự kiện này: có những khía cạnh tôn giáo hay triết lý về cuộc đời chỉ có thể áp dụng được trong bối cảnh văn hóa nơi chúng phát sinh mà thôi.
Về phương diện này, ta không thể quên rằng Kitô giáo, nhất là trong thời kỳ phôi thai của nó, trước nhất đã phải đương đầu với loại khó khăn trên trong tương quan đối với Do Thái Giáo và các nghi lễ của tôn giáo này.
Theo tuyên bố trên của Công Đồng, cũng như mọi khía cạnh khác của đời người, tâm thức tôn giáo, yếu tố chung đối với mọi dân tộc, hiển nhiên cần được giáo dục, nuôi dưỡng, phát triển và liên tục mở rộng. Đó là thái độ sẽ giúp Giáo Hội cởi mở đối với mọi điều chân thực trong các tôn giáo khác.
“Nostra Aetate” dành hai đoạn cho các tôn giáo độc thần là Do Thái Giáo và Hồi Giáo.
(a) Với người Do Thái giáo
Đặc biệt trong tài liệu này là đoạn 4, là đoạn nhấn mạnh tới mối dây liên kết đặc biệt giữa Kitô hữu và người theo Do Thái Giáo, vốn liên kết với nhau qua một truyền thống tâm linh chung lâu đời “Giáo Hội Chúa Kitô nhìn nhận rằng, theo kế hoạch cứu rỗi của Thiên Chúa, nguyên khởi đức tin của mình cũng như việc mình được tuyển chọn đã được tìm thấy nơi các Tổ Phụ, nơi Môsen và nơi các tiên tri. Giáo Hội tuyên xưng rằng mọi người tin vào Chúa Kitô, tức con cái Abraham trong đức tin, đều được bao gồm trong cùng một ơn gọi của Abraham…” (Tài liệu đã dẫn, số 4). Chúa Giêsu, Mẹ của Người, các tông đồ, nhiều môn đệ đầu tiên từng công bố Phúc Âm của Chúa Kitô tất cả đều là người Do Thái.
Tài liệu trên còn viết: “Vì cha ông họ, Thiên Chúa luôn thương mến người Do Thái; Người không ân hận các hồng ân Người đã thực hiện hay những ơn gọi Người đã ngỏ (cùng dân Do Thái), đó là lời chứng của Thánh Phaolô. Cùng với các tiên tri và Thánh Phaolô, Giáo Hội chờ đón cái ngày, chỉ có Chúa mới biết, lúc mọi dân tộc đều cùng một cung giọng ca ngợi Thiên Chúa và “vai chen vai phụng sự Người”. Trên căn bản “gia tài thiêng liêng vĩ đại chung”, Giáo Hội thúc giục mọi Kitô hữu và người Do Thái cổ vũ sự hiểu biết hỗ tương qua việc học hỏi thánh kinh và thần học, tuy không quên các tương phản từng xẩy ra giữa người Do Thái và môn đệ Chúa Giêsu thành Nadarét từ ngày có Kitô giáo.
b) Với người Hồi Giáo
Đoạn dành cho người Hồi Giáo bắt đầu với lời đánh giá cao coi các tín hữu của Mohammed như những người tôn thờ một Thiên Chúa chân thật, hằng sống, vô cùng nhân hậu và quyền năng, Đấng tạo dựng trời và đất. Kinh Kôrăng từng viết rằng “Thiên Chúa duy nhất hằng sống, vô cùng nhân hậu và quyền năng, Đấng tạo dựng trời và đất, từng nói truyện với nhân loại…vốn giữ chìa khóa mọi mầu nhiệm mà chỉ có Người mới hiểu biết trọn vẹn”
Có những khía cạnh, dù được hiểu khác nhau vẫn có thể dùng để thảo luận được. Bản tuyên bố nhấn mạnh tới lòng trân qúy của người Hồi Giáo đối với Chúa Giêsu; tuy nhiên, vì muốn nhấn mạnh tới sự siêu việt tuyệt đối của Thiên Chúa, Kinh Kôrăng đã đặt vào miệng Chúa Giêsu câu như sau: “Chúa biết mọi điều ở trong con, nhưng con không biết điều gì ở trong Chúa. Chúa biết một cách hoàn toàn mọi điều bí ẩn vô hình”; Kinh Kôrăng và Đạo Hồi dành cho Chúa Giêsu một vị thế hết sức cao trọng trong hàng ngũ tiên tri, Người là đầy tớ mẫu mực, minh nhiên từ khước mọi phẩm tính mà người Kitô giáo vốn dành cho Người: Người không phải là Thiên Chúa, cũng chẳng phải là Chúa Tể, Con Thiên Chúa, hay Ngôi Thứ Ba trong Ba Ngôi, cũng chẳng phải người Do Thái đã đóng đinh và giết Người. Kinh Kôrăng coi đức Maria như một phụ nữ được chúc phúc đặc biệt, một trinh nữ ưu tuyệt, một phụ nữ có đức tin và lòng sùng kính vĩ đại, tiếp nhận lời thông báo sinh con, sinh ra mà không cần có sự can thiệp của con người; thêm vào đó, kinh Kôrăng cũng tuyên xưng niềm tin vào Tổ Phụ Abraham, vị tổ phụ mà cả ba tín ngưỡng đều nhìn nhận. Người Hồi Giáo cũng tin rằng có một số người được Thiên Chúa, vì lòng yêu thương nhân từ, sai xuống với loài người trong một lịch sử được nhắc đi nhắc lại nhiều lần; họ phân biệt hai thứ tiên tri: tiên tri lớn và tiên tri nhỏ. Trong số các tiên tri lớn, ta thấy có Abraham, “bạn hữu của Thiên Chúa”, vị sáng lập ra tôn giáo trong tinh thần và chân lý, và Môsen, “người trò truyện với Thiên Chúa”, nhà làm luật cho con cái Israel.
Tuy nhiên, dù biết có nhiều bất đồng và thù nghịch từng xẩy ra trong nhiều thế kỷ qua giữa Kitô hữu và người Hồn Giáo, Công Đồng vẫn “khuyến khích hai bên quên đi quá khứ và thể hiện sự hiểu biết lẫn nhau cách thành thực” để cổ vũ “công bằng xã hội, các giá trị luân lý, hòa bình và tự do” (Tài liệu đã dẫn, số 3).
Bản chất tiên tri của các dòng trên ai cũng thấy. Một lãnh vực mà người Kitô giáo lẫn người Hồi Giáo có thể hợp tác với nhau chắc chắn là lãnh vực cổ vũ phát triển, chiến thắng các bất công đang hiện diện nơi các xứ Hồi Giáo và mọi đất nước khác. Cho nên, nếu có một số khía cạnh nào đó dị biệt hóa phương cách người Kitô giáo và người Hồi Giáo hiểu về Thiên Chúa, thì bất cứ hoạt động nào nhằm bảo vệ phẩm giá con người đều có giá trị: dù vẫn có những khác biệt về điểm này, nhưng nó là một giải pháp thích đáng nhất để giải quyết các khó khăn có tính thời đại thực sự đang thách thức toàn thể nhân loại ngày nay.
Trong huấn quyền của Đức Gioan Phaolô II
Đức Giaon Phaolô II tiếp nhận khá nhiều khuyến cáo của Công Đồng và can đảm đem chúng ra thi hành. Trong các cố gắng đáng chú ý của Ngài, ta phải kể đến cuộc gặp gỡ với cộng đồng Hồi Giáo tại Casablanca ở Morocco, cuộc viếng thăm Đại Hội Đường tại Rôma để gặp gỡ cộng đồng Do Thái của thủ đô, ngày Cầu Nguyện lần thứ nhất và lần thứ hai cho Hòa Bình tại Assisi với đại diện các tôn giáo chính trên thế giới.
Ngày 19 tháng Tám 1985, gặp gỡ cộng đồng Hồi Giáo tại Casablanca.
Đây quả là một gặp gỡ có ý nghĩa thiêng liêng rất cao như chính Đức Giáo Hoàng đã quả quyết: “Hôm nay tôi tới với qúy bạn với tư cách một tín hữu. Một cách đơn giản, tại đây, tôi chỉ muốn làm chứng cho điều mình tin, làm chứng cho điều mình mong muốn đối với phúc lợi của người ta, những người vốn là anh chị em tôi, làm chứng cho điều tôi coi là hữu ích cho mọi người theo kinh nghiệm của mình. Đó là tin vào Thiên Chúa” (Gặp gỡ các bạn trẻ Hồi Giáo tại Casablanca, 19/8/1985).
Ngài cũng đã nói với họ: “Tuy nhiên, tín hữu hẳn không quên: trong quá khứ, từng đã có nhiều hiểu lầm, khó khăn, và đôi khi gây hấn, nhưng ta không nên thực hiện những điều ấy nhân danh Thiên Chúa, Đấng chúng ta cùng tin. Đức vâng lời đối với Thiên Chúa và tình yêu thương đối với đồng loại phải dẫn ta tới việc tôn trọng quyền lợi người khác. Những quyền lợi này vốn là biểu thức của Thiên Ý và là đòi hỏi của bản nhiên con người, một bản nhiên vốn do Thiên Chúa tạo thành (…). Cho nên, tôn trọng và đối thoại đòi có sự hỗ tương qua lại trong mọi phạm vi, nhất là trong các quyền tự do căn bản nhất, và đặc biệt là quyền tự do tôn giáo” (tài liệu vừa dẫn).
Ngày 13 tháng Tư 1986, thăm viếng Đại Hội Đường Rôma và gặp gỡ Elio Toaff, Đại Giáo Trưởng của cộng đồng Do Thái địa phương.
Đức Giáo Hoàng thực hiện nghĩa cử này để tiếp nối các tiến triển của các vị tiền nhiệm. Ngài tuyên bố: “Một số qúy vị từng đến thăm Vatican nhiều lần, trong các dịp tôi gặp gỡ các đại diện Do Thái Giáo của Ý và của các nước khác trên thế giới, và ngay cả trước đó nữa, vào thời các vị tiền nhiệm của tôi là Đức Phaolô VI, Đức Gioan XXIII và Đức Piô XII (Gặp gỡ cộng đồng Do Thái Rôma ngày 13 tháng Tư 1986). Ngài nói thêm: “Sau triều đại giáo hoàng của Đức Gioan XXIII và Công Đồng Vatican II, cuộc gặp gỡ này đã kết thúc một thời kỳ lâu dài mà ta cần phải suy nghĩ để rút tỉa được những bài học thích hợp” (cùng tài liệu)
Ngày 27 tháng Mười 1986, tại Assisi, gặp gỡ các nhà lãnh đạo các tôn giáo chính trên thế giới
Lý do khiến Đức Gioan Phaolô II mời các nhà lãnh đạo các tôn giáo lớn của thế giới tới Assisi vào tháng Mười năm 1986 là để mỗi vị, trong cương vị của mình, cầu nguyện cho hòa bình. Vào dịp này, Đức Giáo Hoàng nói rằng mặc dù có “nhiều khác biệt rõ rệt”, ta cần phải tìm ra “một căn bản chung để cùng nhau kiếm tìm giải pháp cho thách thức hết sức nghiêm trọng của thời đại ta: hòa bình chân thực hay chiến tranh đại họa?” ( Gặp gỡ Liên Tôn tại Assisi, 27101986). Vào dịp này, các tham dự viên không được yêu cầu từ bỏ các truyền thống riêng biệt của mình hay phương thức cầu nguyện của họ. Nhưng tất cả cùng mở lòng ra với Thiên Chúa theo phương thức riêng của mình, ngỏ cùng Người những hoài mong thâm hậu nhất của mình.
Ngày 24 tháng Giêng 2002, tại Assisi, lần gặp gỡ liên tôn lần thứ hai.
Ngày 18 tháng Mười Một năm 2001, Đức Gioan Phaolô II công bố ý định cho mời thành viên các tôn giáo hoàn cầu trở lại Assisi một lần nữa để cầu xin cho các mâu thuẫn được vượt qua và cho nền hòa bình chân thực được cổ vũ nơi mọi dân tộc. Ngài lấy ngày 24 tháng Giêng năm 2004 làm ngày gặp gỡ. Nhân dịp công bố này, Ngài cho hay: đây là cuộc gặp gỡ nhằm loại bỏ bất cứ việc sử dụng căn bản tôn giáo nào để biện minh cho bạo lực, chiến tranh hay khủng bố. Ta cần nhớ rằng Ngày Cầu Nguyện Cho Hòa Bình lần thứ hai này xẩy ra sau biến cố bi thảm 11 tháng Chín năm 2001, trong đó toà Tháp Đôi của New York bị tấn công và sau đó là cuộc chiến tranh tại Afghanistan.
Sau đây xin trích đoạn chủ yếu trong diễn văn của Đức Giáo Hoàng: “Một lần nữa cùng gặp mặt tại đây, chúng ta tuyên bố rằng bất cứ ai sử dụng tôn giáo để gieo rắc bạo lực là đi ngược lại khát vọng sâu sắc và chân thực nhất của tôn giáo. Cho nên, điều chủ yếu là con người và các cộng đồng tôn giáo phải từ bỏ bạo lực một cách minh nhiên và căn để nhất, bất cứ hình thức bạo lực nào, bắt đầu là thứ bạo lực đội lốt tôn giáo, dám nại tới danh thánh Thiên Chúa mà xúc phạm tới con người. Điều chắc chắn hết sức là khi chống lại con người, người ta cũng chống lại Thiên Chúa. Không có mục tiêu tôn giáo nào lại có thể biện minh cho việc con người dùng bạo lực chống lại con người” (Ngày 24 tháng Giêng 2002, tại Assisi, cuộc gặp gỡ Liên Tôn lần thứ hai)
Việc tổ chức những ngày cầu nguyện này, vì loại bỏ được cố gắng có tính ý thức hệ muốn truyền bá niềm tin Kitô giáo, nên đã chứng tỏ được tính lịch sử của nó, tính lịch sử trong đó những nhà lãnh đạo có thẩm quyền của các tôn giáo đã nhất trí làm chứng rằng: chân tình cởi mở với Thiên Chúa sẽ giúp người ta cởi mở với tha nhân. Mọi tôn giáo đều có chung một phương pháp đó là cầu nguyện. Về điểm vừa nói, Đức Gioan Phaolô cho rằng “cầu nguyện không trốn chạy khỏi lịch sử và các vấn đề do lịch ấy đem lại. Trái lại, cầu nguyện là chọn đối diện với thực tại không nhờ sức mạnh riêng mình mà nhờ sức mạnh từ trên cao, sức mạnh của chân lý và yêu thương mà nguồn gốc tối hậu là chính Thiên Chúa. Đối diện với sự ác đầy lừa lọc, con người tôn giáo có thể trông cậy vào Thiên Chúa, Đấng tuyệt đối chỉ muốn điều thiện. Họ có thể cầu nguyện với Người để được can đảm đương đầu với những khó khăn lớn lao nhất với một ý thức trách nhiệm bản thân, không bao giờ khoan dung bất cứ hình thức định mịnh thuyết hay phản ứng thiếu suy nghĩ nào” (24 tháng Giêng 2002, tại Assisi, cuộc gặp gỡ liên tôn lần thứ hai).
Những ngày tại Assisi có hiệu quả gì chăng? Đây là một trong các câu hỏi không phải chỉ có chúng ta mới đặt ra, mà chính các tham dự viên có lẽ cũng đã từng đặt ra. Câu hỏi ấy khó mà trả lời cho chníh xác được. Tuy nhiên, hình ảnh hột giống khiến ta chỉ biết khiêm cung thưa lại rằng nhiệm vụ ta là gieo vãi, hột giống lớn lên và mang hoa trái lúc nào và ra sao còn tùy thuộc Chúa quyết định.