(VietCatholicNews 12/08/2007)
Gái Ðiếm Dự Thánh Lễ Tại Madagascar
Hào quang Mẹ Têrêsa Thành Calcuta phần nào khiến người ta ít chú ý tới người môn đệ và sau này trở thành một trong những cộng sự viên thân cận nhất của ngài là linh mục Ian Travers-Ball. Giống như Mẫu Mực của mình, cha Travers-Ball cũng rời quê hương Australia qua Ấn Ðộ tiếp tục tu học để trở thành một linh mục Dòng Tên truyền giáo. Và cũng chính tại Ấn Ðộ, vị linh mục trẻ của Dòng Tên này đã bỏ Dòng gốc thân yêu của mình để cùng Mẹ Têrêsa thành lập ra Dòng Anh Em Truyền Giáo Bác Ái (Missionary Brothers of Charity). Linh mục Ian Travers-Ball trở thành Thầy Andrew từ đó. Ðiều đặc biệt là chi nhánh hải ngoại đầu tiên của Dòng lại được lập tại Sài Gòn Việt Nam, năm 1973. Ðến cuối thập niên 1980, Dòng đã có 85 cộng đoàn rải rác khắp nơi trên thế giới, với trên 500 tu sĩ. Trước khi qua đời vào ngày lễ Thánh Phanxicô Assisi, mồng 4 tháng 10 năm 2000, Thầy Andrew có trao cho người bạn cố tri là linh mục Frank Maher, Dòng Tên, một số sách do Thầy trước tác, trong đó có cuốn Ðiều Tôi Gặp Trên Ðường (What I Met Along The Way). Cuốn này đã được xuất bản tại Anh năm 1987 do Malcolm Muggeridge, người từng khám phá ra Mẹ Têrêsa, đề tựa. Trong tác phẩm này, Thầy Andrew thuật lại cuộc hành trình đi thăm các tu sĩ dưới quyền trên khắp thế giới. Tuy nhiên, theo Muggeridge, cuốn sách không nói về các cộng đoàn tu sĩ ấy, cho bằng nói về những con người Thầy Andrew gặp trên đường lữ hành. Nó không tả lại những cảm nghiệm vãn cảnh (sight-seeing) mà là vãn hồn (soul-seeing). Cuộc lữ hành của Thầy là cuộc lữ hành của Tông Ðồ Phaolô xưa, trong đó, cũng như Mẹ Têrêsa, Thầy tìm gặp không biết bao nhiêu cái Something Beautiful for God (Một cái gì Tươi đẹp cho Chúa). Sau đây là một trong những cái đẹp ấy: Gái Ðiếm Dự Thánh Lễ Tại Madagascar:
Madagascar, ngoài bờ biển đông nam Phi Châu, là hòn đảo lớn thứ nhì trên thế giới - chỉ thua Australia. Dù rất gần Phi Châu, nhưng người đảo này không thích được gọi là người Châu Phi. Tôi rất ngạc nhiên khi khám phá ra rằng một sắc dân khá lớn đã vượt đại dương di dân qua đây trong những ngày xa xôi từ những vùng quanh Indonesia ngày nay, biến họ thành những “thuyền nhân” kỳ cựu. Quả tình cuộc di dân của họ là một trong những cuộc di dân kỳ diệu trong lịch sử.
Ngày nay, Madagascar do một chính phủ Xã hội Mác Xít cai trị, nhưng cởi mở hơn nhiều so với các chính phủ Mác Xít khác, nhờ vẫn cho phép dân và thông tin tự do ra vào.
Dòng Truyền giáo Bác ái tương đối mới khởi sự tại đây thôi và tìm được việc làm với các gia đình nghèo tại các hang ổ chuột và các trẻ em trên hè phố, đảm nhiệm những dịch vụ y tế đơn giản cho người nghèo và cải thiện những ngôi trường nhỏ mọn trong các khu ổ chuột dành cho trẻ em vốn chẳng có nơi nào khác để học hành.
Ngày thăm viếng cuối cùng của tôi ở đây là một ngày Chúa nhật, Chúa nhật đầu tháng, tức Chúa nhật phải cử hành một Thánh lễ cho các trẻ em và một nhóm phụ nữ hiện hành nghề mãi dâm tại khu đèn đỏ gần đó. Thánh lễ này được cử hành tại một trong những ngôi trường của khu ổ chuột.
Trường này chỉ là hai gian phòng thuê, nên khi Thánh lễ bắt đầu cả hai gian phòng đó đều chật ních. Hôm ấy không phải là một ngày nóng nực, nhưng nội thân nhiệt tỏa ra cũng đủ làm mọi người nhễ nhãi mồ hôi. Các em rất ngoan và rõ ràng là thích hiện diện ở đây. Ðiều ấy không có nghĩa là các em hoàn toàn thinh lặng đâu. Thỉnh thoảng vẫn có chia trí, thì thào, khúc khích.
Các em ngồi bệt xuống chiếu trải trên nền nhà. Dọc theo bức tường cuối phòng là một dẫy ghế dựa và một chiếc ghế dài, nơi đó chừng một tá phụ nữ từ nhà điếm im lặng ngồi.Vì nhiều lý do phức tạp – mà tôi xin để cho ông Freud ông ấy giải thích - người đàn ông bao giờ cũng chú ý đến người đàn bà mà anh ta biết là gái điếm. Bởi thế, trong khi quay mặt lại cộng đoàn để cử hành Thánh Lễ, thú thực là tôi hay liếc về phía cuối phòng kia.
Ðiều khiến tôi chú ý không phải là sắc diện của họ - họ ăn mặc khiêm tốn và kín đáo – mà là nét cầu nguyện và cung kính của họ. Giống như các trẻ em, rõ ràng họ cũng thích được ở đây, nhưng không như các em, sự chú ý của họ không nhẩy tới nhẩy lui. Phần lớn thời gian, đầu họ cúi xuống, họ qùy hoặc ngồi thinh lặng cầu nguyện. Khi tôi giảng một bài giảng ngắn, được dịch từng câu qua tiếng Malagasy, họ chăm chú nghe không nhúc nhích.
Càng giảng tôi càng thấy mình nói với những người đàn bà kia nhiều hơn là với các trẻ em – mà không bỏ rơi các em cũng như không làm chúng khó chịu. Các em vẫn lắng nghe và giữ im lặng. Sau này, các thầy cho tôi hay một số phụ nữ đã khóc trong lúc tôi giảng.
Bốn tháng sau, tôi mới viết những giòng này, nên tôi không nhớ nổi mình đã giảng những gì hôm đó. Tôi chỉ biết rằng những người dễ giảng về đức Kitô nhất chính là các gái điếm và những người được các phúc âm miêu tả là không giữ Luật. Chính đức Kitô từng nói với các thầy dạy đạo và các vị giảng đạo tự coi mình là công chính trong thời Ngài rằng: các gái điếm và người tội lỗi sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông.
Trong nhiều năm làm việc với người nghèo, có lúc tôi đã gặp những người đàn bà tương tự như thế này tại các nước nghèo hơn trên thế giới. Phần lớn trong đầu thập niên 1970 tại Việt-Nam, nơi chúng tôi có nhiều căn nhà cung cấp nơi che nắng che mưa và cơ hội làm lại cuộc đời cho các phụ nữ trước đây hành nghề bán bar và những nghề tương tự tại Sài Gòn trong thời chiến tranh.
Ba năm ở Việt-Nam là khoảng thời gian thật phong phú đối với đời sống tôi. Ðó là thời gian tôi học được rất nhiều về những người đàn bà trong công việc trên, về chính bản thân tôi và về đức Giêsu, Ðấng đã dành cho họ một chỗ đặc biệt trong trái tim và giáo huấn của Ngài. Tôi hết sức khiêm hạ trước những người đàn bà này. Giáo huấn phúc âm của đức Giêsu đến với tôi rất rõ, làm tôi xác tín rằng tôi, một người đàn ông với vai trò đặc ân trong Giáo hội, không có chi hơn phần lớn những người đàn bà này, trái lại phần lớn chỉ là một thứ ngụy tạo (fake) và một thứ giả hình khi so sánh. Bởi vì nơi phần lớn những người đàn bà này, ta thấy điều này: họ không có một chút ảo tưởng nào về sự thiện hảo của họ trong khi tôi, tôi có rất nhiều những ảo tưởng như thế.
Những người đàn bà tại Madagascar này không ở trong nhà điếm để mà vui đùa (fun). Họ ở đó vì họ không tìm ra phương kế nào khác để nuôi thân, nuôi con cái và ngay cả cha mẹ họ.
Trong nhiều trường hợp, các gái điếm là như thế đó vì họ là nạn nhân của xã hội hay lịch sử. Ðiều ấy rõ ràng đúng đối với phần lớn các gái bán bar tại Việt-Nam trong thời chiến tranh. Nó cũng đúng đối với các gái điếm tại các xứ nghèo đói kinh niên của Châu Á, của Châu Mỹ La-Tinh, của Châu Phi - bất luận họ phục vụ các du khách nghèo hay các du khách giầu. Tôi nghi rằng điều ấy cũng đúng đối với các gái điếm tại các xứ giầu có, nơi họ thường là nạn nhân của cái nghèo thiêng liêng, của lòng vị kỷ, tham lam và họ không nhận được tình yêu của những người có trách nhiệm chăm sóc họ.
Rồi có cái thứ giả hình của những con người mệnh danh là đáng kính và tốt lành, tức những con người tự nghĩ mình tốt lành hơn và khinh bỉ nhìn xuống những người đàn bà trên. Sự thật họ đâu có được chút gì thiện hảo, liêm sỉ và anh hùng của nhiều người trong số các phụ nữ này.
Ðây chính là giáo huấn rất xưa của đức Giêsu. Nhưng phần lớn các giáo huấn của Ngài chẳng được ai nhớ hoặc hiểu. Tại một quán bar ở Bangkok hay ở Manila, thật là giác ngộ khi đem so sánh cái sâu sắc và nhân phẩm của những “cô gái” này với cái nghèo nàn đáng thương của các khách hàng du lịch của họ, những người có tiền, nhưng chẳng có gì khác hơn.
(Phóng dịch Bài Prostitutes at Mass in Madagascar, trong What I Met Along The Way, của Thầy Andrew do Darton, Longman and Todd Ltd xuất bản năm 1987.)
|
|
Vũ Văn An
|
|