Cuộc đời Ðức Hồng Y Gioan Maria LUSTIGER
Cả cuộc đời của đức Hồng Y Gioan Maria LUSTIGER[1] có thể tóm gọn vào ba chữ : theo tiếng Chúa. Theo tiếng Chúa, từ Chúa của Cựu Ước (1926) đến Chúa của Tân Ước (1940); theo tiếng Chúa làm mục tử phục vụ Giáo Hội trong bậc giáo sĩ, từ linh mục (1954), giám mục (1979), đến hồng y (1983). Theo tiếng Chúa phục vụ con người trong những điều kiện văn minh và văn hoá của nó (1995); theo tiếng Chúa phục vụ dân và Giáo hội Người (1954-2005); theo tiếng Chúa nhận biết giới hạn của mình.
Từ một mái ấm gia đình Cựu Ước
Từ trần tại Paris ngày 05.08.2007, Ðức Hồng Y Gioan Maria LUSTIGER chào đời trước đó 81 năm, ngày 17 tháng 09 năm 1926, cũng tại Paris, với tên là Aaron Lustiger.
Lustiger là tên một gia đình do thái. Ông ngoại của ngài, cũng có tên là Aaron Lustiger, là một thầy cả thượng phẩm rabbin, quê quán vùng Silésie, xứ Balan, di cư sang Pháp trước đệ nhất thế chiến 14-18. Cha ngài, cũng từ Balan đến Pháp khoảng năm 1918. Nhập quốc tịch pháp khoảng năm 1920, cha mẹ ngài sinh sống bằng nghề buôn bán đồ dệt kim, đường Simart, khu Butte Montmartre, quận 18, Paris. Không đi giáo đường synagogue, nhưng gia đình Lustiger sống và giáo dục con cái theo lương tâm và truyền thống do thái, gợi khiếu chăm chỉ học hành, đào tạo đức trung thành nghe theo tiếng gọi của lương tâm ngay thẳng. Những ngày thơ ấu tương đối hạnh phúc, nhưng chuyên cần. Cậu Aaron theo học trường tiểu học công lập đường Ferdinand Flocon, ngay bên nhà. Khi Aaron lên trung học, thì ông bà Lustiger rời khu Butte Montmartre, dọn về phố Jules-Chaplain, khu Montparnasse, Paris quận 6. Aaron theo học tại trường trung học Montaigne. Tiểu học và trung học đều học tại trường công. Ðó là điều mà Aaron vẫn tự hào và nhắc lại công ơn của các bậc thầy tại các trường công. Vào học lớp sáu, khoảng năm 1936, 1937. Ðó là năm mà Aaron, khám phá ra và đọc Cựu ước và Phúc Âm, nhờ một giáo sư dương cầm. Cũng dịp này, Aaron khám phá ra sự kỳ thị do thái, qua lời kể của cha mẹ và qua sách vở đọc được. Nhưng dịp hè, được cha mẹ cho đi học ngoại ngữ bên Ðức, Aaron đã thấy tận mắt sự bành trướng của Ðức quốc xã. Cậu bắt đầu hiểu tại sao có mối tương quan giữa đức tin công giáo và sự kỳ thị do thái.Về với Chúa của Tân Uớc
Chiến tranh bùng nổ. Ông Lustiger bị động viên. Bà Lustiger mang hai con về lánh nạn ở Orléans. Bà gởi con tại nhà một bà trọ. Chính trong thời gian này và qua bà chủ trọ này mà Aaron khám phá ra tiếng gọi của Chúa Tân Ước và trở lại đạo công giáo. Ngài thuật chuyện trở lại như sau : « Một bữa nọ, trên đường đi đến trường, tôi vào một thánh đường. Lúc đó tôi không biết là ngày nào. Nhưng bây giờ thì tôi biết rằng hôm đó là ngày thứ năm tuần thánh. Tôi dừng lại ở cánh phía nam, chỗ có ánh nến sáng và hoa thơm. Tôi dừng chân một lúc lâu, khựng lại, mà không biết tại sao mình lại dừng chân ở đây, cũng không biết tại sao có những sự việc đang xáo trộn trong tâm tư tôi. Tôi không hiểu cái mà tôi thấy. Tôi không biết người ta đang cử hành lễ nghi gì, cũng chẳng hiểu tại sao người ta im lặng. Về nhà, tôi rút rú vào phòng. Không nói gì với ai.
Ngày hôm sau tôi trở lại thánh đường. Tôi muốn nhìn lại nơi này. Thánh đường hôm nay trống trơn. Tâm thần tôi cũng trống trơn. Tôi bị cái trống rỗng hành hạ. Tôi không biết rằng hôm đó là thứ sáu tuần thánh. Tôi chỉ muốn kể lại cụ thể điều gì đã xẩy ra. Và vào lúc ấy, lúc trống trơn ấy, tôi có một ý tưởng : tôi muốn được rửa tội. Tôi liền nói chuyện với bà chủ trọ. Tôi nghĩ như thế là thuận tiện và đơn giản. Tôi biết rằng bà là công giáo, bà đi đự lễ. Tôi thấy bà. Tôi biết bà là ai. Bà ta bảo tôi : « Cậu phải xin phép cha mẹ cậu ». Rồi bà dẫn tôi đến đức giám mục địa phận Orléans, đức cha Courcoux. Ngài thuộc dòng thuyết giảng, có văn hoá cao. Ngài dậy đạo cho tôi. Ngài kèm riêng cho tôi. Ngay từ những buổi gặp gỡ đầu tiên, ngài đã bảo tôi phải xin phép cha mẹ tôi. Diễn biến cụ thể thế nào tôi không nhớ lắm. Nhưng tôi nhớ chắc chắn rằng, ngày mà tôi báo tin cho cha mẹ tôi, thì hôm đó, một cảnh rất thê thảm, rầt cay cực đã xẩy ra. Kết cục thì cha mẹ tôi cũng đã chấp nhận. Nhưng đó là chuyện khác ». Và ngày 25 tháng 08 năm 1940, lúc 14 tuổi, Aaron và em gái đã được lãnh bí tích rửa tội. Cậu vẫn giữ tên gọi là Aaron, nhưng thêm vào hai tên khác là Gioan và Maria. Từ đó, người ta quen gọi cậu là Gioan Maria Lustiger. Suốt đời mình, Gioan Maria Lustiger, mỗi lần có dịp đều giải thích rằng trở lại đạo công giáo không có nghĩa là bỏ căn tính do thái.Theo tiếng gọi làm mục tử
Cuối năm 1940, dưới thời Vichy, khi những luật bắt bớ do thái đã được ban hành, người Do Thái bị lùng bắt ráo riết bởi công an Ðức và cả công an Pháp, ông thân sinh và người em gái phải vội vã bỏ Paris. Gioan Maria đưa cha xuống Toulouse và giấu ông trong một trường canh nông do các cha dòng Tên điều khiển, ông được nhận làm công với giấy tờ giả. Còn thân mẫu, vì tiếc nuối cửa tiệm nên chần chừ không muốn bỏ Paris, bà đã bị một người hàng xóm tố cáo, bị bắt ngày 10 tháng 09 1942 và sau cùng bị giải về trại Drancy. Và theo chứng thư cấp cho gia đình ngày 3 tháng 3 năm 1952, thì bà đã bị đầy qua trại thiêu Auschwitz.
Trong thời gian này, Gioan Maria đã ấp ủ tiếng Chúa gọi : « Tôi luôn xác tín rằng Thiên Chúa gọi tôi. dẫu rằng nhiều lúc và dưới nhiều hình thức, tôi cũng bị nhiều cám dỗ đừng đáp tiếng Chúa ». Gioan Maria được chấp nhận tạm trú trong tiểu chủng viện Balê, ở Conflans. Ở đây, chú Gioan Maria gặp cha Pierre Veuillot, giáo sư triết lý và nhận ngài làm cha linh hướng. Từ lúc ấy chú Gioan Maria giữ dây liên lạc thâm tín và bạn hữu với cha Veuillot, cho đến khi ngài qua đời, lúc làm hồng y tổng giám mục Balê.
Ðậu tú tài năm 1943, từ năm 1944, chàng trai Gioan Maria đã nghĩ đến việc xin vào đại chủng viện. Nhưng chưa quyết định hoàn toàn vì việc học còn giang giở và nhất là vì hoàn cảnh gia đình. Dĩ nhiên em gái và nhất là cha ngài không đồng ý, Gioan Maria ghi tên học văn khoa ở Sorbonne và cộng tác với cha tuyên úy Maxime Charles ở Trung tâm Richelieu. Nhưng khi đã chẵn 20 tuổi, chương trình học tạm ổn, Gioan Maria ‘cảm thấy thời gian đã chín mùi’, nên quyết định xin nhập chủng viện học làm linh mục. Khó khăn đầu tiên Lustiger phải gánh chịu là phản ứng mãnh liệt của người cha, ‘một cuộc xung đột rất ác độc, rất tàn nhẫn. Cho đến lúc người phải dùng đến một thứ bạo lực. Theo luật pháp bấy giờ, còn mấy tháng nữa tôi mới hoàn toàn thành niên. Cha tôi đã cắt đứt hết các phương tiện sống của tôi, kể cả thẻ lương thực nữa... Đó là một sự xung đột đau lòng. Hai năm sau cha tôi mới nguôi giận. Hai năm, tôi không dám nhìn mặt cha tôi, tôi lủi thủi sống một mình...’ Thầy Gioan Maria vào đại chủng viện, trước tiên ở Issy-les-Moulineaux, rồi sau ở Carmes.
Thụ phong linh mục ngày 17 tháng 4 năm 1954, cha Gioan Maria được bổ nhiệm làm tuyên úy Xứ Ðại học, tuyên úy sinh viên văn khoa và khoa học đại học Sorbonne và các trường lớn. Năm 1959 cha kế vị cha Charles làm Giám đốc Trung tâm Richelieu. Cha cải tổ lại cơ cấu và tổ chức cho hợp với những biến chuyển mới trong giới đại học. Cha tiếp tục công việc huấn luyện và đào tạo sinh viên và giới trẻ công giáo trong lãnh vực trí tuệ và tinh thần Trong thời gian 1954-1969 cha Gioan Maria đặc biệt chú ý đến hoạt động tông đồ của giáo dân, đặc biệt trong tổ chức thanh sinh công J.E.C.. Cha cũng tự đào tạo mình bằng việc học hỏi nơi các triết gia và thần học gia đương thời, qua việc đọc các sách của họ, đặc biệt là các sách của Henri de Lubac và Hans Urs von Balthasar. Những cuộc hành hương Thánh Ðịa và Lamã, với những cử hành phũng tự, cũng là dịp khác để cha Gioan Maria tự đào tạo mình. Ngay sau biến cố bãi khoá 68 làm đảo lộn đời sống sinh viên đại học, Cha Gioan Maria đã đi sưu khảo ở Mỹ một năm.
Trở về Pháp, năm 1969, cha Gioan Maria được bổ nhiệm làm cha sở xứ Sainte Jeanne-de-Chantal, quận 16 phía nam, khu Porte Saint-Cloud. Trong xứ đạo tư sản trưởng giả này, cha Gioan Maria đã dần dà đưa ra và thực hiện một chương trình mục vụ cải tiến, dựa vào Lời Chúa. Ðọc lời Chúa như là lời sống động, có thể biến đổi cuộc sống thường ngày. Ðọc lời Chúa, đặc biệt trong và qua các nghi lễ phụng vụ. Trong thời gian này, cha đã có dịp tiếp cận với Viện Thần học Bruxelles, do các cha dòng Tên điều khiển; và tiếp cận với cha Albert Chapelle, người khai lối của viện. Và cũng thời gian này cha Gioan Maria, cùng với các cha đồng đội của ngài, như cha Thomas Kowalski, cha André Vingt-Trois, cha Bernard Violle,.. đã thấy được những căn bản nền tảng cho những sáng kiến mục vụ sau này. Cuốn sách đầu tay của cha, « Sermons d'un curé de Paris », xuất bản năm 1978, thâu thập những bài giảng tại giáo xứ Saint-Jean-de-Chantal, có thể được coi là một bản tóm tắt chỉ dẫn cách sống đức tin và nói về đức tin. Cha Gioan Maria làm cha sở giáo xứ này 10 năm, từ 1969 đến 1979.Ngày 10 tháng 11 năm 1979, đức Giáo Hoàng Phaolô VI chọn cha Gioan Maria làm giám mục địa phận Orléans. Ðức cha Gioan Maria Lustiger bắt tay ngay vào việc, mà việc đầu tiên là lấy quyết định mở một chủng viện liên địa phận để đào tại linh mục.
Hai năm sau, ngày 31 tháng 01 năm 1981, Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã bổ nhiệm đức cha Gioan Maria làm tổng giám mục Balê, rồi phong làm hồng y, ngày 02 tháng 02 năm 1983, cùng một trật với cha Henri de Lubac. Ngày 15 tháng 06 năm 1995 Ðức Hồng Y Lustiger được bầu làm viện sĩ Hàn lâm viện Pháp.
Năm 2001, đúng theo Giáo Luật, khi 75 tuổi, Ðức Hồng Y LUSTIGER đã đệ đơn xin từ chức, nhưng đức Thánh Cha trả lời ‘cứ tiếp tục cho tới khi có sự xếp đặt cách khác’. Ngày 11 tháng 2 năm 2005, Đức Thánh Cha đã chấp nhận lời xin của Đức Hồng Y Jean-Marie Lustiger và bổ nhiệm Đức Cha André Vingt-Trois, 62 tuổi, hiện là Tổng Giám Mục Tours lên kế vị. Tuy nhiên, Tòa Thánh còn yêu cầu ngài giữ chức Giám Quản Tông Tòa tổng giáo phận Paris cho tới ngày 5 tháng 3 năm 2005, ngày Đức cha André Vingt-Trois chính thức nhận chức vụ.
Về hưu, Ðức Hồng Y nghỉ tại nhà hưu dưỡng của các linh mục địa phận Balê, Nhà Marie-Thérèse, ở Nanterre. Ngài vẫn tiếp tục diễn thuyết và giảng phòng cho nhiều cơ quan, cộng đoàn, đồng thời vẫn tiếp tục chu toàn bổn phận hồng y trong các công nghị giáo triều Lamã. Và ngài vẫn làm việc để tham gia vào việc đối thoại giữa công giáo và do thái giáo, đặc biệt là dịp cử hành 40 năm Tuyên Ngôn về Liên Lạc của Giáo Hội với các Tôn Giáo Ngoài Ki-tô Giáo (Nostra Aetate) do Công đồng Vatican II công bố ngày 28.10.1965. Năm 2006, các bác sĩ chẩn bệnh đã phát hiện một chứng bệnh ung thư. Ngày 17 tháng 09 năm 2006, ngài cử hành một thánh lễ tại Nhà thờ Ðức Bà Balê, mừng thọ 80 tuổi. Và như chúng ta đã biết, ngày 05 tháng 08 năm 2007, Ðức Hồng Y Gioan Maria Lustiger đã được Chúa gọi về.
LỜI KẾT
Qua cuộc đời, Ðức hồng y tổng giám mục Gioan Maria Lustiger đã phục vụ giáo phận Paris dòng dã 24 năm, từ 1981 đến 2005. Trong 24 năm ấy, nhiều việc đã được ngài thực hiện, nhiều sự kiện đã được giáo hội và nhân loại để ý đến. Ba sự kiện sau đây đáng được lưu ý, để kết luận về cuộc đời của Ðức Hồng Y Gioan Maria Lustiger.
Sự kiện thứ nhất là sự liên lạc thân thiết giữa Ðức Hồng Y với Ðức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II. Sự tâm đầu ý hiệp của hai vị thủ lãnh giáo hội đã làm cho những công việc và những phát biểu của Ðức Hồng Y dường như được chú ý và nghe theo nhiều hơn. Có người đã nêu vấn đề ảnh hưởng của Ðức Hồng Y trên những quyết định của Ðức Giáo Hoàng.
Sự kiện thứ hai là những sáng kiến mục vụ của Ðức Hồng Y, phát xuất từ những suy nghĩ và cảm thông về những biến đổi của xã hội và thế giới hiện đại. Với một tâm tính mạnh bạo và một tư cách lãnh đạo dứt khoát, Ðức Hồng Y đã đặc biệt lưu tâm đến những lãnh vực mục vụ căn bản như :
1- Giáo dục và đào tạo cán bộ Dân Chúa : lập Trường Cán Bộ Trách Nhiệm (1982), Trường Nhà Thờ Chính Toà (1984), Nhà Thánh Augustinô (1984), Chủng Viện Balê (1985),..
2- Ðịnh giá và cải tiến phương pháp mục vụ : lập Huynh Ðệ Truyền Giáo Linh Mục cho thành phố (1990), Bước đi Phúc Âm (1990), Chuẩn bị JMJ 1997, Chiến dịch bác ái 1998-2000, Lễ đại xá 2000, Rao giảng Phúc Âm Balê 2003, Xây dựng hoặc tân trang nhiều nhà thờ trong địa phận, Lập những hội tu triều, những cộng đoàn mới, Cộng tác với các tổng giám mục nhiều thủ đô Âu châu phát động Công Nghị Rao giảng tin mừng,,,
3- Ưu tư lo cho dân nghèo : Lập tổ chức Ðức Bà (1992) giúp người bị bắt bớ, bị bệnh tật, Tổ chức Tibériade để tiếp đón bệnh nhân Sida, Tổ chức Cứu trợ lương thực tháng tám, lập Nhà Jeanne Garnier để giúp trị liệu tạm thời, lập Hội Thánh nữ Geneviève lo việc nhà cửa,..
4- Phát triền truyền thông như phương tiện mục vụ đắc lực : lập Ðài truyền thanh Ðức Bà (1981), lập báo Paris Notre Dame (1983), Mạng lưới http://catholique-paris.cef.fr (1998), Ðài truyền hình KTO (1999).
Sự kiện thứ ba là dấu ấn tư tưởng ngài để lại. Xuyên qua và vượt trên những hành động mục vụ mà Ðức Hồng Y đã thực hiện trong Giáo Hội, tư tưởng của ngài là một đóng góp vào di sản tinh thần của nhân loại trong hai thế kỷ XIX và XX. Ba chiều hướng suy tư của Ðức Hồng Y đã tạo chú ý :
1- Âu Châu và văn hoá : vượt trên khuân khổ quốc gia Pháp, Ðức Hồng Y đóng góp những suy nghĩ về Âu Châu qua những khía cạnh văn hoá và tinh thần : chấp nhận văn hoá âu châu với gốc rễ sâu xa của đức tin công giáo hay chối bỏ đức tin này, đó là điếu quan trọng quyết định cho định mệnh nhân loại.
2- Dân tộc Israël : Giáo hội công giáo phải học hiểu để chấp nhận rằng gốc rễ của mình bắt nguồn từ do thái giáo, cũng như mọi người, ai ai cũng phải công nhận 10 giới răn mà dân Israël là người mang lại.
3- Nhân phẩm con người : Nguy hiểm mà khoa học kỹ thuật làm con người mù quáng không nhìn ra và tôn trọng nhân tính con người nữa, cũng như không nhìn ra và không tôn trọng chiều hướng luân lý của hành động chính trị.
Paris, ngày 08 tháng 08 năm 2007
Trần Văn Cảnh
--------------------------------------------------------------------------------
[1] Tài liệu tham khảo :
· Henri Tincq, « L’adieu au cardinal Lustiger, Disparition, L’ancien archevêque de Paris incarnait la filiation juive de l’Eglise catholique », trong « Le Monde », mardi 7 août 2007, tr. 1, 6
· http://catholique-paris.cef.fr/diocese/lustiger/index.php; đặc biệt mục « Le parcours de sa vie »