Vài nét Lịch sử về Giáo Hội Công Giáo tại Thái Lan
Theo truyền thuyết kể lại như sau: Công giáo du nhập vào Siam vào thế kỷ 16. Lịch sử Giáo Hội Công Giáo tại Thái Lan được các nhà truyền giáo Tây phương ghi lại cho biết là Công giáo đã du nhập vào Thái Lan từ năm 1544. Một người Bồ đào nha tên là Antonio de Paiva, đã đến thủ đô Ayutthaya trong thời Vua Phra Jairaja và đã được Vua Thái cho tiếp kiến. Hai bên đã có những cuộc mạn đàm tôn giáo. Nhà vua trở lại đạo Công giáo và được rửa tội và lấy tên là Dom Joâo. Thế nhưng chứng cớ lịch sử cũng không đưa ra được bằng chứng cụ thể về sự kiện nêu trên. (Danh xưng Thái Lan mới được sử dụng trong thế kỷ 20, còn trước đây Thái Lan được gọi là nưới Siêm hay là Xiêm-la). Vậy để thống nhất trong cách gọi tên, bài này sẽ sử dụng danh xưng Thái Lan chỉ vương quốc Siam hay Xiêm, dù rằng trong văn kiện lịch sử ghi tên Thái Lan.Vị truyền giáo đầu tiên có bút tích kể lại về tên nước Thái Lan đó chính là thánh Francis Xaviê. Thánh nhân viết 4 thư gửi đi từ Sancian, và ngài có nhắc tới tên Siam và nói mục tiêu truyền giáo của mình là đến Trung Hoa. Thế nhưng thánh Phanxicô Xaviê cũng đã chẳng tới được Trung Hoa và hoặc là “Siam” vì Ngài đã qua đời vào ngày 3.12.1552.
Do đó, không thể biết chắc được có vị truyền giáo Công giáo nào đến Thái Lan trước năm 1567 hay không. Sau khi khảo sát các tài liệu thì biết chắc rằng vào năm 1567 có 2 vị thừa sai đầu tiên đến Thái Lan, đó là Cha Jeronimo da Cruz và Sebastiâo da Canto, thuộc Dòng Đa Minh Bồ Đào Nha. Hai vị đến kinh đô Ayutthaya. Hai vị được Vua Thái cho một nơi cư trú nơi đẹp nhất thành phố. Sau này Cha Jeronimo da Cruz cùng với 2 vị thừa sai khác bị quân Miến Điện khi đánh thành Ayutthaya giết vào năm 1569.
Trong khoảng từ năm 1582 tới 1767 có các vị thừa sai Dòng Phanxicô tới Thái Lan truyền giáo nhưng các công tác tông đồ của các vị như thế nào cũng không còn lại chứng tích gì.
Vị thừa sai Dòng Tên đầu tiên tới Thái là LM Balthasar Segueira. Ngài đặt chân tới Ayutthaya hay Odia vào Tuần Thánh năm 1607, có nghĩa là từ ngày 16 tới 26 tháng 3 năm 1607. Các Cha Dòng Tên có nơi cư trú riêng, có trường học và mở xây dựng nhà thờ. Công cuộc truyền giáo của các Cha Dòng Tên còn ghi lại trong lịch sử Công giáo Thái.
Tất cả các vị thừa sai nêu trên được gửi tới Thái Lan đều do hệ thống Padroado được hình thành bởi Bộ Truyền Giáo Propaganda Fide trong Văn Thư ký ngày 6.1.1622. Đây là văn kiện lịch sử trọng đại của Giáo Hội đặc biệt là phương diện Truyền Giáo cho các nước Á châu và nhất là Vùng Đông Nam Á, bao gồm Việt Nam.
Bộ Truyền Giáo gửi 3 Đại Diện Tông Tòa (Apostolic Vicars) đó là Đức Giám mục François Pallu, Đức
Giám mục Pierre Lambert de la Motte và Đức Giám mục Ignatius Cotolendi, tới Trung Hoa và vùng Đông Dương (Indochina). Thế nhưng các vị Thừa Sai này đã gặp phản ứng mãnh liệt của các vị bảo hiến người Bồ Đào Nha trong vùng này vì quyền lợi xung khắc.
Vào ngày 22.8.1662, Giám mục Lambert de la Motte, LM Jean De Bourges, và LM Dedier đã tới thủ đô Ayutthaya. Các vị là những Nhà Truyền Giáo tiên khởi của Hội Thừa Sai mới được thành lập là Missions Etrangères de Paris (M.E.P.).
Vào ngày 27.1.1664, Vị Đại Diện Tông Tòa khác là Giám mục François Pallu, cùng với LM Haingues, LM Brindeau và một trợ tá thừa sai giáo dân là ông De Chameson Foissy đã tới Thái Lan.
Đức GM Lambert và Đức GM Pallu đều có cùng quan điểm là Thái Lan với chính sách khoan dung tôn giáo là một thích hợp và là căn cứ truyền giáo nền tảng để từ đó phát động tới các vùng khác như: Cochinchina (Nam Việt Nam), Tonkin (Bắc Việt Nam) và Trung Hoa.
Các vị này đã xin với Roma cho được quyền tự trị độc lập giáo quyền trên Thái Lan. Đây là một vấn đề nan giải vì hệ thống “Padroado” khó lòng để các vị truyền giáo khác chấp nhận sự phục tùng trực tiếp từ các Đại Diện Tông Tòa. Điều xung khác trên và những bất đồng khác khó mà hòa giải được giữa các nhà truyền giáo thuộc hệ thống Padroado và Đại Diện Tông Tòa.
Sau một thời gian dài suy nghĩ, Roma đã chấp thuận đề nghị của các Đại Diện Tông Tòa và Roma đã ký sắc lệnh có tên là Speculatores (những trường hợp đặc thù) vào năm 1669.
Vào ngày 13.9.1674, LM Laneau được bổ nhiệm làm Giám mục và là Giám Quản Tông Tòa của Thái Lan và được hai Giám mục Lambert và Pallu phong chức giám mục.
Vào năm 1662 khi người Pháp tới Ayutthaya, văn kiện có ghi lại là họ được 10 linh mục người Bồ đào nha và 1 linh mục người Tây Ban Nha tiếp đón. Đây là các linh mục đang phục vụ cho một Cộng đoàn Công giáo có khoảng 2000 người Công giáo.
Năm 1664, Đức Giám Mục Pallu đã triệu tập Công Đồng tại Ayutthaya gồm 2 giám mục, 5 linh mục và 1 giáo dân trợ tá, và kết quả được tóm kết như sau:
- 1. Thành lập một tu hội tông đồ bao gồm 3 Dòng Tu và lấy tên là Tu Hội “Mến Thánh Giá Chúa Giêsu”.
- 2. Quyết định phát hành “Những Chỉ Dẫn” về Đại Diện Tông Tòa ban hành bởi Bộ Truyền Giáo. Đồng thời in và phát hành :Những Chỉ Dẫn Truyền Giáo:.
- 3. Đồng ý xây dựng một Chủng Viện.
Vào năm 1665, Giám mục Lambert đã thực thi được ý muốn của Công Đồng Ayutthaya bằng cách cho lập Trường Học Tổng Quát "College General" ở Ayutthaya.
Năm 1669, bệnh xá đầu tiên được Giám mục Lambert cho thành lập và dưới sự giám sát của giám mục Laneau.
Ngoài thủ đô Ayutthaya, các thừa sai còn rao giảng Tin Mừng tại các vùng khác như Phitsanulok, Lopburi, Samkhok và Bangkok.
Vào năm 1674 đã có khoảng 600 người Thái gia nhập đạo Công giáo. Cũng chính trong năm này mà Nhà thờ Đức Mẹ Trinh Vương ở Samsen trong hạt Bangkok được xây dựng. Các người Công giáo thuộc các quốc tịch khác như người Bồ đào nha, người Việt Nam và người Nhật sinh sống ở đây trở nên nhiều hơn. Thực tế ra, các nhà truyền giáo đã hoạt động lâu dài tại thủ đô Ayutthaya, nhưng cho tới khi thủ đô bị thất thủ vào năm 1767, kết quả của việc truyền giáo của họ rất là khiêm tốn.
Thái độ của nhà Vua Narai đối với Kitô giáo đã làm cho ông Constantine Phalkon, LM Guy Tachard, một linh mục Dòng Tên và ngay cả nhà Vua Pháp là Louis XIV đã lầm tưởng và hy vọng rằng có thể cải đạo được Vua Narai và cả quốc gia Thái Lan thành quốc gia Công giáo. Việc lầm tưởng này dẫn đến tai hại lớn lao cho công tác truyền giáo khi mà cuộc cách mạng năm 1688 xẩy ra, thì lúc đó vị vua mới là Phra Phetraja, có thái độ chống Pháp, nên đã ra lệnh bách hại người Kitô giáo tại Thái Lan.
Mãi đến năm 1691 tình hình truyền giáo mới trở nên khá hơn khi nhà Vua trả lại chủng viện cho giám mục Laneau.
Cuộc bách hại Kitô giáo thứ hai xẩy ra dưới thời Vua Taisra (1709-1733). Các vị truyền giáo bị cấm rời thủ đô. Họ bị cấm không được dùng ngôn ngữ Thai và tiếng Phạn (Pali) trong việc rao giảng Phúc Âm và tôn giáo. Hơn thế vào cuối năm 1743 bước sang đầu năm 1744 còn chứng kiến một cuộc bách hại đạo khác tiếp diễn lâu hơn.
Ngoài những khó về truyền giáo và những hạn chế, Kitô giáo tại Thái Lan còn bị ảnh hưởng trầm trọng nhất là sau cuộc xâm chiếm của người Miến Điện vào Thái và làm cho kinh đô Ayutthaya thất thủ vào năm 1767.
Với triều đại hiện thời lúc đó là vào năm 1782, tình hình truyền giáo có dần dần được cải tiến. Nhưng cách chung trong thế kỷ 18 việc truyền giáo tại Thái Lan bất lợi vì các nhà truyền giáo dưới thời Vua Taksin (1768-1782) bị trục xuất khỏi Thái Lan.
Vị Vua nối tiếp là Rama I (1782-1809) đã kêu cầu các nhà truyền giáo trở lại vì muốn bắt đầu các cuộc liên minh với các quốc gia ngoại quốc và muốn giao thương với các quốc gia này như trước kia đã từng xẩy ra.
Vào năm 1785, tại Thái Lan có tổng cộng là 413 người Công giáo Siêm có dòng máu người Bồ đào nha tại nhà thờ Thánh Giá (Santa Cruz) ở Thonburi, có 379 người Công giáo gốc Cambot tại nhà thờ Đức Mẹ Trinh Vương ở Samsen; và có 580 người Công giáo gốc Việt Nam.
Nhà sữ học A. Launay thời đó tả rằng tình trạng Truyền giáo tại Thái Lan vào đầu thế kỷ 19 khởi đi từ năm 1802 ước tính toàn số người Công giáo trong cả Thái là chừng 2.500 người và vào năm 1811 là khoảng 3.000 người.
Trong thời giám mục Garnault (1786 1811) việc tái phục hồi Truyền giáo mới được bắt đầu lại.
Năm 1827, Sắc lệnh của ĐGH Leo XII ban quyền điều hành cho Đại Diện Tông Tòa ở Siem có quyền trên Singapore. Bộ Truyền Giáo chính thức cho quyền cai quản trên Singapore cho Tông Tòa ở Thái Lan vào ngày 12.5.1834.
Năm 1835 một biến cố quan trọng xẩy ra là có chừng 1.500 Công giáo Việt Nam, chạy trống sang Thái Lan vì cuộc bách hại xẩy ra tại Việt Nam đã đến cư trú tại Samsen và được Vua Thái cho tị nạn và ban đất cho xây nhà thờ ở Bangkok. Đó là khởi nguyên các người Công giáo tại nhà thờ Thánh Phanxicô Xaviê ở Samsien, mà ngày nay trên nóc nhà thờ này còn có những hàng chữ Nho viết tại đây. Hiện tại con cháu và miêu duệ của những người Công giáo Việt đầu tiên hãy còn sống tại đây và còn duy trì được một số những truyền thống tôn giáo và văn hóa của người Việt từ thế kỷ 19. Tỉ dụ họ còn có nhà táng theo kiểu Việt Nam, một ít cụ già còn nói được tiếng Việt cổ xưa và một số những đồ thờ hãy còn được lưu trữ. Vào năm 1989, người viết bài này có cơ hội tới thăm viếng và tiếp xúc với một số anh chị em giáo dân Thái gốc gác cha ông là người Việt, trong số đó một số cụ già còn nói được ít tiếng Việt thời xa xưa.
Vì số người Công giáo càng ngày càng gia tăng nên Giám mục Courvezy (1834-1841) đã xin Tòa Thánh bổ nhiệm một giám mục phó và năm 1838. LM Pallegoix được bổ nhiệm và tấn phong giám mục ngày 3.7.1838.
Với văn kiện “Universi Dominici, Thiên Chúa hoàn vũ” được Tòa Thánh ban hành vào ngày 10.9.1841,
Tòa Thánh tách rời miền giáo tỉnh Malaysia khỏi vùng truyền giáo Thái Lan và thành lập Vùng Truyền Giáo Viễn Đông Thái Lan bao bán đảo Malaya, đảo Sumatra và phần Nam nước Miến Điện. Đức Cha Pallegoix được chỉ định là Đại Diện Tông Tòa Viễn Đông Thái Lan và Đức cha Courvezy, làm Đại Diện Tông Tòa Đông Thái Lan.
Một trong các nhân vật truyền giáo danh tiếng thế kỷ 19 của Khu Truyền Giáo Thái Lan là giám mục Pallegoix (1841-1862), danh tiếng của ngài lan tỏaq ra cả ngoài biên cương của Thái Lan. Ngài là vị giám mục thông thái, trí tuệ sắc bén và có sự hiểu biết thâm sâu về khoa học, toán học và ngôn ngữ. Ngài cũng rất thông thạo cả tiếng Thái và tiếng Phạn Pali. Ngài cũng là tác giả cuốn tự điển thời danh Thái-Latin-Pháp-Anh ngữ. Đây cũng chính là công trình căn bản đầu tiên về ngôn ngữ Thái Lan.
Khi còn làm việc tại nhà thờ Đức Mẹ Trinh Vương (Immaculate Conception Church) ngài đã học thêm tiếng Phạn Pali từ vị hoàng tử Mongkut, vị hoàng tử này vào nhập tu viện ở Chùa Wat Rajathivas gần giáo xứ của ngài. Đổi lại vị hoàng tử học tiếng Latin với ngài.
Tự sự biên niên năm 1867 của giám mục Dupond (1865-1872) có ghi lại cho chúng ta về tình hình chung của Công giáo tại Thái Lan như sau: Số người Công giáo là khoảng 8.000 người, rửa tội cho 667 người Thái, rửa tội cho 257 trẻ em Thái.
Giám mục Dupond là người đầy tâm huyết với công cuộc truyền giáo. Ngài nói được tiếng Thái và 2 ngôn ngữ Trung hoa, nên đã làm dạng danh người Công giáo Thái và Trung hoa ở Thái. Giám mục Dupond xây thêm 8 giáo đường mới cho các tân tòng mới trở lại và phát triển thêm cho những thí điểm truyền giáo cũ. Khi giám mục Dupond qua đời vào ngày 15.12.1872, Ngài để lại cho Thái Lan số người Công giáo là 10.000 người, trong đó có 20 vị truyền giáo người Tây phương và 8 linh mục bản xứ.
Thời giám mục Jean Louis Vey (1875-1909) cai quản Thái Lan được coi là thời kỳ mở mang quyết liệt. Điểm son trong công việc truyền giáo của giám mục Vey là cử người sang làm truyền giáo tại xứ Lào.
Đức cha Vey gửi 2 linh mục là Cha Prodhomme và cha Xavier Guégo sang Lào vào ngày 2.1.1881 để truyền giáo ở đó. Cuối cùng thì vào ngày 4.5.1899, ĐGH Lêô XIII thành lập Tông Tòa ở Lào và LM Cuaz được cử làm giám mục Tông Tòa cho toàn quốc Lào.
Dưới sự lãnh đạo cùa Đức Vey trong suốt 34 năm, công việc truyền giáo tại Thái Lan tiến triển trên nhiều phương diện khác nhau. Vào năm 1909 tức là năm cuối cùng trong đời giám mục của đức cha Vey, giáo hội tại Thái Lan có 23.600 người Công giáo, 57 ngôi thánh đường, và nhà nguyện với 79 Cộng đồng Kitô hữu, có 59 chủng sinh, 44 linh mục thừa sai ngoại quốc, 21 linh mục bản xứ, 17 nam tu sĩ, 123 nữ tu, 21 giảng viên giáo lý. Ngoài ra các thành tựu khác gồm có 3 trường trung học với 861 học sinh, 62 trường tiểu học với 2692 học sinh và 1 nhà thương.
Từ thời Vua Rama IV và Rama V, Giáo hội tại Thái đã nhìn trước được nhu cầu của thời đại mới và đã cộng tác với công quyền trong việc tái tạo chung. Do đó mà một nhà tin đã được Giáo hội cho thành lập rất sớm.
Vào năm 1885 LM Colombet đã thành lập trường Công giáo tân tiến đầu tiên có tên là Bangkok Assumption College, sau đó Trường này được các Sư Huynh Thánh Gabriel coi sóc và điều hành, các sư huynh này đến Thái đáp lời mời của đức Cha Vey vào năm 1901.
Các Nữ tu Dòng St. Paul de Chartres đã có mặt tại Thái Lan trước cả các Sư huynh Thánh Gabriel để lo trông coi một Bệnh viện St Louis đã được đức cha Vey xây dựng và khai trương vào năm 1898. Đức Cha cũng trao trách nhiệm cho các nữ tu St Paulo giúp lo việc huấn luyện cho Cộng Đoàn các nữ tu bản xứ thuộc Dòng Mến Thánh Giá mới được Đức Cha Vey cho phép hồi sinh thành lập lại tại Samsen.
Một trong những ước mong của đức cha Vey mà người thường nhắc tới là công việc truyền giáo cho vùng Tây Bắc Thái nơi giáp giới với Miền Điện, bởi vì tại Miền Trung Thái đã có dăm sáu bảy thí điểm truyền giáo rồi. Thế nhưng vì hoàn cảnh thiếu nhân sự, thiếu phưong tiện cho nên ước mơ của ngài vào lúc ngài qua đời cũng chưa thực hiện được.
Kế vị ngài là Đức cha Perros, trong thời đức cha Perros (1909-947), việc truyền giáo tại Thái được tiếp tục phát triển và lan rộng hơn. Do vậy, Tin Mừng được đến tới với các vùng Tây Bắc Thái như Chieng Mai, Chieng Rai, và Lampang tại Miền Bắc Thái, rồi lan cả tới Nakorn Ratchasima. Trong giao đoạn này có thể nói sứ điệp Tin Mừng của Chúa Giêsu đã được lan ra trên toàn cõi Thái Lan.
Bước sang thế kỷ 20, công việc truyền giáo tại Thái có thẻ nói là chậm lại và đôi khi bị gián đoạn nữa. Miền Tây Nam của Thái trở thành vủng Truyền giáo độc lập vào năm 1930 và trở thành Giám quản Tông Tòa Ratchaburi được trao cho các Linh mục Dòng Salêdiêng trông coi. Vào ngày 28.5.1934 và đến ngày 18.12.1965 trở thành Giáo phận.
Đại Diện Tông Tòa Chiengmai được thành lập năm 1960 và cũng vào ngày 18.12.1965 được nâng lên hàng giáo phận.
Trong thế kỷ 20, nhiều Dòng Tu nam nữ đã tới làm việc tại đây và danh xưng chính thức của Thái Lan được biếtg đến với tên chính thức là Thái Lan, đất nước của những người tự do.
Trong số các Dòng đến Thái Lan hoạt động có: Dòng nữ tu Ursulines thuộc Liên Hiệp Roma, Dòng Kín Carmelô, Dòng Salesiêng, Dòng Các Nữ Tu Đức Mẹ Hay Giúp các Tín Hữu, Dòng Nữ tu Phanxicô Capuchinô, Dòng Chúa Cứu Thế, Dòng các Cha Carmelô, Dòng Các Cha thừa sai Betharram, Dòng Sư buynh La Salle, Dòng Stigmatines, Dòng Tên, Dòng các Nữ tu Chúa Hài Đồng, Dòng Các Cha S.A.M., Dòng Oblates of Mary Immaculate, và rất nhiều Dòng giáo phận gọi chung là các Nữ Tu Mến Thánh Giá.
Qua lòng nhiệt thành của các giám mục và các vị thừa sai, Giáo hội Thái Lan phát triển đáng kể, nên Thánh Bộ Truyền Giáo nhận định rằng đã đến lúc chín mùi để thành lập Hàng Giáo Phẩm tại Thái Lan, ý kiến này được 2 vị Đại Diện Khâm Sứ Tòa Thánh Thái Lan đó là Đức cha John Gordon và Đức cha Angelo Pedroni nhiệt liệt tán thưởng. Vì vậy vào ngày 18.12.1965 Đức Thánh Cha đã thiết lập hai Tòa Tổng Giám Mục tại Thái Lan đó là Tòa Tổng Giám Mục Bangkok và Tòa Tổng Giám Mục Thare Nongseng và bổ nhiệm 2 tổng giám mục đầu tiên bản xứ người Thái Lan.
Cũng vào giai đoạn này có rất nhiều thay đổi xã hội và chính trị, đặc biệt tại thủ đô Bangkok. Hậu quả là Giáo Hội tại Thái cũng cảm thấy mình có trách nhiệm thêm hầu đáp những những nhu cầu mới đang nẩy sinh nhiều và trong nhiều lãnh vực khác nhau, đặc biệt trong lãnh vực an sinh và phát triển xã hội.
Các cuộc chiến tranh tại các quốc gia lân cận đã tạo nên thảm cảnh người di cư, do đó Giáo Hội tại Thái đã cộng tác rất nhiều trong việc giúp dân tị nạn đến từ các quốc gia Lào, Cam-bốt và nhất là Việt Nam sau biến cố 1975. Giáo hội Thái muốn giúp chính quyền Thái trong công tác cứu trợ di cư bàng cách đã thiết lập nên tổ chức có tên COERR (Văn Phòng Công giáo cho việc Cứu Trợ khẩn cấp Người Di Cư -- Catholic Office for Emergency Relief and Refugees). Những nỗ lực này nhằm bảo vệ những giá trị của đời sống và đương đầu với những khó khăn gây nên bởi làn sóng di cư tràn vào Thái.
Trong 2 ngày 10 và 11 tháng 5 năm 1984, ĐTC Gioan Phaolô II đã thăm Thái Lan trong cuộc tông du ngắn. Sự hiện diện của Đức Thánh Cha đã làm cho Giáo Hội Thái rất hãnh diện dù với số người Công giáo chưa được một nửa phần trăm dân số, nhưng tạo cơ hội để người Thái Lan có dịp chiêm ngưỡng và gặp gỡ với Đức Thánh Cha.
Ngày 22.10.1989 vị Tử đạo của Thái Lan là Thầy giảng Philip Siphong Onphitak và 6 bạn Tử Đạo được phong Chân Phước. Các vị này bị sát hại vào năm 1940 vì bị tình nghi là làm gián điệp cho Pháp quốc.
Ngày nay Giáo Hội Thái Lan có tất cả 10 giáo phận bao gồm 2 Tòa Tổng giám mục là TGM Bangkok và Thare Nonseng. Giáo Hội Thái có Hội Đồng Giám Mục Thái Lan để lo đường hướng mục vụ chung cho dân Thái Lan. Dân số Thái Lan hiện nay chừng 65 triệu người trong số đó chỉ vỏn vẹn có 250.000 người Công giáo, nghĩa là chứa tới 0.4% Thế nhưng Giáo Hội tại Thái Lan rất hãnh diện vì hệ thống Giáo dục Công giáo của mình. Các trường Công giáo từ tiểu học đến trung học do các Dòng Tu phụ trách rất được trân trọng tại Thái. Đa phần các con cái người khá giả đều cho con theo học trường Công giáo vì tin tưởng vào hệ thống giáo dục kỉ luật và phương pháp giáo dục lành mạnh của Giáo dục Công giáo. Thứ đế phải kể về các dịch vụ xã hội như lo cho người nghèo, mở viện đưỡng lão và nhà thương, giúp cho nạn nhân bệnh AIDS,v.v...
Ngoài những thành quả nêu trên, Giáo Hội Thái còn phải quan tâm tới đời sống của dân nghèo trong các làng mạc xa xôi nơi mà thiếu những phương tiện giáo dục và chăm lo sức khỏe.
Nạn buôn bán trẻ em và nạn mãi dâm và kỹ nghệ tình dục phát triển rất mạnh tại Thái Lan. Đây là những vấn đề mà Giáo Hội Thái cũng cần có sách lược đối đầu một cách công khai và trực tiếp.
Hiện nay vì tình trạng kinh tế của Thái Lan đang tiến triển rất nhanh và rất tốt do đó cũng lôi cuốn các người công nhân đến từ các quốc gia khác. Theo con só chính phủ cho biết mới nhất vào năm 2006 có tới trên 2 triệu người di dân bất hợp pháp làm việc tại Thái Lan. Trong số này có tới 80-90% là người Miến Điện, và sau đó là người Lào, người Cam bốt và trong 4 hay 5 năm trở lại đây có cả số đông người Việt trốn sang đây tìm sinh kế. GẦn đây chính quyền Thái Lan cho ngưòi di dân bất hợp lệ được ghi danh làm “khách lao công” để làm việc tại Thái, và thường thì họ phải làm việc vất vả, lương trfả hạ, và trong những điều kiện sinh hoạt rất khó khăn. Nhưng cả hai phía đều có lợi cho nên chính phủ Thái cũng tỏ ra khoan dung hơn đối với người di dân các nước láng diềng. Tuy nhiên đối với người Việt Nam thì lại là truyện khác, chính quyền Thái không nhận di dân Việt Nam và cũng không có sách lược nào cho phép người lao công được vào Thái làm việc. Do vậy các người lao công trốn sang làm việc tại Thái phải chấp nhận làm giấy giả là người Lào hoặc Miến Điện mới được ở lại làm việc và đôi khi bị khám phá ra vẫn bị đuổi về nước. Đời sống sinh hoạt xã hội, tâm lý và tinh thần của những người bạn trẻ lao công này thực hết sức khó khăn khi mà họ không được chút gì bảo vệ về quyền lợi của mình như là một lao công hay là ngưòi di dân.
(viết từ Bangkok ngày 23.1.2007)
Tài liệu tham khảo:
- Catholic Church in Thailand, documents by Catholic Bishops Conference of Thailand
- A Brief History Of The Catholic Church In Thailand by Fr. Surachai Chumsripha, 2006
- Debavalya N. “Population control, distribution, and manpower problems of Thailand.” 1981.
- National Statistics Office of Thailand web.nso.go.th/eng/index.htm.
- Thaned Aphornsuvan, “Coups and the Military in Thai Politics”
- Cynthia Buiza “The devil and the deep blue sea-The Plight of Burmese Migrant Workers in Thailand”
- Pasuk Phongpaichit and Chris Baker, Thailand’s “Boom and Bust”
- Frances Suselo “At Home or Abroad, Migrant Workers Get Abused” from Suthiphand Chirathivat and Sothitorn Mallikamas.