Kính thưa Quý Ngài,

Quý bà và quý ông thân mến,


Tôi vui mừng chào đón tất cả quý vị tới dự buổi gặp gỡ truyền thống giữa vị Giáo Hoàng và Ngoại Giao Đoàn cạnh Tòa Thánh. Sau khi cử hành đại lễ Giáng Sinh và lễ Hiển Linh, Giáo Hội tiếp tục kín múc sức sống từ niềm hân hoan những ngày lễ này mang đến: niềm hân hoan này thật lớn lao vì nó phát xuất từ sự hiện diện của Đấng Emmanuel – Thiên Chúa ở cùng chúng ta – nhưng niềm hân hoan này cũng lặng lẽ kín đáo, vì nó được cảm nghiệm trong bối cảnh của Thánh Gia, với sự giản dị và gương mẫu mà Giáo Hội đang làm sống lại cách thâm sâu trong thời điểm này. Tuy nhiên, đó cũng là một niềm vui phải được truyền đạt, vì một niềm vui đích thật sẽ lụi tàn khi bị cô lập. Vì thế tôi xin gởi đến quý vị Đại Sứ, đến toàn thể nhân dân và chính quyền mà quý vị xứng đáng đại diện, đến gia đình thân yêu và đồng nghiệp của quý vị niềm vui Giáng Sinh. Xin cho niềm vui này là niềm vui của tình huynh đệ đại đồng đem đến bởi Đức Kitô, một niềm vui phong phú với những giá trị đích thật, được chia sẻ công khai và quảng đại, xin niềm vui này ở lại với quý vị và triển nở mỗi ngày trong năm vừa bắt đầu.

Ngài Niên Trưởng của quý vị vừa chuyển lời chào và những lời chúc của Ngoại Giao Đoàn, diễn tả thật đẹp tình cảm của quý vị. Tôi xin gởi đến ngài và quý vị lời cám ơn. Ngài cũng đề cập đến một số vấn đề nghiêm trọng đang đè nặng thế giới hôm nay. Đó là những vấn đề gây ưu tư cho quý vị cũng như cho Tòa Thánh và Giáo Hội Công Giáo trên toàn cầu, một Giáo Hội liên đới với mọi hình thức của khổ đau, với mỗi tia hy vọng và với mọi nỗ lực luôn hiện diện trong lịch sử nhân loại. Vì thế chúng ta cảm thấy hiệp nhất như trong cùng một sứ vụ chung đang phải cùng đối phó, một sứ vụ với những thách đố mới mẻ và đầy gian nan. Tuy nhiên, chúng ta đề cập đến những vấn đề này với sự tự tin, với lòng nhiệt thành nâng đỡ nhau – mỗi người với trách nhiệm riêng của mình – trên con đường hướng đến những mục tiêu chung.

Tôi đã đề cập đến "sứ vụ chung" của chúng ta. Và sứ vụ chung này là gì nếu không phải là sứ vụ hòa bình? Nghĩa vụ của Giáo Hội không gì khác hơn là truyền bá sứ điệp của Đức Kitô, Đấng đã đến - như Thánh Phaolô viết trong Thư gởi giáo đoàn Êphêsô - để công bố hòa bình cho khắp mọi người gần xa (x 2:17). Và quý vị đây, những Đại Diện Ngoại Giao đáng kính của nhân dân các nước, theo hiệp ước dành cho ngành ngoại giao (Công Ước Vienna về Quan Hệ Ngoại Giao), có những mục tiêu cao cả phải theo đuổi trong đó có nghĩa vụ đề cao quan hệ thân hữu quốc tế. Trên nền tảng này, hòa bình đích thực có thể được triển khai.

Hòa bình, than ôi, đang bị ngăn trở, phương hại hay bị đe dọa ở nhiều miền trên thế giới. Con đường nào dẫn đến hòa bình đây? Trong Thông Điệp được đưa ra nhân Ngày Hòa Bình Thế Giới, tôi đã nói: "bất cứ nơi đâu và khi nào những người nam nữ được soi sáng bởi ánh huy hoàng của sự thật, tự nhiên họ sẽ bước đi trên con đường hòa bình" (số 3) Trong Sự Thật, có Hòa Bình.

Trong thế giới hôm nay, bên cạnh những cảnh tượng xung đột vũ trang, công khai hay âm thầm, hay có vẻ như đã được giải quyết, tạ ơn Chúa là ta có thể thấy nỗ lực can đảm và kiên trì về phía nhiều cá nhân và tổ chức nhằm nâng đỡ hòa bình. Khi suy tư về tình trạng này, tôi muốn đưa ra một số suy nghĩ được chia thành một vài điểm đơn giản trong chiều hướng khích lệ lẫn nhau.

Điểm thứ nhất: dấn thân cho sự thật là linh hồn của công lý. Những ai dấn thân cho sự thật không thể không từ khước luật mạnh được yếu thua, là điều dựa trên sự dối trá đã từng ghi dấu quá thường trong lịch sử nhân loại với những thảm kịch trong phạm vi quốc gia cũng như quốc tế. Sự dối trá thường tự huênh hoang như là sự thật, nhưng thực tế nó luôn được chọn lọc, thiên vị, ích kỷ, được đề ra hòng lèo lái con người và cuối cùng là khống chế họ. Những hệ thống chính trị trong quá khứ, và không chỉ trong quá khứ mà thôi, đưa ra một minh họa cay đắng về điều này. Đối nghịch lại với điều này là sự thật và thẳng thắn, là điều dẫn đến sự gặp gỡ lẫn nhau, dẫn đến sự nhìn nhận và thông cảm: thông qua ánh quang huy hoàng làm nổi bật nó - splendor veritatis (ánh quang chân lý) - sự thật không thể không truyền bá; và lòng yêu mến sự thật tự bên trong đã hướng đến công lý, đến sự hiểu biết khách quan, và quan hệ thân ái, dù khó khăn đến đâu đi nữa.

Trong các mối quan hệ quốc tế cũng vậy, kinh nghiệm của các ngài như những nhà ngoại giao có thể xác nhận rằng qua việc tìm kiếm sự thật, ta có thể chỉ ra những sắc thái tế nhị nhất của tính đa đạng, và những đòi hỏi mà chúng đưa ra, và từ đó có thể thấy những giới hạn cần phải được tôn trọng và không được vi phạm, nhằm bảo vệ mọi quyền lợi hợp pháp. Việc tìm kiếm sự thật này đồng thời cũng dẫn các ngài đến sự khẳng định mạnh mẽ điều gì là chung nhất, gắn bó với chính bản chất của con người, của các dân tộc và các nền văn hóa, và điều đó phải được tôn trọng cách bình đẳng. Và khi những khía cạnh của tính đa dạng và sự bình đẳng – khác biệt nhưng bổ sung cho nhau - được thấu hiểu và nhìn nhận, thì các vấn nạn có thể được giải quyết, các bất đồng có thể được đả thông cách công bằng, và sự hiểu biết sâu sắc và lâu dài lẫn nhau có thể đạt được. Mặt khác, khi một trong những điều trên bị diễn dịch sai hay không được đặt đúng vị thế quan yếu của nó, thì hiểu nhầm nổi lên cùng với tranh chấp và cơn cám dỗ sử dụng bạo lực trấn áp nhau.

Theo tôi nghĩ, có một minh họa gần như tiêu biểu cho những suy tư này tại điểm quan yếu của hiện tình thế giới là Thánh Địa. Nơi đó, Nhà Nước Do Thái phải được hiện hữu cách hòa bình theo những quy định của công pháp quốc tế; nơi đó, cũng thế, người dân Palestine phải có thể phát triển trong yên vui những cơ chế dân chủ của họ cho một tương lai tự do và thịnh vượng.

Những suy tư này được áp dụng rộng rãi hơn nữa trong bối cảnh toàn cầu hiện nay, nơi cần đến sự chú ý thích đáng về nguy cơ của một cuộc xung đột giữa các nền văn minh. Nguy hiểm càng trở nên nghiêm trọng hơn bởi chủ nghĩa khủng bố có tổ chức, đã lan tràn khắp toàn cầu. Nguyên nhân của nó rất nhiều và phức tạp, chưa kể đến những yếu tố liên quan đến chủ thuyết chính trị phối hợp với những ý tưởng tôn giáo bất thường. Khủng bố không ngần ngại tấn công những người vô phương tự vệ, không cần phân biệt ai với ai, cũng không ngần ngại đưa ra những đe dọa vô nhân đạo nhằm gây hoang mang trên toàn thể nhân loại hầu khuất phục các nhà lãnh đạo chính trị phải ủng hộ những toan tính của những kẻ khủng bố. Không có gì có thể biện minh cho hoạt động tội ác như thế, là điều làm ô danh những kẻ chủ mưu, và điều này còn ghê tởm hơn tất cả khi nó được ngụy trang dưới danh nghĩa tôn giáo, qua đó hạ thấp công lý tinh tuyền của Thiên Chúa xuống mức ngang hàng với sự mù quáng và thứ luân lý sai lầm của những kẻ khủng bố.

Sự dấn thân cho sự thật trong các sứ vụ ngoại giao, ở mức song phương cũng như ở mức đa phương, có thể đem lại một đóng góp thiết yếu cho việc hòa giải những khác biệt không thể phủ nhận được giữa các dân tộc đến từ các miền khác nhau và từ các nền văn hóa khác biệt trên thế giới, không chỉ trong sự cùng tồn tại tương nhượng, nhưng còn đạt đến một mức độ nhân bản cao hơn và phong phú hơn. Trong những thế kỷ qua, những trao đổi văn hóa giữa Do Thái và Hy Lạp, giữa thế giới La Mã, thế giới Đức và thế giới Slav, giữa thế giới Ả rập và thế giới Âu Châu, đã làm giàu cho văn hóa và tạo điều kiện cho các ngành khoa học và các nền văn minh. Ngày nay, điều này lẽ ra cũng phải như thế và thậm chí còn ở mức độ cao hơn, vì những khả năng trao đổi và thông cảm lẫn nhau thuận lợi hơn rất nhiều. Để được như thế, điều cần thiết nhất là phải gỡ bỏ mọi thứ ngăn cản việc truy nhập thông tin, qua báo chí và qua các kỹ thuật thông tin tiên tiến, cộng với một sự gia tăng trong việc trao đổi giữa các nhà khoa bảng và các sinh viên từ các phân khoa nhân văn của các trường đại học ở những miền văn hóa khác nhau.

Điểm thứ hai mà tôi muốn đưa ra là điều này: sự dấn thân cho sự thật thiết lập và tăng cường quyền tự do. Sự vĩ đại độc đáo của con người dựa tối hậu vào khả năng thấu hiểu sự thật. Và loài người thì ao ước biết được sự thật. Tuy nhiên, sự thật chỉ có thể đạt được trong điều kiện tự do. Đây là trường hợp của mọi sự thật, như đã rõ ràng trong lịch sử khoa học; nhưng còn rõ nét hơn thế nữa trong trường hợp của những sự thật trong đó chính con người là trọng tâm, những sự thật về tinh thần, về thiện ác, về những mục tiêu cao cả và những chiều kích của đời sống, về quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Những sự thật này không thể nào đạt được mà không có những hệ quả sâu sắc trong lối sống của chúng ta. Và một khi những sự thật này được thủ đắc tự do, đến lượt chúng đòi hỏi một bầu khí rộng rãi của tự do nếu ta muốn sống theo những sự thật này một cách có ích cho mỗi chiều kích của đời sống con người.

Đây là nơi mà hoạt động của mỗi Quốc Gia, và hoạt động ngoại giao giữa các Quốc Gia đương nhiên phải đóng một vai trò.Trong sự phát triển của công pháp quốc tế ngày nay, càng ngày càng rõ ràng rằng không Nhà Nước nào có thể thấy cứ việc lờ đi nghĩa vụ bảo đảm các điều kiện tự do thích hợp cho công dân của mình mà không e sợ phương hại đến uy tín khi đề cập đến các vấn nạn quốc tế. Và chính vì thế: để bảo vệ những quyền vốn thuộc con người, những quyền được bảo đảm rộng rãi trên trường quốc tế, ta đương nhiên phải dành vị thế quan trọng chủ yếu cho việc bảo vệ những quyền tự do trong phạm vi từng Quốc Gia, trong đời sống công tư, trong các quan hệ kinh tế và chính trị, và trong các bầu khí văn hóa và tôn giáo.

Về phương diện này, chính các ngài nhận thức rõ ràng rằng tự chính bản chất của mình, hoạt động ngoại giao của Tòa Thánh quan tâm đến việc thăng tiến khía cạnh tự do tôn giáo cùng với những hình thức tự do khác. Chẳng may, trong một số Quốc Gia, ngay cả ở những nước có thể tự hào về những truyền thống văn hóa hàng trăm năm của mình, quyền tự do tôn giáo, không những không được bảo đảm, mà còn bị chà đạp nghiêm trọng, đặc biệt đối với những khối thiểu số. Nơi đây, tôi chỉ muốn đơn giản nhắc lại điều đã được xác quyết một cách hết sức minh bạch trong Tuyên Ngôn Quốc Tế Nhân Quyền. Những nhân quyền căn bản là như nhau ở mọi miền, và trong số những quyền đó, quyền tự do tôn giáo là ưu tiên hàng đầu, vì nó liên quan đến những quan hệ tối quan trọng của con người: đó là quan hệ của chúng ta với Thiên Chúa. Với những ai chịu trách nhiệm về đời sống các Nước, tôi muốn khẳng định rằng: nếu các vị không sợ sự thật, các vị không cần gì phải sợ tự do! Tòa Thánh trong khi kêu gọi tự do cho Giáo Hội Công Giáo khắp nơi, cũng kêu gọi tự do cho mọi người.

Tôi xin bước sang điểm thứ ba: dấn thân cho sự thật mở đường cho tha thứ và hòa giải. Liên hệ cần thiết giữa hòa bình và sự dấn thân cho sự thật dẫn đến một sự phủ nhận về điều cho rằng: những xác tín khác nhau về sự thật gây ra những căng thẳng, hiểu nhầm, tranh cãi, và những xác tín bên trong càng sâu xa bao nhiêu, tình hình càng nghiêm trọng bấy nhiêu. Trong lịch sử, những dị biệt này đã gây ra những cuộc xung đột bạo động, những tranh chấp xã hội và chính trị, và ngay cả những cuộc thánh chiến. Điều này đúng không thể chối cãi được, nhưng trong mỗi trường hợp, đó là hệ quả của hàng loạt những nguyên do xảy đến đồng thời, không liên can gì đến sự thật hay tôn giáo, và luôn luôn là như thế, bởi vì những phương tiện được sử dụng không hề thích hợp với sự dấn thân chân thành cho sự thật, và cũng chẳng thích hợp với sự tôn trọng tự do mà sự thật đòi hỏi phải có. Bất cứ nơi đâu chính Giáo Hội Công Giáo được đề cập đến với hàng loạt những sai phạm trong quá khứ bởi các thành viên và các cơ chế, Giáo Hội đều lên án những sai phạm này và đã không ngần ngại xin tha thứ. Dấn thân cho sự thật đòi phải có tâm tình này.

Xin tha thứ và thứ tha là những yếu tố cần thiết cho hòa bình, trong đó thứ tha là điều giống hệt như một bổn phận - vì mọi người đều được bao gồm trong lời cảnh cáo của Chúa: ai trong các người sạch tội hãy ném đá người này trước! (x Ga 8:7). Trong cách thế đó, ký ức chúng ta được thanh tẩy, tâm hồn chúng ta được bình yên, và tia nhìn của chúng ta rõ ràng dõi theo điều mà sự thật đòi buộc nếu chúng ta muốn gieo cấy những ý tưởng hòa bình. Ở đây, tôi muốn nhắc đến những lời nói tỏa sáng của Đức Gioan Phaolô II: "Không có công lý thì không có hòa bình, không có thứ tha thì không có công lý" (Thông điệp Ngày Hòa Bình Thế Giới năm 2002). Tôi lặp lại những lời này cách khiêm nhường cùng với một lòng mến sâu sắc với các nhà lãnh đạo các quốc gia, đặc biệt với những ai mà các vết thương thể lý và luân lý của những cuộc xung đột vẫn còn rất nhức nhối, và những ai mà nhu cầu hòa bình đang thật hết sức cấp bách. Ta nghĩ ngay đến nơi sinh của Đức Giêsu Kitô, Hoàng Tử của Bình An, Đấng có thông điệp hòa bình và tha thứ cho tất cả mọi người; ta nghĩ đến Li Băng, nơi dân chúng cần phải tái khám phá, với sự giúp đỡ của tình liên đới quốc tế, ơn gọi lịch sử của họ là thăng tiến sự hợp tác chân thành và sinh hoa kết quả giữa các cộng đồng tôn giáo khác nhau; ta nghĩ đến toàn thể vùng Trung Đông, đặc biệt là Iraq, cái nôi của những nền văn minh lớn, mà trong những năm qua đang phải hứng chịu hàng ngày những đau khổ do những hành vi khủng bố. Ta nghĩ ngay đến Phi Châu, đặc biệt các quốc gia trong vùng Đại Hồ, vẫn còn đang chịu ảnh hưởng bởi những hậu quả bi đát của những cuộc chiến tranh huynh đệ tương tàn trong những năm gần đây; ta nghĩ đến những người vô phương tự vệ tại Dafur, nạn nhân của bạo lực khủng khiếp, với những di lụy quốc tế nguy hiểm; và nghĩ đến quá nhiều những quốc gia khắp nơi trên thế giới đang là sân khấu của xung đột võ lực.

Chắc chắn rằng một trong những mục tiêu cao cả của ngành ngoại giao là đưa các bên xung đột đến nhận thức rằng nếu họ chấp nhận sự thật, họ phải nhìn nhận những sai lầm – và không chỉ những sai lầm của người khác – họ cũng không thể từ khước mở lòng ra để xin tha thứ và để thứ tha. Dấn thân cho sự thật – là điều chắc chắn gần gũi với tâm tư của họ, dẫn dắt họ, thông qua tha thứ để đi đến hòa bình. Máu đổ không thể kêu gào trả oán nhưng van xin sự tôn trọng mạng sống và hòa bình. Cầu xin cho Ủy Ban Kiến Tạo Hòa Bình vừa được thành lập gần đây tại Liên Hiệp Quốc đáp ứng có hiệu quả khát vọng căn bản này của nhân loại, với sự hợp tác sẵn sàng của các bên hữu quan.

Và giờ đây, thưa Quý Ngài, tôi muốn đưa ra một điểm sau cùng: dấn thân cho hòa bình mở ra những hy vọng mới. Điều này, trong một nghĩa nào đó, là kết luận hợp lý của những gì tôi vừa nêu. Con người có thể nhận ra sự thật! Con người có khả năng này khi đề cập đến những vấn đề lớn về bản thể và hành vi: trong tư cách cá nhân cũng như trong tư cách là một thành viên xã hội của một quốc gia đơn lẻ hay của cả cộng đồng nhân loại. Hòa bình, điều mà họ có thể và phải theo đuổi không chỉ là sự im tiếng súng; nó còn hơn thế nữa, nó phải là thứ hòa bình khích lệ những năng lực mới trong các quan hệ quốc tế để rồi chính những năng lực này lại trở nên một phương tiện duy trì hòa bình. Nhưng điều này chỉ xảy ra nếu chúng theo đúng sự thật về con người và phẩm giá của con người. Thành ra, ta không thể nói về hòa bình trong những tình huống nơi nhân loại đang thiếu những nhu cầu căn bản để sống đúng phẩm giá của mình.Ở đây suy tư của tôi hướng đến cơ man những người đang chịu đói. Họ không thể được xem là đang sống trong hòa bình, dẫu rằng họ đang không ở trong tình trạng chiến tranh: họ thực sự là những nạn nhân không phương thế tự vệ của chiến tranh. Trí tôi lập tức hiện ra những hình ảnh của những trại tạm cư khổng lồ trên toàn thế giới dành cho người tản cư và người tị nạn, những người đang phải sống trong những điều kiện bấp bênh tuy tránh được một số phận thê thảm hơn, họ vẫn còn đang rất hết sức túng quẫn. Những người này không phải là anh chị em chúng ta sao? Chẳng lẽ con cái họ không đến thế giới này với cùng những ước mong hạnh phúc chính đáng như các trẻ em khác? Ta cũng nghĩ đến tất cả những ai vì hoàn cảnh sống quá tệ đã phải di cư xa xôi cách biệt quê hương và gia đình với hy vọng về một cuộc sống nhân bản hơn. Chúng ta cũng không thể lờ đi dịch buôn bán người vẫn còn là một nỗi nhục trong thời đại chúng ta.

Đối diện với "những tình trạng khẩn cấp về nhân đạo này" và những thảm kịch khác của nhân loại, nhiều người thiện chí, cùng với những cơ chế quốc tế khác nhau và các tổ chức phi chính phủ, thực sự đã đáp trả. Nhưng cần có một nỗ lực lớn lao hơn từ toàn thể cộng đồng ngoại giao nhằm khẳng định trong sự thật, và để vượt qua với can đảm và lòng quảng đại những chướng ngại vẫn đang chắn lối cho những giải pháp hiệu quả và nhân bản. Sự thật cũng đòi buộc rằng không một Quốc Gia phú cường nào có thể từ khước trách nhiệm và nghĩa vụ của mình phải trợ giúp các nước khác bằng cách trích ra từ những tài nguyên của chính mình cách quảng đại hơn nữa.Trên cơ sở những số liệu thống kê có trong tay, có thể nói rằng chưa tới một nửa những con số khổng lồ chi phí trên thế giới cho võ trang đã quá dư để giải phóng cơ man những người nghèo khỏi số phận đen tối. Điều này thách thức lương tâm con người. Tình trạng nhiều người phải sống dưới mức nghèo đói phần lớn là hậu quả của những quan hệ quốc tế về chính trị, thương mại và văn hóa hơn là của những tình huống không kiểm soát được, dấn thân chung của chúng ta cho sự thật có thể và phải đem lại hy vọng mới.

Các Ngài thân mến!

Trong mầu nhiệm Giáng Sinh của Chúa Kitô, Giáo Hội thấy những lời tiên tri trong Thánh Vịnh được viên mãn: "Tín nghĩa ân tình nay hội ngộ, hoà bình công lý đã giao duyên. Chân lý trổ sinh từ đất thấp, công lý nhìn xuống tự trời cao" (Thánh Vịnh 85:10-11). Trong lời bàn dành cho những lời hứng khởi này, Giáo Phụ Augustinô, khi tuyên xưng đức tin của toàn thể Giáo Hội, đã thốt lên: "Chân lý thực đã trổ sinh từ đất thấp: Đức Kitô, Đấng đã tự mạc khải về Ngài 'Ta là Sự Thật', đã được sinh ra bởi Đức Nữ Đồng Trinh" (Sermo 185).

Giáo Hội luôn kín múc sức sống từ chân lý này, nhưng trong giai đoạn của năm phụng vụ này, Giáo Hội thấy nơi đây một nguồn mạch đặc biệt của ánh sáng và hân hoan. Và trong ánh quang của sự thật này, xin cho những lời của tôi dành cho quý vị, những người đại diện cho hầu hết các quốc gia trên thế giới, là một diễn tả của xác tín và hy vọng: Trong Sự Thật, có Hòa Bình.

Trong tinh thần này, tôi cầu chúc tất cả quý vị những lời chúc chân thành tốt đẹp nhất cho một Năm Mới.

+ Đức Giáo Hoàng Bênêđíctô XVI