Ảnh hưởng của tôn giáo đối với sức khỏe của con người

NEW YORK (Zenit.org).- Niềm tin vào tôn giáo không chỉ tốt cho sức khỏe tâm linh của chúng ta, mà còn mang lại những ảnh hưởng tích cực cho cơ thể. Những cuộc nghiên cứu cho thấy, việc cầu nguyện hay việc tham gia thường xuyên vào các hoạt động / nghi thức tôn giáo có thể giúp ích cho sức khỏe của những người có niềm tin.

Không phải ai cũng đều đồng ý với những cuộc nghiên cứu như vậy. Một số nhà nghiên cứu chỉ ra những thất bại có liên quan đến phương pháp luận trong nhiều cuộc nghiên cứu khác nhau khi cố đưa ra một sự tương quan giữa tôn giáo và những ích lợi của nó đến sức khỏe. Thậm chí chính những cuộc nghiên cứu đó cũng đã cảnh cáo rằng thật khó để mà chỉ ra một cách chính xác về mối quan hệ giữa hai thành tố trên.

Thế nhưng, dẫu có là thế, thì những bản báo cáo cho thấy những ảnh hưởng tích cực giữa tôn giáo và sức khỏe con người, là có thật và mang một tầm quan trọng đáng kể. Vào ngày 6 tháng 9 vừa qua, trên trang web của Bản Thông Tin Thần Học và Khoa Học (Science and Theology News) đã tường thuật rằng những nhà nghiên cứu Canada và Israel đã tìm ra rằng việc thực hành tôn giáo có thể giúp làm giảm sự phát triển của căn bệnh Alzheimer (căn bệnh mất trí nhớ của những người lớn tuổi).

Bác Sĩ Yakir Kaufman, tác giả của cuộc nghiên cứu, đồng thời cũng là giám đốc khoa thần kinh học của Bệnh Viện Sarah Herzog ở thành phố Giêrusalem nói: “Chúng tôi đã học biết được rằng những bệnh nhân Alzheimer nào rất sốt sắng và sùng đạo cao độ thì việc đó đã làm giảm thiểu đáng kể sự phát triển của việc làm giảm dần tính nhận thức (slower progression of cognitive decline).”

Kết quả trên đã được trình bày tại phiên họp hằng năm năm 2005 của Viện Hàn Lâm Chuyên Về Thần Kinh Học Hoa Kỳ (American Academy of Neurology). Bác Sĩ Michael Rayel, trưởng khoa tâm thần học tại Bệnh Viện Bác Sĩ G.B. ở thành phố Clarenville thuộc Newfoundland đã nhận xét thêm rằng: “Công trình này tương xứng với những nghiên cứu mới đây cho thấy việc cầu nguyện, việc hướng về tâm linh hay thắc mắc về tôn giáo cũng tương đồng với việc có được sức khỏe lành mạnh hơn về tâm lý lẫn thể lý.”

Những nhà nghiên cứu đánh giá 68 người ở độ tuổi từ 49 đến 94. Dữ liệu tìm được cho thấy rằng càng say sưa tìm hiểu về tôn giáo cũng như càng sốt sắng thể hiện đức tin bao nhiêu, thì việc đó càng làm giảm đi phát triển của việc làm giảm dần tính nhận thức.

Giáo sư chuyên về X-quang học, Bác Sĩ Andrew Newberg của trường Đại Học Pennsylvania cẩn trọng nói rằng: cho dẫu là hoạt động về tâm linh có làm chậm đi sự phát triển của căn bệnh Alzheimer một cách hiệu quả hơn những dạng hoạt động về thần kinh khác hay không, thì đó vẫn còn là một câu hỏi đáng giá $64,000.

Bác Sĩ nói tiếp: “Một trong những câu hỏi lớn là liệu các nhà nghiên cứu có thể phân biệt được đâu là những ảnh hưởng tích cực của tâm linh so với những hoạt động khác hay không.”

Theo tường thuật của tờ báo Chicago Sun-Times vào ngày 14 tháng 4 cho hay: tại một cuộc họp tương tự của một nhóm những nhà nghiên cứu khác, đến từ trường Đại Học Chicago, đã báo cáo rằng, những người Mỹ gốc Phi Châu nào mạnh mẽ tin tưởng vào Thiên Chúa, thì sẽ ít bị mắc phải chứng bệnh trầm cảm (depress) hơn là những người không có niềm tin. Cũng trong dòng nghiên cứu đó, Bác Sĩ Harold Koenig thuộc Trung Tâm Nghiên Cứu Về Tâm Linh của trường Đại Học Duke, nói: “tôn giáo giúp đưa ra được một ý thức về niềm hy vọng, hòa bình và sự khỏe mạnh, và đổi lại, nó giúp làm giảm những hóc môn gây ra sự căng thẳng vốn có nguy hại cho sức khỏe.”

Tuy nhiên, bài viết trên tờ Sun-Times cũng trích dẫn sự nghi ngờ của Bác Sĩ Richard Sloan thuộc trường Đại Học Columbia về những bài báo cáo trên. Ông nói rất nhiều cuộc nghiên cứu về tôn giáo và sức khỏe “chứa đựng nhiều lổ hõng về phương pháp luận vốn dẫn đến những kết luận mang tính sai lầm.”

Đức Tin và Các Trường Đại Học Y (Faith and Medical Schools)

Thế nhưng, theo trang web của Hội John Templeton (John Templeton Foundation), thì khả năng về ảnh hưởng tích cực được đón nhận đã ít nhiều gây được sự chú ý của các bác sĩ. 2/3 trong tổng số 125 trường Đại Học Y tại Hoa Kỳ bây giờ có thêm các khóa học về đức tin và tâm linh, so với việc trước đây chỉ có 3 trường có những môn học đó vào năm 1992 mà thôi.

Tổ chức này chuyên tài trợ cho những cuộc nghiên cứu trong lãnh vực sức khỏe và tâm linh, cũng như trao các phần thưởng bằng tiền hằng năm cho các trường Đại Học Y của Hoa Kỳ nhằm khuyến khích sự phát triển, việc giảng dạy và đánh giá các khóa học nghiên cứu đến vai trò tổng thể của đức tin và tâm linh trong việc chăm sóc bệnh nhân.

Tờ Wall Street Journal báo cáo vào ngày 3 tháng 5 vừa qua cho hay: có một số cuộc nghiên cứu cho thấy có sự giảm thiểu chung về nguy cơ đột tử đối với những ai tham dự các nghi thức tôn giáo ít nhất là một lần trong tuần. Tuy nhiên kết quả của những cuộc nghiên cứu này ít được chú ý nhiều vì sự dè dặt trong số các khoa học gia, như là bài báo đã ra viết như vậy.

Tuy nhiên, vấn đề này cũng đã khiến cho một chuyên gia luôn có tính hoài nghi là Lynda Powell, cũng phải thay đổi ý kiến. Powell, một giáo sư chuyên về y học dự phòng (preventive medicine) thuộc trung tâm y tế của trường Đại Học Rush ở thành phố Chicago, và Bà không phải là người thường hay đi đến nhà thờ, vào năm 2001 Bà đã được Viện Sức Khỏe Học Quốc Gia (National Institutes of Health) yêu cầu dẫn đầu một nhóm gồm 3 khoa học gia rà xét lại những tài liệu y khoa nói về sự liên kết giữa sức khỏe và tôn giáo.

Bản báo cáo được đăng trong tạp chí của Các Nhà Tâm Lý Học Hoa Kỳ (American Psychologist Journal) vào năm 2003 kết luận rằng: nhóm những nhà khoa học trên đã không tìm ra được bất kỳ bằng chứng nào cho thấy tôn giáo giúp người ta khi họ bị bệnh.

Thế nhưng việc giám định những cuộc nghiên cứu có liên quan đến việc tham dự nhà thờ với sức khỏe thì lại khác hẳn. Theo tờ Wall Street Journal, nhóm những nhà khoa học trên đã báo cho biết rằng cuộc nghiên cứu cho thấy mức độ đột tử giảm xuống 25% đối với những ai năng đi tham dự các nghi thức tại nhà thờ ít nhất là 1 lần trong 1 tuần. Trông có vẻ như việc tham dự vào các nghi thức đó, cổ võ nhiều cung cách cư xử khác nhau có lợi cho sức khỏe. Những cung cách hành xử này bao gồm việc suy niệm, việc hỏi thăm, khuyến khích xã giao, giúp làm giảm thiểu đi những thói quen hay hành động mang tính tiêu cực như việc hút thuốc, việc bội tín chẳng hạn.

Cầu Nguyện Cho Những Người Khác (Praying for Others)

Vấn đề là liệu việc cầu nguyện cho người bệnh để giúp họ mau chóng được khỏi bệnh, đã được đem ra bàn cãi trong những năm vừa qua. Vào ngày 15 tháng 7, tờ Bưu Điện Washington (Washington Post) đã tường thuật về một cuộc nghiên cứu của hơn 700 bệnh nhân tim mạch cho thấy rằng những bệnh nhân nào có người cầu nguyện cho họ từ ở đằng xa mà họ không hề hay biết đến, thì cũng vẫn phải gánh chịu một triệu chứng phức tạp, và rồi cũng phải vào nhập viện hay chết đi.

Một số cuộc nghiên cứu đã minh giải rằng những lời cầu nguyện như vậy có thể có những hiệu quả đáng kể, thế nhưng tờ Báo lưu ý rằng những nghiên cứu đó đã bị chỉ trích vì sai phương pháp luận.

Bài báo kể về cuộc nghiên cứu về câu thần chú II (Mantra II study), được thực hiện bởi một nhóm tại Trung Tâm Y Học của trường Đại Học Duke ở Durham, bang North Carolina, và được Bác Sĩ chuyên khoa tim Mitchell Krucoff chỉ huy, bao gồm 748 bệnh nhân đang được chữa trị về những vấn đề có liên quan đến tim mạch tại 9 bệnh viện khắp cả nước từ giữa năm 1999 cho đến năm 2002.

Các nhà nghiên cứu yêu cầu12 cộng đoàn Kitô Giáo khác nhau, cùng với Do Thái Giáo, Hồi Giáo và Phật Giáo khắp nơi trên thế giới hãy cầu nguyện cho một số bệnh nhân, và giả định rằng, những bệnh nhân khác thì không được cầu nguyện. Cả những bệnh nhân lẫn những bác sĩ đều không biết được rằng có ai đó hiện đang cầu nguyện cho họ. Các bệnh nhân được theo dõi trong vòng 6 tháng, nhưng những nhà nghiên cứu không tìm thấy được sự khác biệt nào giữa các nhóm.

Tuy nhiên, Bác Sĩ Krucoff nói rằng Ông không muốn mọi người nghĩ rằng những nhà nghiên cứu chê bai những lời cầu nguyện. Ông nói: “Cuộc nghiên cứu này nhằm cho chúng tôi biết được là liệu có phương cách chữa bệnh nào khác để đáng mà đeo đuổi trong những cuộc thử nghiệm tương lai hay không.”

Linh Hồn và Thân Xác (Body and Soul)

Giáo Lý của Giáo Hội Công Giáo (Catechism of the Catholic Church hay CCC) có liên quan đến vấn đề đức tin và sức khỏe của cơ thể, trong phần xức dầu người bệnh. Trong Mục 1509 nói rằng Giáo Hội lãnh nhận nhiệm vụ “Chữa Lành Người Bệnh Tật, Ốm Đau!” (như trong Sách Máthêu, Chương 10, Câu 8) từ chính Thiên Chúa.

Giáo Hội chu toàn huấn thị này bằng cách chăm sóc cho người bệnh “cũng như việc giúp họ qua sự chuyển cầu của lời cầu nguyện.” Bản văn nói rằng Giáo Hội “tin vào sự hiện diện của Chúa Kitô trong việc cho đi mạng sống của Ngài, và Ngài chính cũng chính là Thầy Thuốc của các linh hồn và các thân xác. Sự hiện diện này được hiện thể một cách tích cực qua các phép bí tích, và qua một cách đặc biệt thông qua Phép Thánh Thể, vốn là bánh ban sự sống đời như Thánh Phaolô đề nghị, có liên quan đến sức khỏe của thân thể.”

Nhưng trong Mục trước đó, Giáo Lý lưu ý rằng “ngay cả việc cầu nguyện liên lũy nhất cũng không phải luôn lúc nào cũng nhận được ơn chữa lành cho tất cả mọi bệnh tật.” Vì lý do này mà Thánh Phaolô nói rằng chúng ta phải học từ Thiên Chúa rằng “Ơn của Ngài đã đủ cho chúng ta, vì sức mạnh của Ngài được biểu lộ trọn vẹn trong sự yếu đuối,” và những đau khổ mà chúng ta chịu đựng có thể ám chỉ rằng: “Giờ đây, tôi vui mừng được chịu đau khổ vì anh em. Những gian nan thử thách Đức Ki-tô còn phải chịu, tôi xin mang lấy vào thân cho đủ mức, vì lợi ích cho thân thể Người là Hội Thánh” (trích Thư Thứ 2 Gửi Cho Corintô, Chương 12, Câu 9; và Colossê, Chương 1, Câu 24).

Đúng ra, Mục 1505 quan sát về Chúa Kitô trong thời gian hoạt động công khai, Ngài đã không chữa lành tất cả những người bệnh. Và những việc chữa lành về thể lý mà Ngài thực hiện là để “tuyên xưng về việc chữa lành mang tính triệt để toàn diện chính là: sự chiến thắng trên tội lỗi và cái chết trong Lễ Vượt Qua của Ngài.” Giáo Lý sau đó lưu ý rằng: “Chính trên cây thập giá Chúa Kitô đã tự hiến chính bản thân Ngài để gánh lấy mọi gánh nặng tội lỗi và xóa đi mọi tội lỗi của trần gian, mà sự bệnh tật cũng chỉ là một hệ lụy.”

Giáo Lý kết luận rằng: “Bằng sự chịu khổ nạn và cái chết trên thập giá Chúa Kitô đã mang lại một ý nghĩa mới của việc chịu đau khổ: nghĩa là từ nay về sau, chúng ta đều quy hướng về Ngài và Ngài đoàn kết chúng ta cùng với Sự Chịu Nạn cứu chuộc của Ngài.”