Trong những ngày qua, khắp nơi trên thế giới, các nhà lãnh đạo Công Giáo bày tỏ sự tin tưởng, hân hoan và vui mừng trước việc Đức Hồng Y joseph Ratzinger được bầu làm Giáo Hoàng. Tràng pháo tay dài dành cho bài giảng của ngài trong thánh lễ khai mạc Cơ Mật Viện đã được kéo dài trong thời gian Mật Nghị và vang vọng mãi đến bây giờ, khắp nơi trên thế giới.
Bên cạnh sự kiện ngài là vị cộng tác đắc lực của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong vai trò bảo vệ đạo lý Công Giáo trong suốt 24 năm qua, Đức Tân Giáo Hoàng có một phẩm chất không chỉ nổi bật trong số các vị Hồng Y mà còn là hiếm hoi trong nhân loại: một trí tuệ thông minh xuất chúng.
Chúng ta đã nghe về trí thông minh của Đức Tân Giáo Hoàng được nhiều người thuộc nhiều lãnh vực khen ngợi bằng nhiều cách khác nhau. Thế giới truyền thông trong những ngày này đề cập đến trí thông minh sắc bén của ngài, “a razor intellect”, trong khi giới khoa bảng tại Cambridge như Piers Paul Read đề cập đến trí thông minh đáng kinh ngạc của ngài, “an amazing intellect”.
Đức Tân Giáo Hoàng có khả năng đánh giá một khối lượng thông tin lớn lao về thời đại, văn hóa và thế giới chúng ta đang sống và rồi đưa ra đánh giá này trong một thứ ngôn ngữ mà từ quan điểm thuần lý không làm sao thách thức lại được.
Ngài nói với một giọng nói đầy quyền lực. Không phải thứ quyền lực chính trị thủ đắc từ cương vị của mình để bắt người ta phải vâng phục, nhưng là quyền lực trí tuệ: một đặc sủng hiếm hoi có sức đánh động người nghe với cùng một lực dù cho họ có cảm tình hay không với quan điểm của người nói.
Bài giảng của ngài trong thánh lễ khai mạc Cơ Mật Viện là một thí dụ điển hình của sức mạnh đó. Trong những từ ngữ mà không nhà báo nào chống lại được, ngài nói rằng ngày nay chúng ta đang sống trong một “chế độ độc tài của chủ thuyết tương đối” mà chúng ta phải cương quyết chống lại. Chữ nghĩa ngài dùng quả là táo bạo. “Chế độ độc tài” là thuật ngữ đầy hình tượng, đã được chọn để chuyển tải sự nghiêm trọng của những vấn đề liên quan đến bầu khí trong đó chúng ta đang sống.
Hầu hết những ai đang sống ở các nước phương Tây đều biết - và cố nhiên ngài cũng biết, là ngày nay chúng ta đang sống trong những điều kiện xã hội tự do nhất chưa từng có trong lịch sử. Có rất ít hay thậm chí không có khống chế nào trên điều chúng ta nên hay phải tin. Có ai lại dám táo tợn đề cập đến xã hội ngày nay như một “thể chế độc tài”?
Trong cách thế đầy ấn tượng và mạnh mẽ, ngài đã đưa chúng ta đến chỗ trực diện với sự thật sâu xa và quan trọng hơn về thế giới mà chúng ta đang sống: Chúng ta đang thật sự sống trong một thế giới nô lệ. Thật vậy, không có một lựa chọn thực sự nào trong một thế giới mà mọi “chọn lựa” đều được coi như ngang nhau. Đây là tình trạng đa phần nhân loại đang trải qua ngày nay.
Chế độc độc tài của chủ thuyết tương đối được cảm nhận thế nào? Theo Đức Tân Giáo Hoàng, nền văn hóa của chúng ta “không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất.”
Những Kitô hữu trưởng thành không e sợ cái chế độ độc tài văn hóa này, vì họ “có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật.” Tuy nhiên, khía cạnh cay đắng của bài suy niệm này là quá nhiều Kitô hữu không có đức tin trưởng thành đó.
Những Kitô hữu này để mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý”. Điều này dẫn đến thảm cảnh “Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng … Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân”.
Thiếu niềm tin vững chắc làm điểm tựa, con người hiện đại, kể cả các tu sĩ hiện đại, đang trong tình trạng thay đổi linh đạo của mình thường xuyên như thay dầu trong máy xe hơi. Nhiều khi, còn hơn thế.
Điều này tạo ra một vấn nạn lớn về văn hóa cho những tín hữu đích thực, chẳng hạn như “có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình ‘bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý’ dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời.”
Bài giảng trước thánh lễ khai mạc Cơ Mật Viện thật là tổng quan rõ nét về thế giới này với một bầu khí văn hóa mang danh tự do nhưng đang cố hết sức bắt Tin Mừng phải câm nín trong lòng người.
Bên cạnh sự kiện ngài là vị cộng tác đắc lực của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II trong vai trò bảo vệ đạo lý Công Giáo trong suốt 24 năm qua, Đức Tân Giáo Hoàng có một phẩm chất không chỉ nổi bật trong số các vị Hồng Y mà còn là hiếm hoi trong nhân loại: một trí tuệ thông minh xuất chúng.
Chúng ta đã nghe về trí thông minh của Đức Tân Giáo Hoàng được nhiều người thuộc nhiều lãnh vực khen ngợi bằng nhiều cách khác nhau. Thế giới truyền thông trong những ngày này đề cập đến trí thông minh sắc bén của ngài, “a razor intellect”, trong khi giới khoa bảng tại Cambridge như Piers Paul Read đề cập đến trí thông minh đáng kinh ngạc của ngài, “an amazing intellect”.
Đức Tân Giáo Hoàng có khả năng đánh giá một khối lượng thông tin lớn lao về thời đại, văn hóa và thế giới chúng ta đang sống và rồi đưa ra đánh giá này trong một thứ ngôn ngữ mà từ quan điểm thuần lý không làm sao thách thức lại được.
Ngài nói với một giọng nói đầy quyền lực. Không phải thứ quyền lực chính trị thủ đắc từ cương vị của mình để bắt người ta phải vâng phục, nhưng là quyền lực trí tuệ: một đặc sủng hiếm hoi có sức đánh động người nghe với cùng một lực dù cho họ có cảm tình hay không với quan điểm của người nói.
Bài giảng của ngài trong thánh lễ khai mạc Cơ Mật Viện là một thí dụ điển hình của sức mạnh đó. Trong những từ ngữ mà không nhà báo nào chống lại được, ngài nói rằng ngày nay chúng ta đang sống trong một “chế độ độc tài của chủ thuyết tương đối” mà chúng ta phải cương quyết chống lại. Chữ nghĩa ngài dùng quả là táo bạo. “Chế độ độc tài” là thuật ngữ đầy hình tượng, đã được chọn để chuyển tải sự nghiêm trọng của những vấn đề liên quan đến bầu khí trong đó chúng ta đang sống.
Hầu hết những ai đang sống ở các nước phương Tây đều biết - và cố nhiên ngài cũng biết, là ngày nay chúng ta đang sống trong những điều kiện xã hội tự do nhất chưa từng có trong lịch sử. Có rất ít hay thậm chí không có khống chế nào trên điều chúng ta nên hay phải tin. Có ai lại dám táo tợn đề cập đến xã hội ngày nay như một “thể chế độc tài”?
Trong cách thế đầy ấn tượng và mạnh mẽ, ngài đã đưa chúng ta đến chỗ trực diện với sự thật sâu xa và quan trọng hơn về thế giới mà chúng ta đang sống: Chúng ta đang thật sự sống trong một thế giới nô lệ. Thật vậy, không có một lựa chọn thực sự nào trong một thế giới mà mọi “chọn lựa” đều được coi như ngang nhau. Đây là tình trạng đa phần nhân loại đang trải qua ngày nay.
Chế độc độc tài của chủ thuyết tương đối được cảm nhận thế nào? Theo Đức Tân Giáo Hoàng, nền văn hóa của chúng ta “không nhìn nhận điều gì là chung kết và để cho cái tôi và ý muốn của mình là mẫu mực duy nhất.”
Những Kitô hữu trưởng thành không e sợ cái chế độ độc tài văn hóa này, vì họ “có một mẫu mực khác, đó là Con Thiên Chúa, là người thật. Ngài là thước đo của chủ nghĩa nhân bản đích thật.” Tuy nhiên, khía cạnh cay đắng của bài suy niệm này là quá nhiều Kitô hữu không có đức tin trưởng thành đó.
Những Kitô hữu này để mình “bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý”. Điều này dẫn đến thảm cảnh “Biết bao nhiêu làn gió chủ thuyết mà chúng ta đã biết đến trong những thập niên cuối cùng … Con thuyền nhỏ tư duy của nhiều Kitô hữu đã thường bị đánh bởi những đợt sóng này - trôi giạt từ thái cực này sang thái cực khác: từ Mác Xít tới chủ nghĩa tự do, tới mức chủ nghĩa tự do phóng túng; từ chủ nghĩa tập thể đến chủ nghĩa cá nhân; từ chủ nghĩa vô thần tới chủ nghĩa duy huyền bí tôn giáo mơ hồ; từ chủ nghĩa vô tín đến chủ nghĩa hỗn tạp và vân vân”.
Thiếu niềm tin vững chắc làm điểm tựa, con người hiện đại, kể cả các tu sĩ hiện đại, đang trong tình trạng thay đổi linh đạo của mình thường xuyên như thay dầu trong máy xe hơi. Nhiều khi, còn hơn thế.
Điều này tạo ra một vấn nạn lớn về văn hóa cho những tín hữu đích thực, chẳng hạn như “có một đức tin rõ ràng, theo kinh Tin Kính của Giáo Hội, lại bị gán cho nhãn hiệu cuồng tín. Trong khi chủ nghĩa tương đối, nghĩa là để chính mình ‘bị sóng đánh trôi giạt theo mọi chiều gió đạo lý’ dường như lại là cách thức hành xử duy nhất thức thời.”
Bài giảng trước thánh lễ khai mạc Cơ Mật Viện thật là tổng quan rõ nét về thế giới này với một bầu khí văn hóa mang danh tự do nhưng đang cố hết sức bắt Tin Mừng phải câm nín trong lòng người.