(Vatican 8/4/2005). Chúc thư của Đức Thánh Cha được viết bằng tiếng Ba Lan, sau đó được dịch ra tiếng Ý để đọc trong phiên khoáng đại thứ Ba của Hồng Y Đoàn trước khi phòng Báo Chí Tòa Thánh công bố toàn bộ hôm thứ Năm 7/4/2005. Thoạt đầu, một số cơ quan truyền thông đời tường thuật rằng vào năm 2000, Đức Thánh Cha đã có lần nghĩ đến chuyện từ chức vì đau yếu. Tuy nhiên, sau khi chúc thư của Đức Thánh Cha được công bố rộng rãi và được dịch ra nhiều thứ tiếng khác nhau, dư luận này nhanh chóng lụi tàn.

Chuyên gia phân tích về Vatican, ông Luigi Acattoli, trong một bài nhận định đăng trên tờ Corriere della Sera (Tin Chiều) số ra thứ Sáu 8/4/2005 cho biết trái với “những tin đồn thất thiệt”, Đức Thánh Cha chưa bao giờ nghĩ đến chuyện từ chức.

Đức Thánh Cha đã bắt đầu viết chúc thư vào ngày 6/3/1979, nghĩa là chỉ 5 tháng sau khi ngài lên ngôi Giáo Hoàng. Ngài sống kết hiệp với Chúa không lưu luyến gì cuộc sống tại thế, sống hôm nay như sống ngày cuối cùng trong đời mình, luôn làm hết sức mình sao cho “mọi sự trong cuộc sống tại thế của cha chuẩn bị cho cha sẵn sàng trước giờ phút này”.

Đức Thánh Cha cảnh cáo: “Mỗi người chúng ta phải nhớ đến viễn ảnh của cái chết. Và phải sẵn sàng ra trình diện trước mặt Chúa và Quan Án - Đấng đồng thời cũng là Đấng Cứu Chuộc và là Cha chúng ta. Cả cha cũng liên tục để ý đến điều này, trong khi phó thác giờ phút quyết định ấy cho Mẹ Chúa Kitô và là Mẹ của Giáo Hội, Mẹ của niềm hy vọng của cha.”

Điều này giải thích lý do tại sao Đức Thánh Cha đã viết chúc thư rất sớm, chỉ 5 tháng sau khi lên ngôi Giáo Hoàng.

Trong Đại Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha viết thêm vào chúc thư:

“2. Trong khi Đại Năm Thánh 2000 diễn ra, ngày qua ngày thế kỷ 20 lùi dần sau lưng chúng ta và thế kỷ 21 mở ra. Theo những kế hoạch Quan Phòng của Chúa, cha đã được sống trong một thế kỷ khó khăn đang lùi dần về quá khứ, và giờ đây trong năm tuổi đời đã đến 80 ('octogesima adveniens'), cần phải tự hỏi xem đây có phải đã đến lúc để lặp lại những lời ông Simêôn trong Thánh Kinh 'nunc dimittis' (Lạy Chúa giờ đây xin cho tôi tớ Chúa ra đi bình an).”

Ông Acattoli nhận định rằng, 'nunc dimittis', kinh nguyện được Giáo Hội đọc vào Giờ Kinh Tối - kết thúc một ngày - không có liên quan chút xíu nào đến chuyện từ chức hay tại chức mà liên quan đến giờ chết: “Lạy Chúa giờ đây xin cho tôi tớ Chúa ra đi bình an.”

Ông Acattoli khẳng định, một người sống kết hiệp với Chúa như Đức Thánh Cha luôn có thái độ ao ước gặp gỡ Thiên Chúa, diện kiến nhan thánh Ngài và thái độ luôn luôn sẵn sàng trước cái chết - là thái độ có thể thấy rõ rệt nhất trong toàn chúc thư từ đầu đến cuối.

“Đối với Đức Giáo Hoàng Wojtila, những lời này không cách nào có thể hiểu là muốn nghỉ hưu nhưng là nghỉ yên muôn đời trong Thiên Chúa”.

Điều này giải thích lý do tại sao liền ngay những nhận định thêm vào năm 2000, Đức Thánh Cha viết:

“6. Khi giờ cuối cùng của đời cha dần đến, cha nghĩ đến thời gian đầu, tới song thân, tới người anh và người chị của cha (mà cha chưa từng biết vì chị đã qua đời trước khi cha sinh ra), tới giáo xứ của cha tại Wadowice, nơi cha đã được rửa tội, tới thành phố cha yêu, tới bạn bè trang lứa từ tiểu học tới trung học và đại học, tới thời gian bị chiếm đóng khi cha làm việc như một công nhân, và rồi đến giáo xứ Niegowic, đến nhà thờ Thánh Florian tại Krakow, tới việc mục vụ cho giới đại học, tới …mọi môi trường, tới …Krakow và …tới Rôma....tới mọi người mà Chúa đã trao phó đặc biệt cho cha.

Với tất cả mọi người cha chỉ muốn nói một câu này: “Xin Chúa trả công bội hậu cho anh chị em”.

’In manus tuas, Domine, commendo spiritum meum.’

(Lạy Chúa trong tay Chúa con xin phó thác hồn con)