Bài giảng thứ ba mùa Vọng của Cha Raniero Cantalamessa

VATICAN Bài giảng thứ ba Mùa Vọng do Cha Raniero Cantalamessa, người giảng cho Phủ Giáo hoàng, đã giảng hôm thứ Sáu 17/12 với sự hiện diện của Đức Giáo Hoàng và các viên chức Giáo Triều Roma.

The Capuchin priest offered a series of Eucharistic reflections in the light of the hymn "Adoro Te Devote." Part 1 appeared Friday.

Linh mục Capuchin cống hiến một loạt bài Suy tư Thánh thể dưới ánh sáng thánh thi Adoro Te Devote”.

* * *

Tôi đọc cũng Một Kinh như Kẻ Trộm Sám Hối

Bài giảng thứ Ba Mùa Vọng

Một bài ca ngợi của Jacopone da Todi, được sáng tác khoảng năm 1300, chứa đựng một hàm ý rõ ràng tới đoạn thơ thứ hai kinh Adoro te Devote mà chúng ta đã bình luận vừa qua: "Tay cầm, miệng nếm mắt xem.. . " Trong bài ca này, Jacopone tưởng tượng một thứ đấu tranh giữa các giác quan khác biệt của con người về Thánh Thể: ba giác quan (thị giác, xúc giác và vị giác) nói rằng đó chỉ là bánh, "chỉ thính giác" là chống đối, cho rằng Chúa Kitô ẩn mình dưới những hình bên ngoài này"!

Nếu không đủ bằng cớ mà khẳng định rằng thánh thi là của Thánh Thomas Aquinas, mặc dầu thế thánh thi đó chứng tỏ nó cổ xưa hơn là người ta tưởng. Chắc chắn niên hiệu không xung khắc với việc gán cho Tiến Sĩ Thiên thần. Nếu Jacopone có thể ám chỉ thánh thi đó như môt văn bản ai cũng biết, thì thánh thi đó đã được sáng tác ít nhất 20 năm trước và do đó đã hưởng được một tính bình dân nào đó rồi

1 Những người đồng thời với tên Trộm Lành

Bây giờ chúng ta quay về đoạn thơ thứ ba thánh thi sẽ đồng hành với chúng ta trong bài suy niệm này:

Trên Thánh Giá xưa, Tính Chúa ẩn che có một,

Nay trong Bí tích, Tính người gồm ẩn hòa hai.

Lạy Chúa con tin, cùng nguyện xưng cả hai điều ấy

Dám trông phước thánh, ban cho kẻ trộm lành xưa

Bây giờ lễ Giáng Sinh tới gần. Một xu hướng lãng mạn đã thành công trong việc biến lễ Giáng Sinh thành một lễ hoàn toàn nhân bản mừng thiên chức làm mẹ và phước làm con, với những quà biếu, và những tâm tình tốt đẹp. Trong Tetriakov Gallery tại Moscow, bức ảnh Đức Trinh Nữ Diệu Hiền do Vladimir, vẽ chân dung ngài ôm Bé Giêsu vào lòng, (bức ảnh đó) mang lời chú thích "Thiên chức Làm Mẹ" trong chế độ Cộng sản. Nhưng, những nhà chuyên môn biết điều gì được diễn tả trong hình ảnh bộc lộ cái nhìn âu lo của người Mẹ, đượm nét buồn, dường như muốn bảo vệ đứa con khỏi sư nguy hiểm sắp xảy ra, loan báo sự thương khó của người Con mà ông Simeon đã làm ngài thấu suốt trong lúc dâng mình trong đền thờ.

Nghệ thuật Kitô hữu đã diễn tả sự liên kết này giữa sự sinh và sự chết của Chúa Kitô bằng một ngàn cách. Trong một số hình ảnh do các hoạ sĩ danh tiếng, Bé Giêsu ngủ trên gối Mẹ mình nằm giãn ra trên môt tấm vải, theo đúng vị trí Chúa thường được diễn tả trong lúc hạ xác xuống khỏi Thánh Giá; con chiên bị trói thường thấy trong những ảnh vẽ Sinh Nhật ám chỉ con chiên bị sát tế. Trong một bức tranh vẽ vào thế kỷ 15, một trong những Hiền Sĩ dâng cho Em Bé món quà một chén lễ với những đồng tiền trong đó, dấu chỉ giá cứu chuộc mà Người đến trả để chuộc tội lỗi (Em Bé đang giơ tay nhận một trong những đồng tiền đó và trao cho kẻ dâng nó cho Người, một dấu Người cũng sẽ chết cho kẻ đó!) 2

Bằng cách này, các nghệ sĩ bày tỏ một chân lý thần học thâm sâu. "Ngôi Lời trở thành xác thịt," Thánh Augustinô viết, "để có thể chết cho chúng ta." 3 Người được sinh ra hầu có thể chết. Trong chính các sách Tin Mừng, những tường thuật về thời thơ ấu là một lời mở đầu cho những tường thuật về sự Thương Khó.

Do đó chúng ta không bị kéo xa khỏi ý nghĩa Giáng Sinh nếu, theo đường hướng đoạn thơ này của thánh thi, chúng ta suy gẫm về tương quan giữa Thánh Thể và thánh giá. Năm Thánh Thể giúp chúng ta đánh giá phương diện sâu xa nhất của ngày Giáng Sinh. Ký ức thật và sống động về ngày Giáng Sinh không phải là máng cỏ nhưng một cách chính xác là Thánh Thể.

Đức Giáo Hoàng viết trong "Ecclesia de Eucharistia: rằng "Thánh thể, đang khi kỷ niệm sự thương khó và sự sống lại, thì cũng nối tiếp sự nhập thể. Trong ngày Truyền Tin Đức Maria thụ thai Con Thiên Chúa trong thực tại thể lý của mình và máu Người, như vậy Mẹ báo trước trong Mẹ điều mà tới mức độ nào đó xảy ra cách bí tích trong mỗi người tín hữu nào đến nhận lãnh, dưới những hình bánh và rượu, mình và máu Chúa." 4

Trong đoạn thơ thứ ba kinh Adoro Te Devote tác giả đi lên núi Calvariô một cách thiêng liêng. Trong một đoạn thơ tiếp sau, đoạn thơ bắt đầu với những tiếng " Ớ phép nhiệm mầu, Nhắc lại ơn xưa Chúa chuộc," tác giả chiêm ngưỡng tương quang nội tại và khách quan giữa Thánh Thể và thánh giá, tương quan hiện hữu giữa biến cố và bí tích. Đúng hơn, ở đây bày tỏ tương quan chủ quan giữa điều đã xảy ra trong những người đã hiện diện tại sự chết của Chúa và điều phải xảy ra trong người hiện diện nơi Thánh Thể, tương quan giữa người sống biến cố và người cử hành bí tích.

Đó là một lời mời trở nên "những người đồng thời" của biến cố được nhắc tới trong ý nghĩa hùng mạnh và hiện sinh của từ ngữ. Nhìn xem sự chết của Chúa Kitô không phải trong ánh sáng của sự nhận thức sau, nhưng đồng hoá với những người đã sống, trong tất cả tình trạng thô sơ thánh giá, "gương xấu" thánh giá, bằng cách không nhắc đến ít nhất trong một thời gian, ánh hào quang vinh quang mà sự Phục sinh đã mang đến trên thánh giá đó.

Trong số tất cả những người hiện diện trên núi Calvary, tác giả đặc biệt chọn một người, đó là người trộm lành, để đồng hoá với họ. Một tâm tình sâu xa và chân thật khiêm tốn và sám hối thâm nhiễm toàn diện đoạn thơ, mà người hát được mời lấy làm của mình. Trong kiểu ám chỉ của thánh thi, toàn diện tình tiết của người trộm lành và tất cả những lời anh nói trên thánh giá được tác giả khơi lên, không chỉ lời cầu nguyện cuối cùng: "Ông Giêsu ơi, khi ông vào nước của ông xin nhớ đến tôi."

Trước hết anh la mắng người bạn sĩ nhục Chúa Giêsu: "Mày đang chịu chung một hình phạt, vậy mà cả Thiên Chúa, mày cũng không biết sợ? Chúng ta chịu như thế này lá đích đáng, vì xứng với việc đã làm. Chớ ông nầy đâu có làm gì trái" (Lc. 23: 40f.). Người trộm lành thú hết tội. Sự sám hối của anh có tính chất kinh thánh cố định nhất. Sự sám hối thật sự hệ tại cáo mình và tuyên bố Thiên Chúa không đáng khiển trách, gán cho mình trách nhiệm về sự dữ và công bố rằng "Thiên Chúa vô tội." Công thức cố định sám hối trong Kinh Thánh là: "Chúa công minh trong mọi việc Chúa đã làm, mọi đường lối của Người đều thẳng ngay và phán quyết của Người công minh, chúng con đã phạm tội" (Daniel 3:28 ff; x. Dnl 32: 4ff).

"Ông này đâu có làm điều gì trái". Người trộm lành (hay là, trong bất cứ trường hợp nào, Chúa Thánh Thần linh hứng những lời này) chứng tỏ mình là một nhà thần học tuyệt vời. Chỉ môt mình Thiên Chúa, thực tế, chịu khổ hình mặc dầu vô tội; tất cả mọi kẻ khác mà chịu đau khổ, phải nói: "Tôi chịu đau khổ là đáng," bởi vì, mặc dầu người đó không trách nhiệm về hành động đổ cho mình, người ấy không bao giờ hoàn toàn khỏi tội. Chỉ sự đau đớn của những trẻ con vô tội giống như sự đau đớn cùa Thiên Chúa và đó là lý do tại sao sự đau đớn rất nhiệm mầu và rất quí giá.

Có môt sự tương tự sâu xa giữa người trộm lành và người đến gần Thánh Thể với đức tin. Người trộm lành trên thập gía thấy một người, còn hơn nữa, một người bị án tử, và anh ta tin đó là Thiên Chúa, vì công nhận Ngài có quyền phép nhớ đến minh trong Nước của Ngài. Từ một quan điểm nào đó, người Kitô hữu được kêu gọi thực hiện một việc làm đức tin còn khó hơn nữa. "In cruce latebat sola deitas; at hic latet simul et humanitas" :Trên Thánh giá xưa, Tính Chúa ẩn che có một, Nay trong Bí Tích, Tính người gòm ẩn hòa hai":

Người cầu nguyện không lúc nào nghi ngờ, họ cất lên tới đỉnh cao đức tin của người trộm lành và công bố mình tin cả thần tính và nhân tính của Chúa kitô: "Ambo tamen credens atque confitens- Lạy Chúa, con tin cùng nguyện xưng ra hai điều ấy". Hai động tự, credo, confiteor, con tin và con xưng. Đó không phải là một sự lập lại. Thánh Phaolô đã minh họa sự khác biệt giữa sự tin và sự xưng: "Quả thế, có tin thật trong lòng, mới được nên công chính; có xưng ra ngoài miệng, mới được ơn cứu độ" (Rom.10:10)

Không đủ nếu chỉ tin trong nơi thâm sâu của lòng mình; cũng cần xưng đức tin mình cách công khai. Lúc viết ra thánh thi này, Giáo Hội đã vừa thiết lập lễ Mình Thánh Chúa chí vì mục tiêu này. Dù sao, việc kính nhớ sự thiết lập Thánh Thể trong Ngày Thứ Năm Thánh đã hiện hữu. Nếu có lập lễ mới này, không hẵn để nhớ biến cố này cho bằng để công khai công bố đức tin mình vảo sự hiện diện thật sự của Chúa Kitô trong Thánh Thể. Và, như một vấn đề thực tế, với sự trọng thể bất thường dành cho lễ ấy và với những biểu lộ đặc điểm hóa lễ ấy trong sự sốt sắng Kitô hữu (những rước kiệu, những trang trí bông hoa.. . ) ngày lễ hoàn thành chính xác mục tiêu này. 5

. Mình, Máu, Linh Hồn và Thần Tính

Chân lý thần học trung tâm trong đoạn thơ này (mỗi đoạn thơ, chúng tôi đã ghi chú, có môt) là trong Thánh Thể Chúa Kitô thật sự hiện diện với thần tính và nhân tính của Người, "trong mình, máu, linh hồn và thần tính," theo công thức truyền thống. Đáng suy tư về công thức này và về những giả định của nó, bởi vì theo phương diện này, thần học kinh thánh tân thời đã dóng góp một vài sự mới lạ đáng phải lưu ý.

Thần học Kinh viện khẳng định rằng qua những lời "Này là mình Thày" thì chỉ mình Chúa Kitô--tức là thịt Người, gồm có xương, gân cốt, v.v.--thành hiện diện trên bàn thờ do quyền năng của bí tích ( ở đây các bí tích), đang khi máu và linh hồn chỉ hiện diện nhờ nguyên lý của sự "đồng thời tự nhiên," bởi vì ở đâu có một thân xác sống, thì ở đó cũng cần thiết có máu và linh hồn.

Tương tự, do những lời "Này là máu Thầy," qua quyền năng của bí tích chỉ có máu hiện diện, đang khi mình và linh hồn hiện diện ở đó là nhờ sự đồng thời tự nhiên 6.

Tất cả những vấn đề này là do sự kiện "thân xác" được hiểu như được giải thích trong nhân loại học Hy lạp, tức là, như một phần con người, thành phần đó, được kết hợp với linh hồn và trí khôn, làm thành con người trọn vẹn. Sự tiến triển những khoa học kinh thánh dầu sao đã làm chúng ta ý thức rằng trong ngôn ngữ kinh thánh, đó là ngôn ngữ của Chúa Giêsu và Thánh Phaolô, "mình" không chỉ, như cho chúng ta ngày nay, một phần ba của con người, nhưng cho toàn thể con người bao lâu nó sống trong một chiều kích thân xác.

Trong những bối cảnh Thánh Thể, "mình" có cùng nghĩa như tiếng "thịt" có trong thánh Gioan. Chúng ta biết Gioan muốn nói gì khi ngài nói Ngôi Lời đã trở nên "thịt"; không phải Ngôi Lời hóa nên "thịt, xương, gân cốt," nhưng hóa nên người. Câu kết giải phóng là linh hồn Chúa Kitô không hiện diện trong Thánh Thể, cách gián tiếp nào đó, chỉ bằng sư đồng thời tự nhiên với thân mình, nhưng trực tiếp, bởi quyền năng bí tích, vì được bao hàm trong điều Chúa Giêsu hiểu khi nói về mình của Người.

Nếu người ta hiểu "mình" theo nghĩa triết học Hy lạp, thì khó mà bác bỏ đi chất vấn: Cần gì phải truyền phép máu riêng, từ lúc máu là một phần của thân mình, y như xương, gân cốt, và những cơ quan khác? Câu trả lời đã đưa ra cho chất vấn này là như sau: "Vì trong sự thương khó của Chúa Kitô, mà bí tích là một sự ghi nhớ, không bộ phận nào khác bị phân cách khỏi thân xác người trừ ra máu." 7 Nhưng sự giải thích này có làm thỏa mãn không?

Một sự giải thích đơn giản hơn nhiều là, trong Kinh Thánh, máu là ngai toà của sự sống và do đo, sự chảy máu là dấu chứng hùng hồn của sự chết. Việc truyền phép máu được giải thích bằng cách lưu ý rằng các bí tích là những dấu chỉ thánh và Chúa Giêsu đã chọn một dấu như thế hầu để lại "một sự ghi nhớ" sống động " về sự thương khó của Người". Nói rằng Thánh Thể là bí tích của mình và máu Chúa kitô là có ý nói đó là bí tích sự sống và sự chết của Chúa Kitô, trong thực tại bản thể và trong sự phát triển lịch sử của mình và máu. Để an ủi chúng ta, mình, máu và linh hồn, tất cả, do đó, là hiện diện trong Thánh Thể bởi quyền năng của chính những lời Chúa Kitô, không phải bởi tác động song song của chúng.

Trong thánh thi chúng ta không có tất cả những vấn đề này và tất cả qui về cách nhã nhặn tới sự hiện diện nhân tính và thần tính của Chúa Kitô trong Thánh Thể. Sự hiện diện của thần tính, dầu trong mình hay máu Chúa Kitô, được bảo đảm bởi sự hiệp nhất bất khả phân ly -"thuộc về ngôi vị," theo ngôn ngữ thần học- được thực hiện giữa Ngôi Lời và nhân tính trong sự Nhập Thể. Do dó, Thánh Thể không thể được giải thích bằng cách nào khác hơn là trong ánh sáng của sự Nhập thể. Có thể nói được, đó là sự nối dài có tính bí tích của sự Nhập Thể. 8

3. Người ta tin với con tim

Bây giờ chúng ta di chuyển từ sự khẳng định thần học cho tới sự áp dụng trong lời cầu nguyện, môt sự di chuyển hiện diện trong mỗi đoạn thơ kinh Adoro te Devote. Sự hàm ý hiện sinh trong trường hợp này là sự mời thực hiện một hành vi đức tin vào nhân tính và thần tính đầy đủ của Chúa Kitô: "Ambo tamen credens atque confitens": Lạy Chúa, con tin cùng nguyện xưng hai điều ấy”. Đoạn thơ thứ nhất cũng chứa đựng môt sự xưng đức tin: "Credo quidquid dixit Dei Filius," Con tin moi lời Con Đức Chúa Trời đã dạy. Nhưng ở trên chỉ có vấn đề tin vào sự hiện diện của Chúa Kitô trong bí tích; ở đây là một vấn dề khác; đó là về sự biết chính Đấng hiện diện trên bàn thờ, đối tượng đức tin là bản thân Chúa Kitô, không phải là hành động bí tích.

"Credens atque confitens" : Con tin và con xưng. Chúng ta đã nói tin không chưa đủ; chúng ta cũng phải xưng. Nhưng chúng ta phải nói thêm liền: xưng không cũng chưa đủ, chúng ta phải tin! Tội thường phạm nhất của người giáo dân là tin mà không xưng, che giấu đức tin của mình vì cả nễ người ta; tội thường phạm nhất nơi chúng ta, người trong giáo Hội, đó là tội xưng mà không tin. Trên thực tế, việc có thể là lần hồi đức tin trở nên một"kinh tin" lập lại ngoài môi miệng, như là một sự tuyên bố về sự tùy thuộc, là một lá cờ, mà không bao giờ hỏi mình có thật sự tin điều mình nói, viết và giảng. "Tin trong lòng," thánh Phaolô đã nhắc nhở chúng ta, một câu mà Thánh Augustine chuyển dịch : "Đức tin nẩy lên từ những gốc rễ con tim." 9

Nhưng, cần phải phân biệt sự thiếu đức tin do sự tối tăm của đức tin và những cơn cám dỗ chống lại đức tin. Trong Tuần thứ Ba này của Mùa Vọng chúng ta lại có trước mắt gương mặt Gioan tẩy Giả, nhưng dưới một lốt mới. Đó là Tẩy Giả, người trong Tin Mừng Chúa nhật qua đã sai các môn đệ đến hỏi Chúa Giêsu: " Thưa Thầy, Thầy có đúng là Đấng phải đến không, hay là chúng tôi còn phải đợi ai khác?" (Matthew 11: 3).

Chúng ta không nên tránh tấn kịch che giấu sau tình tiết cuộc đời vị Tiền Hô. Ngài đang ngồi tù, mất hết mọi liên lạc, ngài biết mạng sống mình treo trên đầu chỉ, nhưng sự tối tăm bên ngoài không là gì sánh với sự tối tăm nẩy lên trong lòng dạ ngài. Ngài không còn biết tất cả mọi sự ngài đã hiến mình cho, có thật hay giả trá. Ngài đã chỉ Rabbi thành Nadareth như là Đấng Messia, là Con Chiên Thiên Chúa, và thúc giục dân chúng và các môn đệ ngài phải theo đấng ấy và bây giờ ngài mắc một sư nghi ngờ xé lòng là tất cả những điều này có thể là môt sai lầm cho ngài, là Đức Giêsu không phải là Đấng thiên hạ trông đợi. Ông Gioan tẩy Giả này khác xa dường nào với Gioan những Chúa Nhật trước gây sấm sét trên bờ sông Gioadan

Nhưng làm sao Chúa Giêsu, Đấng xem ra nghiêm khắc trước sự thiếu đức tin của dân chúng và quở trách các môn đệ Người là những "kẻ kém lòng tin," thì trong dịp này tỏ mình thông cảm trong sự nghi ngờ của vị Tiền Hô của Người? Người không từ chối cung cấp những "dấu" được đòi hỏi, như Người chối từ trong những trường hợp khác: "Các anh cứ về thuật lại cho ông Gioan nhưng điều mắt thấy tai nghe.. . " Họ đi rồi, Chúa Giêsu đã bày tỏ sự khen ngợi lớn về Gioan Tẩy Giả, sự ngợi khen chưa bao giờ xuất phát từ môi miệng Người: "Trong số phàm nhân đã lọt lòng mẹ, chưa từng có ai cao trọng hơn ông Gioan Tẩy Giả," Người chỉ nói thêm trong dịp này: "Phúc thay người nào không vấp ngã vì tôi" (Matthew 11:6). Người biết rất dễ mà vấp ngã vì Người, trong sự bất lực bề ngoài, trong sự từ chối bên ngoài của những sự kiện.

Thử thách của Tẩy Giả là một thử thách trong mọi thời. Có những linh hồn cao thượng chỉ sống bằng đức tin và, trong một giai đoạn đời mình, thường là giai đoạn sau rốt, lại ngã trong sự tối tăm nhất, bị dày vò bởi sự nghi ngờ đã bị thất bại mọi sự và đã sống trong sự lừa dối. Từ một giám mục là bạn thân của ngài, tôi biết rằng Don Tonino Bello, một giám mục đáng nhớ thành Molfetta, đã kinh nghiệm một thời điểm như vậy trước lúc chết. Có đức tin trong những trường hợp này, mạnh hơn bao giờ, nhưng ẩn giấu trong một góc xa xôi của linh hồn, mà chỉ môt mình Thiên Chúa có thể đọc được.

Nếu Thiên Chúa đã tán dương Gioan Tẩy Giả như vậy, điều đó có nghĩa là khi ông ở trong sự tối tăm ông không bao giờ hết tin vào Chiên Thiên Chúa, là Đấng ngày kia ông đã chỉ cho thế giới thấy. Chúc thư của Tông Đồ Phaolô cũng là chúc thư của ông:"Tôi đã chạy hết chặng đường, đã giữ vững niềm tin" (2 Timothy 4:7).

Đức tin là chiếc nhẫn cưới kết hợp Thiên Chúa và con người trong một giao ước --không phải một ngẫu nhiên khi chiếc nhẫn cưới, ít nhất trong tiếng Ý, được gọi là, cách chính xác, đức tin. Như vàng, đức tin -- Thơ thứ Nhất của Thánh Pherô nói--phải được tinh luyện trong lò thử (x. 1 Peter 1:7) và lò thử đức tin là sự đau khổ, hơn hết sự đau khổ gây nên do sự hồ nghi và do điều mà Thánh Gioan Thánh giá gọi là đêm tối của tinh thần. Vì có Giáo lý Công giáo về luyện ngục, tất cả mọi sự có thể tiếp tục bị thanh luyện sau khi chết--hy vọng, đức mến, lòng khiêm tốn.. . , trừ đức tin. Đức tin chỉ bị thanh luyện trong đời này, trước khi bước qua từ đức tin đến phúc kiến. Đó là lý do tại sao sự thử thách nặng nề này tập trung ở đây trên mặt đất.

Nhưng, đó không hẵn là một vấn đề của những linh hồn phi thường. Cũng một sứ khó khăn đã thúc đẩy vị Tẩy Giả sai các sứ giả tới gặp Chúa Giêsu, khó khăn đó vẫn còn ngăn trở dân Dothái nhận biết Chúa Giêsu thành Nadareth là Đấng Messia người ta trông đợi. Và không những một mình họ. Thơ thứ Hai của Thánh Pheô qui chiếu vê câu hỏi lan tràn giữa những Kitô hữu thời đại ngài: "Đâu rồi, lời Người hứa sẽ quang lâm? Vì từ ngày các bậc cha ông an nghỉ, mọi sự vẫn y nguyên như khi trời đất mới được tạo thành" (2 Peter 3:4). Cả ngày nay, đó là lý do nhiều người nêu lên, họ là những kẻ không tin ơn cứu rỗi đang đến, nghĩa là, "mọi sự tiệp tục như trước!"

Phêrô gợi ý một sự giải thích: Thiên Chúa "không chậm trễ thực hiện lời hứa, như có kẻ cho là Người chậm trễ. Kỳ thực, Người kiên nhẫn với anh em, vì Người không muốn cho ai phải diệt vong, nhưng muốn cho mọi người đi tới chỗ ăn năn hối cải" ( 2 Phêrô 3:9). Nhưng hơn những lý do suy đoán cần phải rút từ lòng mình sức mạnh làm cho đức tin vượt thắng sư hồ nghi và chủ nghĩa hoài nghi. Chính trong lòng mà Chúa Thánh Thần làm cho kẻ tin biết Chúa Giêsu sống và hiện thực, trong một cách không thể diễn tả bằng lý trí.

Thỉnh thoảng một lời Kinh Thánh đủ thắp sáng lại đức tin này và lấy lại sự chắc chắn. Đối với tôi điều này được ồn định bời lời sấm của Balaam được công bố trong bài đọc I vào thứ hai vừa qua: "Tôi thấy nó, nhưng bây giờ chưa phải lúc; tôi nhìn, nhưng chưa thấy nó kề bên: một vì sao xuất hiện từ Gia-cóp, một vương trượng chỗi dậy từ Israel" (Ds, 24:17). Chúng ta biết vì sao này, chúng ta biết vương trượng này thuộc về ai. Không phải bởi sự suy đoán trừu tượng, nhưng vì đã 2000 năm lời tiên tri này đã thực hiện trước mắt chúng ta.

Như mỗi năm, chúng ta đang chuẩn bị cử hành sự xuất hiện của vị sao này. Từ đầu chúng ta đã nhắc lai rằng Thánh Thể là máng cỏ thực sự nơi có thể thờ lạy Ngôi Lời Thiên Chúa, không phải trong những hình ảnh nhưng trong thực tại. Dấu chỉ rõ nhất của sự liên tiếp giữa mầu nhiệm Nhập Thể và mầu nhiệm Thánh Thể là, với cùng những lời trong Kinh Adoro Te Devote, chúng ta kính chào Thiên Chúa ẩn mình dưới những hình bánh và rượu, trong lễ Giáng Sinh chúng ta có thể kính chào Thiên Chúa ẩn mình dưới hình dáng một em bé. Do đó, chúng ta hãy tưởng tượng mình đang ở trước Hài Nhi Giêsu trong máng cỏ và chúng ta hãy cùng nhau hát đoạn thơ thứ nhất thánh thi chúng ta, dường như được viết ra cho Người:

Con kính lạy Đức Chúa Giêsu,

Thật ẩn trong hình bánh rượu,

Lòng con khâm ngưỡng nhìn xem,

Thấy Chúa rụng rời

--- --- ---

Ghi chú:

9 St. Augustine, "In Ioh.," 26, 2 (PL 35, 1077).

1 Jacopone da Todi, Laude XLVI: "Li quattro sensi dicono: / Questo si vero pane. /Solo audito resistelo, / Ciascun de lor fuor remane. / So' queste visibil forme / Cristo occultato ce stane" ("The four senses say: This is but bread. Only the hearing is opposed and constrains them to withdraw. Under these visible forms, Christ is hidden). Cf. F.J.E. Raby, The Date and Authorship of the Poem Adoro te devote, in "Speculum", 20, 1945, pp. 236-238. The text would confirm the lesson "quae sub his formis," instead of "quae sub his figuris," in the first stanza.

2 The pictures with this theme have constituted a session of the exhibition entitled "Seeing Salvation," held in London in the year 2000 and reproduced in part in the exhibition's catalogue: cfr. The Images of Christ, London, 2000, pp. 62-73.

3 St. Augustine, Sermo 23, 3 (CCL 41, 322); Gregory of Nyssa affirms the same, Or. cat., 32 (PG 45, 80).

4 "Ecclesia de Eucharistia," 55

5 Cfr. M. Righetti, "Storia liturgica," II, Milan 1969, pp.329-339

6 Cfr. S.Th. III, q. 76, a. 1. The principle of natural concomitance is taken up by the Council of Trent (Denzinger, 1640) which, however, on this point does no more than quote St. Thomas, without giving this explanation dogmatic value.

7 S. Th. III, q.76. a.2, ad 2.

8 It is the point on which M.J. Scheeben bases all his treatment of the Eucharist, "I misteri del cristianesimo," Chapter 6, Morcelliana, Brescia 1960, pp. 458-526.