Tiến sĩ Navarro Valls với tư cách là Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh
Nhân dịp đánh dấu 20 năm với tư cách là phát ngôn viên của Vaticăn.
ROME, DEC. 6, 2004.- Đó là vào năm 1974 khi Tiến Sĩ Joaquín Navarro Valls cùng với Giovanni Caprile, đã khuấy lên cuộc tranh luận công khai về sự thiếu vắng các thông tin chính thức cần cho Nghị Hội về Rao Giảng Tin Mừng. Người điều phối cho Nghị Hội lúc đó là Đức Hồng Y Karol Wojtyla.
Mười năm sau đó, vào ngày 4 tháng 12 năm 1984, Đức Hồng Y Wojtyla, nay là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị, đã bổ nhiệm Navarro Valls làm Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Sự bổ nhiệm một người giáo dân và thành viên của Opus Dei (Dòng Chủ Nghiệp) vào văn phòng báo chí của Vaticăn đã gây không ít xôn xao, bàn tán, thế nhưng lúc ấy không ai có thể tưởng tượng được những mối quan hệ với các nhà báo và các phương tiện truyền thông đại chúng đã phải thay đổi đến mức độ nào.
Đúng ra là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã cải thiện hóa hình ảnh của triều đại giáo hoàng và của toàn thể giáo triều Rôma trong giới truyền thông đại chúng. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên tổ chức ra những cuộc họp báo một cách đều đặn để trả lời các câu hỏi của các nhà báo và đã cho phép xuất bản ra cuốn sách mà Ngài được giới báo chí phỏng vấn.
Sự chọn lựa Tiến Sĩ Navarro Valls cũng chính là một phần của cuộc canh tân hóa. Với sự gia nhập của phát ngôn viên trong văn phòng báo chí Tòa Thánh, những cuộc họp và thuyết trình ngắn với các nhà báo được tăng lên gấp bội, và các văn kiện vốn trước kia bị cấm, thì nay được phân phát cho giới báo chí. Giờ đây, hơn 80% các tin tức về hoạt động của Hội Thánh và của Đức Thánh Cha đều đến từ văn phòng báo chí của Vaticăn.
Trong một cuộc phỏng vấn cách đây không lâu với nhà báo Antonio Gaspari, Tiến Sĩ Navarro Valls nói: “Những công viêc mà chúng tôi cố gắng làm tại văn phòng báo chí Vaticăn chính là để đấu tranh (combat) chống lại các thành kiến, vốn đã có thời còn tồn tại, không phải là qua những lỗi lầm của chúng tôi mà là bởi sự ngoan cố (obstinacy) của một số cá nhân.”
Nhân dịp đánh dấu kỷ niệm 20 năm của việc Tiến Sĩ Navarro Valls được bổ nhiệm làm giám đốc văn phòng báo chí Vaticăn vào ngày 6 tháng 12 vừa qua, hãng tin Zenit đã quyết định cho đăng nội dung của bài phỏng vấn sau.
Hỏi (H): Thưa Tiến Sĩ, Ông có thể đưa ra một số ví dụ cho thấy làm thế nào mà các mối quan hệ với các nhà báo đã thay đổi?
Tiến Sĩ Valls: Thưa, có rất nhiều ví dụ, nhân đây tôi chỉ đề cập ra một số ví dụ mà tôi cho là quan trọng. Giờ đây, các nhà báo có thể theo Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đến khắp mọi nơi. Đức Giáo Hoàng còn thậm chí cho phép các ống kính truyền hình quay phim cuộc gặp gỡ của Ngài tại nhà tù ở Rebibbia với Ali Agca, người đã cố gắng sát hại Ngài.
Ngài không bao giờ đưa ra các lời chỉ trích, thậm chí ngay cả đối với những câu hỏi có liên quan tới sức khỏe cá nhân của Ngài. Vào tháng 7 năm 1992, là lúc Ngài khám phá ra được rằng Ngài bị bệnh ung thư, trước khi biết được rằng khối u đó chính là bướu lành hay ác tính, Ngài gọi tôi và nói: “Cha sẽ đề cập đến điều này trong lúc đọc Kinh Truyền Tin, rồi con sẽ nói cho giới báo chí những gì mà con nghĩ là đúng nhất.”
Trong suốt toàn bộ thời gian bình phục của Ngài tại bệnh viện, chúng tôi đã sẳn sàng, một cách không do dự cung cấp toàn bộ thông tin cho giới báo chí. Sau cuộc phẩu thuật chân của Ngài vì bị gãy xương đùi, chúng tôi đã cho đoàn làm phim của Đài Phát Thanh và Truyền Hình Ý Quốc xem đĩa X quang cho thấy sự lắp ghép một bộ phận giả vào chân của Ngài. Vì thái độ rõ ràng đó, tôi thậm chí nhận được rất nhiều lời chỉ trích.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng đằng sau thái độ này không chỉ đó là một kỷ thuật để đưa tin nhằm có tác dụng nâng cao kiến thức mà đó cũng còn là cách để hiểu được về Giáo Hội và Đức Giáo Hoàng.
(H): Thưa Tiến Sĩ, đâu là những mối quan hệ của Ông đối với Đức Thánh Cha và Ông nghĩ gì khi Ông được biết mình đã được chọn để làm giám đốc văn phòng báo chí của Vaticăn?
(T): Thưa, khi tôi hay biết được rằng Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm tôi vào làm giám đốc của văn phòng báo chí Tòa Thánh, tôi rất là phân vân, hồi hộp với không ít những ngờ vực, nhưng thời gian lại quá eo hẹp. Lúc đó, tôi đang là chủ tịch của Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế. 500 nhà báo tại Rôma đã chọn tôi làm chủ tịch cho nhiệm kỳ thứ hai mặc dầu lúc đó tôi đã quyết định phải chấm dứt sự nghiệp báo chí mạo hiểm của tôi để quay trở về Tây Ban Nha, và đảm nhiệm lấy vai trò thiết yếu của tôi, chính là trở thành một thầy giáo tại trường y.
Vào lúc đó, kiến thức của tôi về Đức Giáo Hoàng rất ư là hạn hẹp. Tôi đã thực hiện một vài chuyến với tư cách là một nhà báo và một phần là đoàn tùy tùng của Ngài, và chỉ có nhiêu đó thôi. Đôi lúc, tôi vẫn thường hay phân vân tại sao Ngài lại chọn tôi. Tôi rất vui mừng nhận được sự tín nhiệm của các nhà báo của các văn phòng báo chí nước ngoài, những người đã chọn tôi làm vị chủ tịch của họ, thế nhưng tôi không nghĩ đó lại là một yếu tố quyết định.
Mà đúng ra, tôi nghĩ trong mọi kế hoạch của Đức Thánh Cha, có một mong muốn để đáp ứng với những mong đợi vốn được tạo ra ở tầm cở thế giới ngay từ lúc bắt đầu triều đại giáo hoàng của Ngài. Để đáp lại với những thách đố của nền thông tin toàn cầu, điều cần thiết là phải thay đổi rất nhiều điều chẳng hạn như: ngôn ngữ, cấu trúc, và trên tất cả đó chính là não trạng con người.
Ngay lúc bắt đầu công việc của tôi, tôi đã dành rất nhiều thời gian để cố tìm hiểu toàn thể Giáo Triều Rôma chính là gì, hiểu rõ toàn bộ các ngành, các bộ của Tòa Thánh để có thể thiết lập ra một nền tảng cho việc hợp tác tương hổ một cách có hiệu quả và tích cực hơn. Dĩ nhiên, kế đến là chúng tôi cố gắng đưa ra những thay đổi về cấu trúc để thi hành sứ vụ loan truyền thông tin một cách thanh thoát, nhanh chóng, nhịp nhàng.
(H): Thưa Tiến Sĩ, đâu là những khó khăn mà Ông đã gặp phải?
(T): Thưa, những thay đổi mà Đức Giáo Hoàng muốn đưa ra có liên hệ đến cách truyền đạt thông điệp tại tầm mức hoàn vũ, để nhằm ám chỉ đến một sự hợp tác chặt chẽ với các phương tiện truyền thông.
Vấn đề ở chổ là cái lôgic của Giáo Hội và của giới báo chí thì hoàn toàn khác biệt nhau. Cái lôgic của giới truyền thông đại chúng được hoàn toàn tùy thuộc vào những sự kiện hằng ngày. Các ý tưởng thường không được đào sâu mà chỉ được giới thiệu với tư cách cá nhân, và bằng cách này, những vấn đề không có liên quan gì đến các yếu tố văn hóa sẽ trở nên dứt khoát và rõ ràng hơn.
Hơn nữa, các tin tức phải là những gì đó mới mẽ tức thời; vấn đề xấu hay tốt không quan trọng. Chúng chính là những gì mà các lý thuyết gia về truyền thông gọi là những giới hạn về cấu trúc của ngành báo chí.
Mặt khác, cái lôgic của Giáo Hội chính là ở chổ mọi thứ đều phải được xem xét qua một thời gian dài, liệu phần đó có quan hệ như thế nào trong tổng thể của sự việc, liệu nó có gắn kết và hiệp nhất với tổng thể hay không nhằm mục đích nói lên rằng điều đó không thể nào được tách rời khỏi học thuyết về luân lý từ cuộc sống của con người và mối quan hệ với Thiên Chúa.
Vấn nạn cho chúng tôi chính là ổ chổ làm thế nào để cho hai cái lôgic khác biệt này có thể cùng chung sống và tồn tại với nhau. Chính triều đại giáo hoàng này đã cho chúng tôi lời đáp giải đáng khích lệ để chúng tôi thành công trong việc phối hợp với hai lôgic này lại với nhau. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã không tụt hậu với công luận; mà trái lại; giới truyền thông đại chúng đã phải chạy theo Ngài.
Ngài đã cải tiến ngôn ngữ mà mọi người thường hay diễn đạt cho nhau, để có thể đề cập và chú trọng tới những vấn đề hay những khía cạnh chính yếu của thực thể, mà chúng ta gọi là sự hiện đại hóa, và Ngài đã đưa ra những lời đáp giải bên trong cũng như ngoài phạm vi lãnh vực của Đạo Kitô giáo đến những vấn nạn của con người. Sự hứng thú vẫn còn rồ rộ ra đó và chẳng có dấu hiệu nào cho thấy phải giảm nhẹ nó đí.
(H): Thưa Tiến Sĩ, một ngày làm việc của Ông tại văn phòng báo chí Vaticăn sẽ như thế nào?
(T): Thưa, một ngày làm việc của tôi được bắt đầu từ rất sáng sớm vào khoảng 6 giờ sáng với một cuộc họp báo, vốn chưa bao giờ được thực hiện trước đây, và dĩ nhiên là với giới báo chí Ý Quốc. Nay, thì mọi sự đã khác, nó được thực hiện với giới báo chí toàn cầu.
Nhờ các mạng lưới truyền hình, chúng ta giờ đây đã có thể đón nhận được tất cả những bài viết mà chúng ta quan tâm đến và được xuất bản tới mọi miền khác nhau trên thế giới. Cuộc họp báo thường được phân chia thành 5 chủ đề: “Bằng Chứng/Chứng Cớ,” chủ yếu là các tin tức trên trang đầu, là trang rõ ràng và nổi nhất; rồi đến tin “Tòa Thánh” có liên quan tới Vaticăn; rồi đến tin từ “Các Giáo Hội Địa Phương” có liên quan tới các hoạt động được thực hiện bởi các giáo hội khác khau; sau đó là đến tin về “Luân Lý và Xã Hội,” vốn có liên quan tới các cung cách sống; và sau cùng là tin về “Chính Trị Quốc Tế,” nói về những chủ đề quan trọng vốn được hỏi mỗi ngày bởi các nhà báo.
Khi tôi đến văn phòng, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là xem xét lại nội dung của cuộc họp báo. Sau khi phân tích các chủ đề trong ngày, chúng tôi nghiên cứu đến hoạt động của Tòa Thánh, được bắt đầu với hoạt động của Đức Thánh Cha, và tiếp tục với sự phát hành ra các văn kiện, hoạt động của các Bộ trong giáo triều, các lời thông tin và giải thích về những chuyến viếng thăm quan trọng của các vị đại diện Tòa Thánh, vân vân.
Tất cả mọi sự kiện quan trọng đều được xem xét tới, vốn được in trong bản thông tin của văn phòng báo chí, và được phân phát mỗi ngày sau 12 giờ trưa.
Trước 10 giờ sáng, chúng tôi có một cuộc họp nhằm để kiểm chứng về cách chúng tôi trình bày chủ đề trong ngày trước khi được đem ra cho giới truyền thông đại chúng. Và chúng tôi thảo luận về cách thức để đính chính hay cải thiện thông tin một cách có hiệu quả. Trong lúc đó, thì vào buổi sáng, văn phòng này bắt đầu nhận được rất nhiều cú điện thoại, các bản fax, và các email từ bên Đông Phương yêu cầu thông tin.
Vào khoảng giữa ngày, thì Châu Âu mới bắt đầu thức dậy, cho đến 5 giờ chiều khi Gia Nã Đại, Hoa Kỳ và các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh bắt đầu với những yêu cầu của họ.
Một trong những khó khăn của văn phòng này là chúng tôi phải ý thức được khoảng thời gian khác nhau trên khắp thế giới, để khi những yêu cầu được gởi đến trong suốt 24 tiếng đồng hồ, thì mọi thông tin đều có sẵn cho họ. Khi tôi không có đầy đủ thông tin để đưa ra những câu trả lời chính xác, tôi liền quay qua phần 1 và 2 của Văn Phòng Thư Ký của Tòa Thánh, và dĩ nhiên là, tôi có một mối quan hệ trung kiên với vị Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Tôi phải nói rằng sự sẳn sàng và hiện diện của những ai làm việc cho văn phòng của Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, và cụ thể là, Đức Hồng Y Angelo Sodano, thì quả là phi thường, và đáng được khen ngợi.
Và tôi thì luôn lúc nào cũng phải sẳn sàng khi Đức Thánh Cha cần tới, vì Ngài là người mà tôi có cuộc gặp gỡ và hội họp đều đặn. Nếu tôi thấy vào buổi sáng rằng Đức Thánh Cha đang đón tiếp riêng ai đó, người mà tôi được công luận hỏi, thì tôi rời ngay tức khắc, cho đến khi Đức Thánh Cha tiếp người đó xong, thì tôi liền hỏi Ngài về chủ đề đã được thảo luận.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng trong ngần ấy những năm trời hợp tác với Đức Thánh Cha, tôi đã chưa bao giờ nghe Ngài nói rằng, “Hãy cẩn thận, vì thông tin này chỉ cho một mình con biết mà thôi.”
(H): Thưa Tiến Sĩ, Ông có bao giờ đề nghị cho Đức Thánh Cha về cung cách phải nên đối xử như thế nào trước giới truyền thông đại chúng không?
(T): Thưa, tôi có đưa ra một vài lời đề nghị cho Đức Thánh Cha: tuyệt đối cơ bản và trong những trường hết sức cần thiết mà thôi. Nhưng chính những dấu hiệu riêng của Đức Thánh Cha đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tời giới truyền thông đại chúng. Đó là những dấu chỉ có tính giá trị tượng trưng mạnh mẽ, nhằm có liên quan tới một điều gì đó đáng được coi trọng trên phạm vị toàn cầu.
Đức Thánh Cha không bao giờ quan tâm đến hình ảnh của Ngài. Sau một cuộc nghiên cứu lâu dài về Đức Thánh Cha trên truyền hình, một chỉ trích gia của tờ báo Nữu Ước đã bị thuyết phục rằng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị hoàn toàn đi ngược lại với những tiêu chuẩn cơ bản khi phải xuất hiện trên truyền hình, và điều đó, đã tạp cho Ngài có được sự thành công. Ngài phớt lờ giới truyền hình, và vì điều này, mà Ngài đã chết ngự được họ.
(H): Thưa Tiến Sĩ, thế Đức Giáo Hoàng có bao giờ than van về những gì mà các nhà báo đã viết về Ngài?
(T): Thưa, chưa bao giờ, tôi chưa nghe đến điều đó bao giờ, và chưa bao giờ Ngài than phiền về điều đó với tôi. Thậm chí ngay cả với các tình tiết minh họa hay những lời trào phúng vốn có thể làm tổn thương Ngài.
Chỉ những trường hợp duy nhất mà tôi đã nghe Ngài nói rằng phải cần thiết để phản ứng lại khi những điểm chính yếu của học thuyết đã bị méo mó, xuyên tạc. Tôi luôn cảm thấy rằng Ngài rất tỏ ra hiểu biết trong những lần hội họp với các nhà báo và những khó khăn của họ trong việc kiếm tìm thông tin.
(H): Thưa Tiến Sĩ, có rất nhiều lời đồn đại về sức khỏe của Ngài, liệu những lời đồn đại đó có làm Ngài mất đi sự kiên nhẫn không?
(T): Thưa, những gì mà Ngài không muốn đón nhận không phải là những vấn đề có liên quan tới sức khỏe của Ngàu, mà là sự phỏng đoán về việc Ngài có đủ khả năng để làm một vị Giáo Hoàng hay không. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị không chấp nhận điều đó vì sự nghi ngời về căn bệnh vốn có liên quan đến thần học về luân lý. Ngài chẳng phải ghen tuông gì cả đến hình ảnh của Ngài. Ngài không lo ngại khi có ai đó nhìn thấy Ngài phải đang chịu đựng căn bệnh; vì lẽ, Ngài biết rất rõ rằng sự đau đớn chính là một cảm nghiệm đặc thù của đời sống nhân loại.
(H): Thưa Tiến Sĩ, có lẽ Ông, là người được biết đến nhiều nhất từ Dòng Chủ Nghiệp (Opus Dei). Thế điều này có tạo ra những khó khăn gì cho Ông không?
(T): Thưa, Dòng Chủ Nghiệp đó chính là sự chọn lựa của riêng tôi, cách mà tôi sống trong một đại gia đình của Giáo Hội. Và việc trở thành thành viên của Dòng đã không tạo ra một khó khăn gì cả cho tôi trong mối quan hệ với những người khác bởi vì tôi làm công việc của mình với tư cách là một người chuyên nghiệp.
Vì lý do này, mà tôi không bao giờ phải bận tâm để biết về tôn giáo của những nhà báo làm việc với văn phòng báo chí Vaticăn. Điều duy nhất mà chúng tôi đòi hỏi chính là tính cách chuyên nghiệp của công việc.
(H): Thưa Tiến Sĩ, đâu là những tiêu chuẩn mà Ông cho ra là một người Vaticăn đúng đắn?
(T): Thưa, đó không phải là thói quen của tôi để đưa ra những lời khuyên cho các đồng nghiệp. Tuy nhiên, tôi có thể liên hệ tới kinh nghiệm chuyên nghiệp của tôi với tư cách là một nhà báo vì lẽ, trước tiên tôi chính là một vị bác sĩ y khoa và là một thầy giáo. Tôi là thông tín viên ngoại quốc trong khu vực phía Đông của vùng Địa Trung Hải, là nơi mà các tôn giáo đóng một vai trò quan trọng.
Cho dẫu ở Hy Lạp hay Thổ Nhĩ Kỳ, ở Israel hay tại các quốc gia Hồi Giáo của vùng Bắc Phi Châu, kinh nghiệm của tôi chính là tôi không thể hiểu một số các sự kiện về đời sống công cộng và xã hội của những nước này trừ phi tôi nghiên cứu về tôn giáo ở vùng hậu phương.
Cũng cùng một lý do tương tự, thật khó để hiểu được một vài vị trí của Tòa Thánh nếu như ai đó không hiểu biết gì về nhân loại học Kitô giáo, học thuyết và đạo đức Kitô giáo của Giáo Hội. Để đọc những sự kiện diễn ra tại Vaticăn với đầu óc hoàn toàn thuần túy mang tính chất chính trị, thì chẳng có thể hiểu được gì cả.
Vì lý do đó mà tôi không muôn nói rằng ai đó phải trở thành một người Công Giáo thì mới có thể trở thành một người Vaticăn đứng đắn (good Vaticanist). Tôi đã không trở thành một người Hồi Giáo để hiểu được tại sao Sadat đã bị ám sát. Để viết ra những tin tức hay, cần thiết phải có kiến thức về tôn giáo, về đạo đức, về lịch sử lẫn văn hóa. Kiến thức của một nhà báo càng sâu rộng bao nhiêu, thì công việc của nhà báo ấy càng hữu ích và trọn vẹn nhiều bấy nhiêu.
Nhân dịp đánh dấu 20 năm với tư cách là phát ngôn viên của Vaticăn.
ROME, DEC. 6, 2004.- Đó là vào năm 1974 khi Tiến Sĩ Joaquín Navarro Valls cùng với Giovanni Caprile, đã khuấy lên cuộc tranh luận công khai về sự thiếu vắng các thông tin chính thức cần cho Nghị Hội về Rao Giảng Tin Mừng. Người điều phối cho Nghị Hội lúc đó là Đức Hồng Y Karol Wojtyla.
Mười năm sau đó, vào ngày 4 tháng 12 năm 1984, Đức Hồng Y Wojtyla, nay là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị, đã bổ nhiệm Navarro Valls làm Giám Đốc Văn Phòng Báo Chí Tòa Thánh. Sự bổ nhiệm một người giáo dân và thành viên của Opus Dei (Dòng Chủ Nghiệp) vào văn phòng báo chí của Vaticăn đã gây không ít xôn xao, bàn tán, thế nhưng lúc ấy không ai có thể tưởng tượng được những mối quan hệ với các nhà báo và các phương tiện truyền thông đại chúng đã phải thay đổi đến mức độ nào.
Đúng ra là Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã cải thiện hóa hình ảnh của triều đại giáo hoàng và của toàn thể giáo triều Rôma trong giới truyền thông đại chúng. Ngài là vị Giáo Hoàng đầu tiên tổ chức ra những cuộc họp báo một cách đều đặn để trả lời các câu hỏi của các nhà báo và đã cho phép xuất bản ra cuốn sách mà Ngài được giới báo chí phỏng vấn.
Sự chọn lựa Tiến Sĩ Navarro Valls cũng chính là một phần của cuộc canh tân hóa. Với sự gia nhập của phát ngôn viên trong văn phòng báo chí Tòa Thánh, những cuộc họp và thuyết trình ngắn với các nhà báo được tăng lên gấp bội, và các văn kiện vốn trước kia bị cấm, thì nay được phân phát cho giới báo chí. Giờ đây, hơn 80% các tin tức về hoạt động của Hội Thánh và của Đức Thánh Cha đều đến từ văn phòng báo chí của Vaticăn.
Trong một cuộc phỏng vấn cách đây không lâu với nhà báo Antonio Gaspari, Tiến Sĩ Navarro Valls nói: “Những công viêc mà chúng tôi cố gắng làm tại văn phòng báo chí Vaticăn chính là để đấu tranh (combat) chống lại các thành kiến, vốn đã có thời còn tồn tại, không phải là qua những lỗi lầm của chúng tôi mà là bởi sự ngoan cố (obstinacy) của một số cá nhân.”
Nhân dịp đánh dấu kỷ niệm 20 năm của việc Tiến Sĩ Navarro Valls được bổ nhiệm làm giám đốc văn phòng báo chí Vaticăn vào ngày 6 tháng 12 vừa qua, hãng tin Zenit đã quyết định cho đăng nội dung của bài phỏng vấn sau.
Hỏi (H): Thưa Tiến Sĩ, Ông có thể đưa ra một số ví dụ cho thấy làm thế nào mà các mối quan hệ với các nhà báo đã thay đổi?
Tiến Sĩ Valls: Thưa, có rất nhiều ví dụ, nhân đây tôi chỉ đề cập ra một số ví dụ mà tôi cho là quan trọng. Giờ đây, các nhà báo có thể theo Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đến khắp mọi nơi. Đức Giáo Hoàng còn thậm chí cho phép các ống kính truyền hình quay phim cuộc gặp gỡ của Ngài tại nhà tù ở Rebibbia với Ali Agca, người đã cố gắng sát hại Ngài.
Ngài không bao giờ đưa ra các lời chỉ trích, thậm chí ngay cả đối với những câu hỏi có liên quan tới sức khỏe cá nhân của Ngài. Vào tháng 7 năm 1992, là lúc Ngài khám phá ra được rằng Ngài bị bệnh ung thư, trước khi biết được rằng khối u đó chính là bướu lành hay ác tính, Ngài gọi tôi và nói: “Cha sẽ đề cập đến điều này trong lúc đọc Kinh Truyền Tin, rồi con sẽ nói cho giới báo chí những gì mà con nghĩ là đúng nhất.”
Trong suốt toàn bộ thời gian bình phục của Ngài tại bệnh viện, chúng tôi đã sẳn sàng, một cách không do dự cung cấp toàn bộ thông tin cho giới báo chí. Sau cuộc phẩu thuật chân của Ngài vì bị gãy xương đùi, chúng tôi đã cho đoàn làm phim của Đài Phát Thanh và Truyền Hình Ý Quốc xem đĩa X quang cho thấy sự lắp ghép một bộ phận giả vào chân của Ngài. Vì thái độ rõ ràng đó, tôi thậm chí nhận được rất nhiều lời chỉ trích.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng đằng sau thái độ này không chỉ đó là một kỷ thuật để đưa tin nhằm có tác dụng nâng cao kiến thức mà đó cũng còn là cách để hiểu được về Giáo Hội và Đức Giáo Hoàng.
(H): Thưa Tiến Sĩ, đâu là những mối quan hệ của Ông đối với Đức Thánh Cha và Ông nghĩ gì khi Ông được biết mình đã được chọn để làm giám đốc văn phòng báo chí của Vaticăn?
(T): Thưa, khi tôi hay biết được rằng Đức Giáo Hoàng đã bổ nhiệm tôi vào làm giám đốc của văn phòng báo chí Tòa Thánh, tôi rất là phân vân, hồi hộp với không ít những ngờ vực, nhưng thời gian lại quá eo hẹp. Lúc đó, tôi đang là chủ tịch của Câu Lạc Bộ Báo Chí Quốc Tế. 500 nhà báo tại Rôma đã chọn tôi làm chủ tịch cho nhiệm kỳ thứ hai mặc dầu lúc đó tôi đã quyết định phải chấm dứt sự nghiệp báo chí mạo hiểm của tôi để quay trở về Tây Ban Nha, và đảm nhiệm lấy vai trò thiết yếu của tôi, chính là trở thành một thầy giáo tại trường y.
Vào lúc đó, kiến thức của tôi về Đức Giáo Hoàng rất ư là hạn hẹp. Tôi đã thực hiện một vài chuyến với tư cách là một nhà báo và một phần là đoàn tùy tùng của Ngài, và chỉ có nhiêu đó thôi. Đôi lúc, tôi vẫn thường hay phân vân tại sao Ngài lại chọn tôi. Tôi rất vui mừng nhận được sự tín nhiệm của các nhà báo của các văn phòng báo chí nước ngoài, những người đã chọn tôi làm vị chủ tịch của họ, thế nhưng tôi không nghĩ đó lại là một yếu tố quyết định.
Mà đúng ra, tôi nghĩ trong mọi kế hoạch của Đức Thánh Cha, có một mong muốn để đáp ứng với những mong đợi vốn được tạo ra ở tầm cở thế giới ngay từ lúc bắt đầu triều đại giáo hoàng của Ngài. Để đáp lại với những thách đố của nền thông tin toàn cầu, điều cần thiết là phải thay đổi rất nhiều điều chẳng hạn như: ngôn ngữ, cấu trúc, và trên tất cả đó chính là não trạng con người.
Ngay lúc bắt đầu công việc của tôi, tôi đã dành rất nhiều thời gian để cố tìm hiểu toàn thể Giáo Triều Rôma chính là gì, hiểu rõ toàn bộ các ngành, các bộ của Tòa Thánh để có thể thiết lập ra một nền tảng cho việc hợp tác tương hổ một cách có hiệu quả và tích cực hơn. Dĩ nhiên, kế đến là chúng tôi cố gắng đưa ra những thay đổi về cấu trúc để thi hành sứ vụ loan truyền thông tin một cách thanh thoát, nhanh chóng, nhịp nhàng.
(H): Thưa Tiến Sĩ, đâu là những khó khăn mà Ông đã gặp phải?
(T): Thưa, những thay đổi mà Đức Giáo Hoàng muốn đưa ra có liên hệ đến cách truyền đạt thông điệp tại tầm mức hoàn vũ, để nhằm ám chỉ đến một sự hợp tác chặt chẽ với các phương tiện truyền thông.
Vấn đề ở chổ là cái lôgic của Giáo Hội và của giới báo chí thì hoàn toàn khác biệt nhau. Cái lôgic của giới truyền thông đại chúng được hoàn toàn tùy thuộc vào những sự kiện hằng ngày. Các ý tưởng thường không được đào sâu mà chỉ được giới thiệu với tư cách cá nhân, và bằng cách này, những vấn đề không có liên quan gì đến các yếu tố văn hóa sẽ trở nên dứt khoát và rõ ràng hơn.
Hơn nữa, các tin tức phải là những gì đó mới mẽ tức thời; vấn đề xấu hay tốt không quan trọng. Chúng chính là những gì mà các lý thuyết gia về truyền thông gọi là những giới hạn về cấu trúc của ngành báo chí.
Mặt khác, cái lôgic của Giáo Hội chính là ở chổ mọi thứ đều phải được xem xét qua một thời gian dài, liệu phần đó có quan hệ như thế nào trong tổng thể của sự việc, liệu nó có gắn kết và hiệp nhất với tổng thể hay không nhằm mục đích nói lên rằng điều đó không thể nào được tách rời khỏi học thuyết về luân lý từ cuộc sống của con người và mối quan hệ với Thiên Chúa.
Vấn nạn cho chúng tôi chính là ổ chổ làm thế nào để cho hai cái lôgic khác biệt này có thể cùng chung sống và tồn tại với nhau. Chính triều đại giáo hoàng này đã cho chúng tôi lời đáp giải đáng khích lệ để chúng tôi thành công trong việc phối hợp với hai lôgic này lại với nhau. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị đã không tụt hậu với công luận; mà trái lại; giới truyền thông đại chúng đã phải chạy theo Ngài.
Ngài đã cải tiến ngôn ngữ mà mọi người thường hay diễn đạt cho nhau, để có thể đề cập và chú trọng tới những vấn đề hay những khía cạnh chính yếu của thực thể, mà chúng ta gọi là sự hiện đại hóa, và Ngài đã đưa ra những lời đáp giải bên trong cũng như ngoài phạm vi lãnh vực của Đạo Kitô giáo đến những vấn nạn của con người. Sự hứng thú vẫn còn rồ rộ ra đó và chẳng có dấu hiệu nào cho thấy phải giảm nhẹ nó đí.
(H): Thưa Tiến Sĩ, một ngày làm việc của Ông tại văn phòng báo chí Vaticăn sẽ như thế nào?
(T): Thưa, một ngày làm việc của tôi được bắt đầu từ rất sáng sớm vào khoảng 6 giờ sáng với một cuộc họp báo, vốn chưa bao giờ được thực hiện trước đây, và dĩ nhiên là với giới báo chí Ý Quốc. Nay, thì mọi sự đã khác, nó được thực hiện với giới báo chí toàn cầu.
Nhờ các mạng lưới truyền hình, chúng ta giờ đây đã có thể đón nhận được tất cả những bài viết mà chúng ta quan tâm đến và được xuất bản tới mọi miền khác nhau trên thế giới. Cuộc họp báo thường được phân chia thành 5 chủ đề: “Bằng Chứng/Chứng Cớ,” chủ yếu là các tin tức trên trang đầu, là trang rõ ràng và nổi nhất; rồi đến tin “Tòa Thánh” có liên quan tới Vaticăn; rồi đến tin từ “Các Giáo Hội Địa Phương” có liên quan tới các hoạt động được thực hiện bởi các giáo hội khác khau; sau đó là đến tin về “Luân Lý và Xã Hội,” vốn có liên quan tới các cung cách sống; và sau cùng là tin về “Chính Trị Quốc Tế,” nói về những chủ đề quan trọng vốn được hỏi mỗi ngày bởi các nhà báo.
Khi tôi đến văn phòng, nhiệm vụ đầu tiên của tôi là xem xét lại nội dung của cuộc họp báo. Sau khi phân tích các chủ đề trong ngày, chúng tôi nghiên cứu đến hoạt động của Tòa Thánh, được bắt đầu với hoạt động của Đức Thánh Cha, và tiếp tục với sự phát hành ra các văn kiện, hoạt động của các Bộ trong giáo triều, các lời thông tin và giải thích về những chuyến viếng thăm quan trọng của các vị đại diện Tòa Thánh, vân vân.
Tất cả mọi sự kiện quan trọng đều được xem xét tới, vốn được in trong bản thông tin của văn phòng báo chí, và được phân phát mỗi ngày sau 12 giờ trưa.
Trước 10 giờ sáng, chúng tôi có một cuộc họp nhằm để kiểm chứng về cách chúng tôi trình bày chủ đề trong ngày trước khi được đem ra cho giới truyền thông đại chúng. Và chúng tôi thảo luận về cách thức để đính chính hay cải thiện thông tin một cách có hiệu quả. Trong lúc đó, thì vào buổi sáng, văn phòng này bắt đầu nhận được rất nhiều cú điện thoại, các bản fax, và các email từ bên Đông Phương yêu cầu thông tin.
Vào khoảng giữa ngày, thì Châu Âu mới bắt đầu thức dậy, cho đến 5 giờ chiều khi Gia Nã Đại, Hoa Kỳ và các nước thuộc Châu Mỹ La Tinh bắt đầu với những yêu cầu của họ.
Một trong những khó khăn của văn phòng này là chúng tôi phải ý thức được khoảng thời gian khác nhau trên khắp thế giới, để khi những yêu cầu được gởi đến trong suốt 24 tiếng đồng hồ, thì mọi thông tin đều có sẵn cho họ. Khi tôi không có đầy đủ thông tin để đưa ra những câu trả lời chính xác, tôi liền quay qua phần 1 và 2 của Văn Phòng Thư Ký của Tòa Thánh, và dĩ nhiên là, tôi có một mối quan hệ trung kiên với vị Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Tôi phải nói rằng sự sẳn sàng và hiện diện của những ai làm việc cho văn phòng của Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh, và cụ thể là, Đức Hồng Y Angelo Sodano, thì quả là phi thường, và đáng được khen ngợi.
Và tôi thì luôn lúc nào cũng phải sẳn sàng khi Đức Thánh Cha cần tới, vì Ngài là người mà tôi có cuộc gặp gỡ và hội họp đều đặn. Nếu tôi thấy vào buổi sáng rằng Đức Thánh Cha đang đón tiếp riêng ai đó, người mà tôi được công luận hỏi, thì tôi rời ngay tức khắc, cho đến khi Đức Thánh Cha tiếp người đó xong, thì tôi liền hỏi Ngài về chủ đề đã được thảo luận.
Tôi muốn nhấn mạnh rằng trong ngần ấy những năm trời hợp tác với Đức Thánh Cha, tôi đã chưa bao giờ nghe Ngài nói rằng, “Hãy cẩn thận, vì thông tin này chỉ cho một mình con biết mà thôi.”
(H): Thưa Tiến Sĩ, Ông có bao giờ đề nghị cho Đức Thánh Cha về cung cách phải nên đối xử như thế nào trước giới truyền thông đại chúng không?
(T): Thưa, tôi có đưa ra một vài lời đề nghị cho Đức Thánh Cha: tuyệt đối cơ bản và trong những trường hết sức cần thiết mà thôi. Nhưng chính những dấu hiệu riêng của Đức Thánh Cha đã có ảnh hưởng mạnh mẽ tời giới truyền thông đại chúng. Đó là những dấu chỉ có tính giá trị tượng trưng mạnh mẽ, nhằm có liên quan tới một điều gì đó đáng được coi trọng trên phạm vị toàn cầu.
Đức Thánh Cha không bao giờ quan tâm đến hình ảnh của Ngài. Sau một cuộc nghiên cứu lâu dài về Đức Thánh Cha trên truyền hình, một chỉ trích gia của tờ báo Nữu Ước đã bị thuyết phục rằng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị hoàn toàn đi ngược lại với những tiêu chuẩn cơ bản khi phải xuất hiện trên truyền hình, và điều đó, đã tạp cho Ngài có được sự thành công. Ngài phớt lờ giới truyền hình, và vì điều này, mà Ngài đã chết ngự được họ.
(H): Thưa Tiến Sĩ, thế Đức Giáo Hoàng có bao giờ than van về những gì mà các nhà báo đã viết về Ngài?
(T): Thưa, chưa bao giờ, tôi chưa nghe đến điều đó bao giờ, và chưa bao giờ Ngài than phiền về điều đó với tôi. Thậm chí ngay cả với các tình tiết minh họa hay những lời trào phúng vốn có thể làm tổn thương Ngài.
Chỉ những trường hợp duy nhất mà tôi đã nghe Ngài nói rằng phải cần thiết để phản ứng lại khi những điểm chính yếu của học thuyết đã bị méo mó, xuyên tạc. Tôi luôn cảm thấy rằng Ngài rất tỏ ra hiểu biết trong những lần hội họp với các nhà báo và những khó khăn của họ trong việc kiếm tìm thông tin.
(H): Thưa Tiến Sĩ, có rất nhiều lời đồn đại về sức khỏe của Ngài, liệu những lời đồn đại đó có làm Ngài mất đi sự kiên nhẫn không?
(T): Thưa, những gì mà Ngài không muốn đón nhận không phải là những vấn đề có liên quan tới sức khỏe của Ngàu, mà là sự phỏng đoán về việc Ngài có đủ khả năng để làm một vị Giáo Hoàng hay không. Đức Thánh Cha Gioan Phaolô Đệ Nhị không chấp nhận điều đó vì sự nghi ngời về căn bệnh vốn có liên quan đến thần học về luân lý. Ngài chẳng phải ghen tuông gì cả đến hình ảnh của Ngài. Ngài không lo ngại khi có ai đó nhìn thấy Ngài phải đang chịu đựng căn bệnh; vì lẽ, Ngài biết rất rõ rằng sự đau đớn chính là một cảm nghiệm đặc thù của đời sống nhân loại.
(H): Thưa Tiến Sĩ, có lẽ Ông, là người được biết đến nhiều nhất từ Dòng Chủ Nghiệp (Opus Dei). Thế điều này có tạo ra những khó khăn gì cho Ông không?
(T): Thưa, Dòng Chủ Nghiệp đó chính là sự chọn lựa của riêng tôi, cách mà tôi sống trong một đại gia đình của Giáo Hội. Và việc trở thành thành viên của Dòng đã không tạo ra một khó khăn gì cả cho tôi trong mối quan hệ với những người khác bởi vì tôi làm công việc của mình với tư cách là một người chuyên nghiệp.
Vì lý do này, mà tôi không bao giờ phải bận tâm để biết về tôn giáo của những nhà báo làm việc với văn phòng báo chí Vaticăn. Điều duy nhất mà chúng tôi đòi hỏi chính là tính cách chuyên nghiệp của công việc.
(H): Thưa Tiến Sĩ, đâu là những tiêu chuẩn mà Ông cho ra là một người Vaticăn đúng đắn?
(T): Thưa, đó không phải là thói quen của tôi để đưa ra những lời khuyên cho các đồng nghiệp. Tuy nhiên, tôi có thể liên hệ tới kinh nghiệm chuyên nghiệp của tôi với tư cách là một nhà báo vì lẽ, trước tiên tôi chính là một vị bác sĩ y khoa và là một thầy giáo. Tôi là thông tín viên ngoại quốc trong khu vực phía Đông của vùng Địa Trung Hải, là nơi mà các tôn giáo đóng một vai trò quan trọng.
Cho dẫu ở Hy Lạp hay Thổ Nhĩ Kỳ, ở Israel hay tại các quốc gia Hồi Giáo của vùng Bắc Phi Châu, kinh nghiệm của tôi chính là tôi không thể hiểu một số các sự kiện về đời sống công cộng và xã hội của những nước này trừ phi tôi nghiên cứu về tôn giáo ở vùng hậu phương.
Cũng cùng một lý do tương tự, thật khó để hiểu được một vài vị trí của Tòa Thánh nếu như ai đó không hiểu biết gì về nhân loại học Kitô giáo, học thuyết và đạo đức Kitô giáo của Giáo Hội. Để đọc những sự kiện diễn ra tại Vaticăn với đầu óc hoàn toàn thuần túy mang tính chất chính trị, thì chẳng có thể hiểu được gì cả.
Vì lý do đó mà tôi không muôn nói rằng ai đó phải trở thành một người Công Giáo thì mới có thể trở thành một người Vaticăn đứng đắn (good Vaticanist). Tôi đã không trở thành một người Hồi Giáo để hiểu được tại sao Sadat đã bị ám sát. Để viết ra những tin tức hay, cần thiết phải có kiến thức về tôn giáo, về đạo đức, về lịch sử lẫn văn hóa. Kiến thức của một nhà báo càng sâu rộng bao nhiêu, thì công việc của nhà báo ấy càng hữu ích và trọn vẹn nhiều bấy nhiêu.