KINH NGHIỆM NIỀM VUI PHỤC SINH
VỚI ÐỨC MARIA
“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-mon Phêrô và người môn đệ Ðức Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?” Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải ở đó, và khăn che đầu Ðức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Ðức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà” (Ga 20:1-8).
Vào thứ Tư Lễ Tro, ngày 25 tháng 2 năm 2004, phim “The Passion of The Christ”, “Cuộc Thương Khó của Ðức Kitô” của đạo diễn Mel-Gibson, ra mắt khán giả ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới. Cuốn phim diễn tả những điều đã xảy ra trong 12 giờ cuối cùng của cuộc đời Ðức Giêsu. Tính cho đến ngày Chúa Nhật Lễ Lá, lợi tức thu nhập của cuốn phim đã lên đến con số kỷ lục trên 302 triệu đô la riêng tại Hoa Kỳ. Ngoài sự thành công về tài chính, cuốn phim còn có giá trị về nhiều khía cạnh tinh thần và nghệ thuật. Tuy nhiên cuốn phim cũng đã gây nên nhiều cuộc tranh luận. Một trong những khuyết điểm được nêu lên là sự thiếu quân bình về thần học và đời sống thiêng liêng, nếu không có sự sống lại.
Thật vậy, truyền thống của Giáo Hội Công Giáo vẫn có mười bốn chặng đường Thánh Giá, nhưng nay nhiều nhà thờ đã thêm vào chặng đàng thứ mười lăm, sự Phục Sinh hoặc Sống Lại của Ðức Giêsu Kitô. Bởi nếu không có sự Sống Lại của Ðức Giêsu Kitô thì Kitô Giáo sẽ trở nên vô nghĩa. Thánh Phaolô cũng đã dạy rằng: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, thì việc giảng dạy của chúng tôi là vô ích, và đức tin của chúng ta cũng vô ích.” (1 Cr 15:14).
Thế nhưng niềm tin vào người chết sống lại mới chỉ xuất hiện vào thời kỳ cuối của Cựu Ước trong các sách Maccabê (2 Mcb 7): về sự sống đời đời dành cho các vị tử đạo; và Ðanien (Ðn 12:1-4): về một Ðấng Tạo Hóa toàn năng, Thiên Chúa của sự sống và công lý sẽ nâng những người công chính đã bị hành quyết chỗi dậy.
Vào thời đại của Chúa Giêsu, sự sống lại của kẻ chết vẫn còn là một vấn đề đang tranh cãi. Những người Biệt Phái thì tin, nhưng những người Sađucêo lại không tin vào sự sống lại của những người đã chết (Mc 12:24, 27). Ngay chính nhóm mười hai tông đồ cũng không hiểu lời loan báo về sự sống lại trong Thánh Kinh liên quan trước hết đến chính Chúa Giêsu: “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Thánh Kinh, Ðức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20:9). Chính vì thế, sự chết và việc mai táng của Chúa Giêsu đã làm cho họ thất vọng (Mc 16:14; Lc 24: 21-24, 37; Ga 20:19).
Ðối với các tông đồ và những người phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, kinh nghiệm Phục Sinh là một kinh nghiệm hoàn toàn mới mẻ. Vì mới mẻ nên họ rất kinh ngạc. Và từ kinh ngạc đã dẫn đến niềm vui vô cùng lớn lao như thánh Mátthêu đã diễn tả: “Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho các môn đệ Ðức Giêsu hay.” (Mt 28:1-10).
Bắt nguồn từ niềm vui Phục Sinh, nên toàn bộ Bốn Phúc Âm, được gọi là Tin Mừng, đã được viết ra trong ánh sáng của niềm tin về kinh nghiệm này. Kinh nghiệm này rất khác nhau giữa Ðức Maria và những người đi theo Chúa Giêsu mà điển hình là bà Maria Mácđala.
1- KINH NGHIỆM PHỤC SINH CỦA ÐỨC MARIA:
Khi học về lịch sử thành hình của Phúc Âm tôi biết rằng phần được viết trước nhất là phần cuối của Phúc Âm: tường thuật về sự chết, sống lại và lên Trời của Chúa Giêsu. Còn phần thời thơ ấu của Ngài được bổ túc thêm vào sau này. Như vậy, để hiểu ý nghĩa sâu xa của từng biến cố trong Phúc Âm, chúng ta phải đọc và suy niệm trong ánh sáng Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô.
Chính Phụng vụ Thánh Thể, trung tâm điểm thờ phượng của Giáo Hội, đã khởi sự ngay sau biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô để tưởng niệm sự chết và sống lại của Người. Lễ Phục Sinh được cử hành trước nhất, rồi mãi mấy thế kỷ về sau mới có lễ Giáng Sinh!
Lần cuối cùng Phúc âm nhắc đến Ðức Maria qua bản tường thuật của thánh Gioan lúc Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá (Ga 19: 25-27). Chắc chắn rằng trong cuộc hành trình thương khó: từ khi bị bắt, bị lên án, bị đánh đòn, vác thập giá và chịu chết, Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, phải là người theo dõi, gắn bó, và cùng bước với Chúa Giêsu trong mọi nỗi khổ đau. Người mẹ mất ăn, mất ngủ, vì con. Ðây là lẽ tự nhiên, không cần phải tranh cãi. Nhưng nếu người mẹ là người đau khổ nhất, thì khi Chúa Giêsu sống lại, Ðức Maria phải là người vui mừng nhất, nhưng tại sao Phúc Âm lại im lặng?
Các Phúc Âm đã không nói gì về thái độ và phản ứng của Ðức Maria trước biến cố sống lại của Chúa Giêsu. Phúc âm chỉ diễn tả Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên với bà Maria Mácđala (Mc 16:9; Ga 20:11-18), với một nhóm phụ nữ (Mt 28:9), và các môn đệ (Lc 24:15, 36; Ga 20:26; Mt 28:18), nhưng không đề cập gì đến Ðức Maria. Sự thật là Chúa Giêsu đã không hiện ra lần nào với Mẹ Người cả! Tại sao?
Xin thưa, Phúc Âm đã nói đến rồi! Ðọc lại Phúc Âm bằng kinh nghiệm của niềm vui Phục Sinh, chúng ta sẽ nhận ra đức tin mẫu mực và sự vui mừng khôn xiết của Ðức Maria.
Phúc Âm Gioan nói về Ðức Maria hai lần: tại tiệc cưới Cana (Ga 2: 1-11) và dưới chân thập giá (Ga 19:25-27). Tại tiệc cưới Cana khi chưa có ai biết Ðức Giêsu là ai, thì trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Ðức Maria đã giúp cho các môn đệ tin vào Người (Ga 2:11). Cũng thế, đứng dưới chân thập giá, khi niềm tin của chính Gioan và bà Maria Mácđala đang bị giao động và lung lạc, thì chỉ có niềm tin của Ðức Maria là vững vàng. Sau này, chính Gioan đã tự thú nhận rằng khi nhìn thấy mồ trống, ông mới tin (Ga 20:8). Còn bà Maria Mácđala đứng buồn bã khóc lóc có vẻ tuyệt vọng ở bên ngoài mộ (Ga 20:11). Như vậy trong giờ tử nạn của Chúa Giêsu, khi đứng dưới chân thập giá, niềm tin của Gioan và bà Maria Mácđala đang bị khủng hoảng. Ðối với các môn đệ, sau nhiều lần Chúa Giêsu hiện ra với họ rồi, lúc đó các ông mới tin (Lc 24:15, 36, 50-51; Ga 20:26; 21:1; 1 Cr 15:6; Mt 28:18).
Chúa Giêsu đã phải hiện ra nhiều lần với các phụ nữ và các môn đệ vì niềm tin về Ðức Giêsu Sống Lại của họ chưa có, mới đang được mạc khải và thành hình dần dần mà thôi (GLCG # 992). Còn đối với Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, niềm tin vào sự sống lại đời đời nơi Thiên Chúa đã vững vàng ngay từ lúc Nhập Thể với hai tiếng “xin vâng” (Lc 1:38). Thần Khí của Ðức Giêsu Sống Lại đã luôn ở với Mẹ Người. Do đó, sự hiện ra bằng hình dáng bề ngoài không còn cần thiết đối với Ðức Maria nữa!
Ðức Maria đã sống trọn vẹn cuộc hành trình đức tin với Con Mẹ, Chúa Giêsu. Mẹ đã chia sẻ mầu nhiệm tình yêu sâu xa của Thiên Chúa với Con Mẹ. Bởi thế, Mẹ đã không phải đối diện với sự thử thách và khó khăn mà Phêrô, Maria Mácđala, và các môn đệ trên đường Emmau đang trải qua để tin vào Sự Sống Lại của Chúa Giêsu.
Ðức tin phát sinh niềm vui. Phúc Âm Luca diễn tả sự vui mừng của Ðức Maria trong lời kinh “Ngợi Khen”, “Magnificat”: “Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi. Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1: 46-56). Chúng ta sẽ hiểu sự vui mừng trọng đại và ân phúc cao cả được ban cho Ðức Maria như thế nào, nếu không qua ánh sáng Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô? Nếu cứ theo thứ tự của bản tường thuật trong Phúc Âm, thì kinh “Ngợi Khen” của Ðức Maria xảy ra sau khi sứ thần truyền tin. Vừa mang thai Hài Nhi trong lòng, mặc dù cũng vui mừng, nhưng Ðức Maria đâu đã biết tương lai xảy ra thế nào, Hài Nhi sẽ làm gì, thế nào là Ðấng Cứu Ðộ? Trái lại, theo tâm lý, các bà thường băn khoăn và lo âu là khác!
Chỉ trong ánh sáng Phục Sinh, Ðức Maria mới nhận ra Ðức Giêsu là “Ðấng Cứu Ðộ tôi”, và tất cả công trình cứu chuộc của Thiên Chúa thực hiện là ân phúc. Chính trong niềm tin vào sự sống lại đời đời, Ðức Maria mới được coi là “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”, và “Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Thật vậy, diễm phúc vĩ đại nhất dành cho Ðức Maria là cùng được sống lại với Ðức Giêsu Kitô (Ga 11:25; Cl 2:12; 3;1; 2 Cr 5:8). Diễm phúc được cả hồn và xác hưởng phúc thiên đàng, như tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã tuyên bố, trước tiên dành cho Ðức Maria. Rồi sau đó sẽ tới mọi người tín hữu như Giáo Hội tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Thật sự, không có ân phúc nào lớn lao bằng ân phúc này, và cũng không có niềm vui sướng nào bằng lời kinh “Ngợi Khen” của Ðức Maria.
Quả vậy, sau biến cố Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô khá lâu, mãi đến năm 80, hay 90, sự hình thành của Phúc Âm Luca, với bài tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu mới xuất hiện. Lúc ấy, kinh nghiệm vui mừng về Ðức Giêsu Kitô Phục Sinh của Ðức Maria đã trở thành niềm xác tín bao trùm toàn thể Giáo Hội rồi.
2- KINH NGHIỆM PHỤC SINH CỦA BÀ MARIA MÁCÐALA:
Phúc âm cho chúng ta biết một số những người phụ nữ đã tin vào Ðức Giêsu Kitô Phục Sinh trước cả các tông đồ (Mt 28:9). Thánh Gioan, người môn đệ yêu quý của Chúa Giêsu, người đã được tin tưởng trao phó cho Ðức Maria, đã chú ý đặc biệt đến con đường đức tin của bà Maria Mácđala. Bà Maria Mácđala cũng là một khuôn mẫu của niềm tin cho chúng ta noi theo. Một đức tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh là Ðấng đã thanh tẩy và hoán cải con người của bà dần dần, từng bước, qua những kinh nghiệm tội lỗi, ăn năn thống hối, được nâng đỡ, an ủi, tha thứ và yêu thương trong cuộc đời, chứ không phải chỉ mở mắt ra là thấy ánh bình minh ngay.
Maria Mácđala là ai mà được Chúa Giêsu hiện ra trước tiên? Các Phúc Âm đều ghi rõ bà là chứng nhân trong các biến cố cuối đời của Chúa Giêsu: đóng đinh (Mc 15:40; Mt 27:56; Ga 19:25), an táng (Mc 15:47; Mt 27:6), mồ trống (Mc 16:18; Mt 28:1-10; Lc 24:10), và sống lại (Mc 16:9; Ga 20:1-18).
Mácđala là một trung tâm quan trọng về thương mại, ngư nghiệp và nông nghiệp của vùng Galilêa ngày xưa. Phúc âm của Máccô (16:9) và Luca (8:2) nói rõ, bà Maria này đến từ Mácđala, đã được Chúa Giêsu trừ cho khỏi bẩy quỷ. Ngày xưa nói quỷ ám để chỉ một tình trạng bệnh hoạn về thể xác hay tinh thần. Vì Mácđala là một thành phố sầm uất về kinh tế, nên có thể bà Maria Mácđala đã bị mang tiếng vì những cách sinh sống tội lỗi để kiếm tiền ở đây.
Bởi thế, có một truyền thống từ thế kỷ thứ sáu, đã đồng hóa bà Maria Mácđala này với người đàn bà tội lỗi đã ăn năn khóc lóc, lấy tóc và dầu thơm đựng trong bình bạch ngọc mà lau chân Chúa Giêsu trong bữa tiệc ở nhà ông Simon Pharisiêu (Lc 7: 36-50). Người phụ nữ tội lỗi được tha thứ nhiều nên đã yêu mến Chúa hết lòng.
Lại có người cho rằng người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (Ga 8:1-11) là bà Maria Mácđala. Bởi vì bà đã được Chúa Giêsu bênh đỡ trong cuộc xử án, thoát khỏi bị ném đá, lẽ nào đã không có mặt với Người trong cuộc thương khó và sự chết của Người. Như một tội nhân bị lên án, bà đã biết thông cảm và yêu thương Chúa Giêsu, một nạn nhân vô tội, hơn bất cứ một người nào khác.
Những truyền thống trên có lẽ không chắc chắn vì có rất nhiều phụ nữ mang tên Maria thời Chúa Giêsu. Hơn nữa, một người phụ nữ khác, bà Maria làng Bêtania, em của Mácta và Lagiarô (Lc 10:39), là những người bạn rất thân thiết với Chúa Giêsu, cũng đã bị đồng hóa với người đàn bà tội lỗi ở nhà ông Simon Pharisiêu (Lc 7:37; Mc 14:3), vì thánh Gioan ghi nhận rõ ràng sự kiện bà Maria này đã lấy dầu thơm xức chân Chúa trong bữa tiệc gia đình thết đãi (Ga 12:3).
Không cần biết những giả thuyết trên có đúng hay không, nhưng chân dung của người phụ nữ mang tên Maria Mácđala là hình ảnh của tất cả mọi người chúng ta, những con người tội lỗi. Chỉ có tình yêu của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh mới đủ sức mạnh làm cho con người ăn năn sám hối và cải thiện đời sống, biến đổi bóng tối thành ánh sáng, tuyệt vọng thành hy vọng, những con người tội lỗi trở thành các vị thánh (GLCG #853; Lumen Gentium đoạn 171; Sacrosanctum Concilium đoạn 9).
Gần đây, một người đàn ông ở tuổi trung niên đến gặp tôi tâm sự và xin ý kiến. Ông cho biết rằng vợ và các con đã bỏ ông ra đi, làm sao đưa họ trở về vì ông rất yêu thương họ! Nhưng vấn đề của ông hiện nay là đang bị thất nghiệp. Buồn bã và chán nản làm ông trở thành người nghiện rượu, rồi la hét, gắt gỏng, giận dữ và đôi khi đánh đập vợ con. Lúc ban đầu gặp ông, tôi tưởng là người vô gia cư (homeless) đến xin tiền hay đồ ăn, vì từ người ông phát ra một mùi hôi không chịu nổi. Quần áo đã lâu ngày không thay. Cơ thể từ lâu không tắm rửa. Tôi chợt nghĩ, ông như thế này thì có ai mà sống chung với ông được, cho dù, như ông nói, rất yêu thương vợ con!
Một người không có tương lai, không có niềm hy vọng, và không có cả sự sống thể xác lành mạnh lẫn tinh thần trong sáng cho chính bản thân mình, thì làm sao yêu cầu hay mời gọi người khác theo mình được?
Câu chuyện này làm tôi liên tưởng đến cuộc thương khó và sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá, nếu không có sự sống lại. Nếu chỉ suy niệm về sự chết của Ðức Giêsu trên thập giá, tôi rất thông cảm với tâm trạng của bà Maria Mácđala và các phụ nữ đi theo Chúa Giêsu. Các bà buồn bã, khóc lóc vì sợ hãi, và thất vọng (Mc 16:10; Ga 20:11; Mt 28:5, 10; Lc 24:5). Tôi cũng rất thông cảm với các môn đệ. Sau mấy năm thầy trò yêu thương gắn bó, dạy dỗ bao nhiêu điều, chứng kiến các sự lạ lùng, vậy mà bây giờ thầy đã chết thê thảm! Còn các môn đệ thì tan tác, mỗi người một nơi, sợ hãi và thất vọng (Ga 20:19; Mc 16:10). Thất vọng đến mức, các bà chứng kiến mồ trống, đã gặp thấy Chúa Giêsu Kitô Sống Lại, về báo tin mừng cho các ông, họ vẫn không tin, cứ nghĩ rằng các bà lẩn thẩn (Lc 16:11; 24:8-11). Các ông đã bỏ ra đi trong thất vọng như hai môn đệ trên đường Emmau (Lc 24:13-35).
Thật đúng như lời thánh Phaolô đã nói (1 Cr 15:14), nếu Ðức Giêsu Kitô không sống lại thì mọi sự đều trở nên ‘vô ích’ hết! Thập giá vẫn mãi mãi là thập hình, bế tắc và ngõ cụt! Nhờ Phục Sinh thập giá mới trở nên Thánh Giá cứu độ.
Bà Maria Mácđala đã chứa chấp tới bẩy quỷ ở trong mình thì chắc chắn rằng bà không phải là thứ tầm thường rồi. Bà phải vào bậc “Chị Hai” trong giới giang hồ! Chỉ có sức mạnh của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh mới có thể chinh phục được con người của bà, mới thanh luyện được tội lỗi, mới làm cho con người yếu đuối trở nên vững mạnh, mới biến đổi nỗi sợ hãi, khóc lóc, nghi ngờ, thất vọng trở thành niềm vui mừng được.
Kinh nghiệm Phục Sinh của bà Maria Mácđala là một nỗi kinh ngạc và vui mừng (Mt 28:1-10). Kinh ngạc vì từ một người phụ nữ tội lỗi, bà đã trở thành người rao giảng Tin Mừng đầu tiên của nhân loại. Cuộc cách mạng lớn lao này chỉ có một mình Ðức Giêsu Kitô thực hiện được ngay sau khi Ngài Sống Lại. Sự Phục Sinh của Ngài mang lại sự sống mới và niềm hy vọng cho nhân loại đã xảy ra trước tiên từ sự biến đổi trong tâm hồn của người phụ nữ mang tên là Maria Mácđala. Bà là chứng nhân đầu tiên của kinh nghiệm Phục Sinh.
3- KINH NGHIỆM PHỤC SINH CỦA CHÚNG TA:
Trong bài Phúc âm của thánh Gioan 20:1-8 ở trên, vào buổi sáng Phục Sinh, Phêrô cùng đi đến mộ với Gioan, người môn đệ được Chúa Giêsu trao ban cho Ðức Mẹ Maria. Thần học gia Bernard Haring, Cssr., trong cuốn suy niệm “Mary and Your Everyday Life” trang 116, đặt vấn đề rằng liệu Ðức Maria có biết hai người môn đệ này đi chung với nhau đến mộ của Chúa Giêsu không? Linh mục Haring quả quyết rằng không những Ðức Maria đã biết, mà còn thúc đẩy Gioan tìm đến với Phêrô nữa, vì Ðức Maria đã thấu hiểu sự buồn bã và thất vọng của Phêrô và các môn đệ.
Sau khi Chúa Giêsu chịu tử nạn trên thập giá, Gioan đã có Ðức Maria ở bên cạnh để cố vấn và nâng đỡ niềm tin. Ðức Maria biết rằng Phêrô cũng cần phải được hỗ trợ như thế bởi Gioan, để rồi chính Phêrô sẽ lại hướng dẫn các môn đệ khác trong lúc hoang mang và giao động. Ngày nay, tôi tin rằng Ðức Maria cũng vẫn lo lắng cho chúng ta và toàn thể nhân loại như vậy.
Trong buổi chia sẻ cảm nghĩ về phim “Cuộc Thương Khó của Ðức Kitô” của Mel Gibson, nhiều người cho biết rằng họ cảm thấy thương mến Ðức Mẹ Maria, vì phải chứng kiến sự đau đớn cùng cực của Con Mẹ. Thật vậy, trong cuốn phim, Ðức Maria đã gắn bó với từng tình huống khổ đau xảy ra trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Mẹ là “Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc” như ÐGH Gioan Phaolô II đã nêu lên trong Thông điệp “Mẹ Ðấng Cứu Thế”, và Tông thư “Sự Khổ Ðau Cứu Chuộc”. Khuôn mặt của Mẹ vô cùng sầu khổ, nhưng cũng rất mạnh mẽ và can trường. Ánh mắt của người mẹ gia tăng sức mạnh cho người con khi yếu sức ngã quỵ. Tuy buồn khổ nhưng Ðức Maria đã biểu tỏ được lòng nhân hậu, sự mạnh mẽ và sức chịu đựng là những nét rất đặc thù của người mẹ.
Thêm một lần nữa, tôi cảm thấy nỗi buồn của Ðức Maria quá sầu bi khi đọc lại những lần Mẹ đã hiện ra để trao ban thông điệp cho nhân loại. Mẹ Maria đã khóc rất nhiều lần không những ra nước mắt mà chảy ra cả máu! Mẹ còn đau khổ đến cực độ vì Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục chịu đóng đinh vì tội lỗi ngút ngàn của nhân loại đang gia tăng ở mức độ khủng khiếp mỗi ngày. Mẹ đau khổ vì nhìn thấy bao nhiêu linh hồn đang dần dần bị hủy diệt!
Trong bối cảnh nhân loại ở thế kỷ 21 hiện nay, theo sự cố vấn của Ðức Maria, thánh Gioan đã chỉ cho chúng ta kinh nghiệm Phục Sinh của bà Maria Mácđala: con đường ăn năn hối cải. Một trong ba mệnh lệnh Fatima được Ðức Maria nhắc đi nhắc lại là: “Hãy ăn năn tội lỗi và cải thiện đời sống”. Bao lâu nhân loại chưa từ bỏ con đường tội lỗi, thì lưỡi đòng vẫn còn đâm thấu lòng Ðức Maria như lời tiên tri Simêon đã nói.
Suy diễn như vậy, tôi thấy thương mến Ðức Mẹ hơn, và mơ ước được cảm nghiệm niềm vui Phục Sinh của Ðức Maria. Thỉnh thoảng tôi cảm nghiệm được một chút nào đó của niềm vui này mỗi khi sống thánh thiện, nhất là lúc dâng Thánh Lễ.
Chúng ta thường nhìn thấy hình ảnh Ðức Mẹ Sầu Bi, nhưng chưa được diễm phúc trông thấy một Ðức Maria như lời kinh “Ngợi Khen” diễn tả. Chỉ có thánh Bernadette được nhìn thấy Ðức Mẹ ở Lộ Ðức đã nói rằng: “Bà đẹp lắm!” và thường mỉm cười. Còn ba em nhỏ ở Fatima năm 1917, mỗi lần Ðức Mẹ hiện ra đều ngây ngất chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Mẹ.
Chắc chắn rằng vẻ đẹp này chính là vẻ đẹp của Ðức Maria trong niềm vui Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô mà Mẹ được thông hưởng hạnh phúc. Ðức Maria, người mẹ tinh thần của chúng ta, là mẫu mực của toàn thể Giáo Hội. Ðức Maria càng kết hợp mật thiết với nỗi khổ đau và sự chết của Chúa Giêsu bao nhiêu, Mẹ lại càng nối kết với niềm vui Phục Sinh của Ðức Kitô, và của chính chúng ta bấy nhiêu. Chúng ta càng bắt chước Ðức Maria trong việc chịu đau khổ với Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại bao nhiêu, thì niềm vui Phục Sinh của chúng ta sẽ càng lớn lao bấy nhiêu. Và khi đó cuộc hành trình đức tin của người Kitô hữu mới thực sự hoàn hảo như lời tuyên xưng đức tin của Giáo Hội trong bàn tiệc Thánh Thể: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến”.
Vào đêm Phục Sinh, cùng với kinh nghiệm Phục Sinh của Ðức Maria, Giáo Hội công bố Tin Mừng Phục Sinh (Exultet) cho toàn thể nhân loại còn đang sống trong bóng tối của tội lỗi và sự chết với niềm hy vọng hân hoan: “Mừng vui lên, hỡi chư thần chư thánh. Mừng vui lên, hỡi khắp miền dương thế. Mừng vui lên, hỡi Hội Thánh mẹ hiền. Chính đêm nay tín hữu Ðức Kitô, trên khắp mặt địa cầu, được tách khỏi thói đời sa đọa và thoát vòng tội lỗi bủa vây, được trả về tình trạng ân nghĩa và hiệp thông với nguồn thánh thiện. Chính đêm nay Ðức Kitô toàn thắng hiển vinh, diệt tử thần, từ âm phủ chỗi dậy.”
Ðời sống thánh thiện của người Kitô hữu sẽ mang lại hy vọng, niềm vui và hạnh phúc. Chính đời sống thánh thiện là hoa trái của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh sẽ đưa chúng ta hòa nhịp với kinh nghiệm Phục Sinh của Ðức Maria và của bà Maria Mácđala.
Phục Sinh 2004.
VỚI ÐỨC MARIA
“Sáng sớm ngày thứ nhất trong tuần, lúc trời còn tối, bà Maria Mác-đa-la đi đến mộ, thì thấy tảng đá đã lăn khỏi mộ. Bà liền chạy về gặp ông Si-mon Phêrô và người môn đệ Ðức Giêsu thương mến. Bà nói: “Người ta đã đem Chúa đi khỏi mộ; và chúng tôi chẳng biết họ để Người ở đâu?” Ông Phêrô và môn đệ kia liền đi ra mộ. Cả hai người cùng chạy. Nhưng môn đệ kia chạy mau hơn ông Phêrô và đã tới mộ trước. Ông cúi xuống và nhìn thấy những băng vải còn ở đó, nhưng không vào. Ông Simon Phêrô theo sau cũng đến nơi. Ông vào thẳng trong mộ, thấy những băng vải ở đó, và khăn che đầu Ðức Giêsu. Khăn này không để lẫn với các băng vải, nhưng cuốn lại, xếp riêng ra một nơi. Bấy giờ người môn đệ kia, kẻ đã tới mộ trước, cũng đi vào. Ông đã thấy và đã tin. Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Kinh Thánh, Ðức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết. Sau đó, các môn đệ lại trở về nhà” (Ga 20:1-8).
Vào thứ Tư Lễ Tro, ngày 25 tháng 2 năm 2004, phim “The Passion of The Christ”, “Cuộc Thương Khó của Ðức Kitô” của đạo diễn Mel-Gibson, ra mắt khán giả ở Hoa Kỳ và nhiều quốc gia trên thế giới. Cuốn phim diễn tả những điều đã xảy ra trong 12 giờ cuối cùng của cuộc đời Ðức Giêsu. Tính cho đến ngày Chúa Nhật Lễ Lá, lợi tức thu nhập của cuốn phim đã lên đến con số kỷ lục trên 302 triệu đô la riêng tại Hoa Kỳ. Ngoài sự thành công về tài chính, cuốn phim còn có giá trị về nhiều khía cạnh tinh thần và nghệ thuật. Tuy nhiên cuốn phim cũng đã gây nên nhiều cuộc tranh luận. Một trong những khuyết điểm được nêu lên là sự thiếu quân bình về thần học và đời sống thiêng liêng, nếu không có sự sống lại.
Thật vậy, truyền thống của Giáo Hội Công Giáo vẫn có mười bốn chặng đường Thánh Giá, nhưng nay nhiều nhà thờ đã thêm vào chặng đàng thứ mười lăm, sự Phục Sinh hoặc Sống Lại của Ðức Giêsu Kitô. Bởi nếu không có sự Sống Lại của Ðức Giêsu Kitô thì Kitô Giáo sẽ trở nên vô nghĩa. Thánh Phaolô cũng đã dạy rằng: “Nếu Chúa Kitô đã không sống lại, thì việc giảng dạy của chúng tôi là vô ích, và đức tin của chúng ta cũng vô ích.” (1 Cr 15:14).
Thế nhưng niềm tin vào người chết sống lại mới chỉ xuất hiện vào thời kỳ cuối của Cựu Ước trong các sách Maccabê (2 Mcb 7): về sự sống đời đời dành cho các vị tử đạo; và Ðanien (Ðn 12:1-4): về một Ðấng Tạo Hóa toàn năng, Thiên Chúa của sự sống và công lý sẽ nâng những người công chính đã bị hành quyết chỗi dậy.
Vào thời đại của Chúa Giêsu, sự sống lại của kẻ chết vẫn còn là một vấn đề đang tranh cãi. Những người Biệt Phái thì tin, nhưng những người Sađucêo lại không tin vào sự sống lại của những người đã chết (Mc 12:24, 27). Ngay chính nhóm mười hai tông đồ cũng không hiểu lời loan báo về sự sống lại trong Thánh Kinh liên quan trước hết đến chính Chúa Giêsu: “Thật vậy, trước đó, hai ông chưa hiểu rằng: theo Thánh Kinh, Ðức Giêsu phải chỗi dậy từ cõi chết” (Ga 20:9). Chính vì thế, sự chết và việc mai táng của Chúa Giêsu đã làm cho họ thất vọng (Mc 16:14; Lc 24: 21-24, 37; Ga 20:19).
Ðối với các tông đồ và những người phụ nữ đi theo Chúa Giêsu, kinh nghiệm Phục Sinh là một kinh nghiệm hoàn toàn mới mẻ. Vì mới mẻ nên họ rất kinh ngạc. Và từ kinh ngạc đã dẫn đến niềm vui vô cùng lớn lao như thánh Mátthêu đã diễn tả: “Các bà vội vã rời khỏi mộ, tuy sợ hãi nhưng rất đỗi vui mừng, chạy về báo tin cho các môn đệ Ðức Giêsu hay.” (Mt 28:1-10).
Bắt nguồn từ niềm vui Phục Sinh, nên toàn bộ Bốn Phúc Âm, được gọi là Tin Mừng, đã được viết ra trong ánh sáng của niềm tin về kinh nghiệm này. Kinh nghiệm này rất khác nhau giữa Ðức Maria và những người đi theo Chúa Giêsu mà điển hình là bà Maria Mácđala.
1- KINH NGHIỆM PHỤC SINH CỦA ÐỨC MARIA:
Khi học về lịch sử thành hình của Phúc Âm tôi biết rằng phần được viết trước nhất là phần cuối của Phúc Âm: tường thuật về sự chết, sống lại và lên Trời của Chúa Giêsu. Còn phần thời thơ ấu của Ngài được bổ túc thêm vào sau này. Như vậy, để hiểu ý nghĩa sâu xa của từng biến cố trong Phúc Âm, chúng ta phải đọc và suy niệm trong ánh sáng Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô.
Chính Phụng vụ Thánh Thể, trung tâm điểm thờ phượng của Giáo Hội, đã khởi sự ngay sau biến cố Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô để tưởng niệm sự chết và sống lại của Người. Lễ Phục Sinh được cử hành trước nhất, rồi mãi mấy thế kỷ về sau mới có lễ Giáng Sinh!
Lần cuối cùng Phúc âm nhắc đến Ðức Maria qua bản tường thuật của thánh Gioan lúc Mẹ Maria đứng dưới chân thập giá (Ga 19: 25-27). Chắc chắn rằng trong cuộc hành trình thương khó: từ khi bị bắt, bị lên án, bị đánh đòn, vác thập giá và chịu chết, Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, phải là người theo dõi, gắn bó, và cùng bước với Chúa Giêsu trong mọi nỗi khổ đau. Người mẹ mất ăn, mất ngủ, vì con. Ðây là lẽ tự nhiên, không cần phải tranh cãi. Nhưng nếu người mẹ là người đau khổ nhất, thì khi Chúa Giêsu sống lại, Ðức Maria phải là người vui mừng nhất, nhưng tại sao Phúc Âm lại im lặng?
Các Phúc Âm đã không nói gì về thái độ và phản ứng của Ðức Maria trước biến cố sống lại của Chúa Giêsu. Phúc âm chỉ diễn tả Chúa Giêsu hiện ra đầu tiên với bà Maria Mácđala (Mc 16:9; Ga 20:11-18), với một nhóm phụ nữ (Mt 28:9), và các môn đệ (Lc 24:15, 36; Ga 20:26; Mt 28:18), nhưng không đề cập gì đến Ðức Maria. Sự thật là Chúa Giêsu đã không hiện ra lần nào với Mẹ Người cả! Tại sao?
Xin thưa, Phúc Âm đã nói đến rồi! Ðọc lại Phúc Âm bằng kinh nghiệm của niềm vui Phục Sinh, chúng ta sẽ nhận ra đức tin mẫu mực và sự vui mừng khôn xiết của Ðức Maria.
Phúc Âm Gioan nói về Ðức Maria hai lần: tại tiệc cưới Cana (Ga 2: 1-11) và dưới chân thập giá (Ga 19:25-27). Tại tiệc cưới Cana khi chưa có ai biết Ðức Giêsu là ai, thì trong niềm tin vào Con Thiên Chúa, Ðức Maria đã giúp cho các môn đệ tin vào Người (Ga 2:11). Cũng thế, đứng dưới chân thập giá, khi niềm tin của chính Gioan và bà Maria Mácđala đang bị giao động và lung lạc, thì chỉ có niềm tin của Ðức Maria là vững vàng. Sau này, chính Gioan đã tự thú nhận rằng khi nhìn thấy mồ trống, ông mới tin (Ga 20:8). Còn bà Maria Mácđala đứng buồn bã khóc lóc có vẻ tuyệt vọng ở bên ngoài mộ (Ga 20:11). Như vậy trong giờ tử nạn của Chúa Giêsu, khi đứng dưới chân thập giá, niềm tin của Gioan và bà Maria Mácđala đang bị khủng hoảng. Ðối với các môn đệ, sau nhiều lần Chúa Giêsu hiện ra với họ rồi, lúc đó các ông mới tin (Lc 24:15, 36, 50-51; Ga 20:26; 21:1; 1 Cr 15:6; Mt 28:18).
Chúa Giêsu đã phải hiện ra nhiều lần với các phụ nữ và các môn đệ vì niềm tin về Ðức Giêsu Sống Lại của họ chưa có, mới đang được mạc khải và thành hình dần dần mà thôi (GLCG # 992). Còn đối với Ðức Maria, Mẹ Chúa Giêsu, niềm tin vào sự sống lại đời đời nơi Thiên Chúa đã vững vàng ngay từ lúc Nhập Thể với hai tiếng “xin vâng” (Lc 1:38). Thần Khí của Ðức Giêsu Sống Lại đã luôn ở với Mẹ Người. Do đó, sự hiện ra bằng hình dáng bề ngoài không còn cần thiết đối với Ðức Maria nữa!
Ðức Maria đã sống trọn vẹn cuộc hành trình đức tin với Con Mẹ, Chúa Giêsu. Mẹ đã chia sẻ mầu nhiệm tình yêu sâu xa của Thiên Chúa với Con Mẹ. Bởi thế, Mẹ đã không phải đối diện với sự thử thách và khó khăn mà Phêrô, Maria Mácđala, và các môn đệ trên đường Emmau đang trải qua để tin vào Sự Sống Lại của Chúa Giêsu.
Ðức tin phát sinh niềm vui. Phúc Âm Luca diễn tả sự vui mừng của Ðức Maria trong lời kinh “Ngợi Khen”, “Magnificat”: “Linh hồn tôi ngợi khen Ðức Chúa, thần trí tôi hớn hở vui mừng vì Thiên Chúa, Ðấng cứu độ tôi. Từ nay, hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc. Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả” (Lc 1: 46-56). Chúng ta sẽ hiểu sự vui mừng trọng đại và ân phúc cao cả được ban cho Ðức Maria như thế nào, nếu không qua ánh sáng Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô? Nếu cứ theo thứ tự của bản tường thuật trong Phúc Âm, thì kinh “Ngợi Khen” của Ðức Maria xảy ra sau khi sứ thần truyền tin. Vừa mang thai Hài Nhi trong lòng, mặc dù cũng vui mừng, nhưng Ðức Maria đâu đã biết tương lai xảy ra thế nào, Hài Nhi sẽ làm gì, thế nào là Ðấng Cứu Ðộ? Trái lại, theo tâm lý, các bà thường băn khoăn và lo âu là khác!
Chỉ trong ánh sáng Phục Sinh, Ðức Maria mới nhận ra Ðức Giêsu là “Ðấng Cứu Ðộ tôi”, và tất cả công trình cứu chuộc của Thiên Chúa thực hiện là ân phúc. Chính trong niềm tin vào sự sống lại đời đời, Ðức Maria mới được coi là “từ nay hết mọi đời sẽ khen tôi diễm phúc”, và “Ðấng Toàn Năng đã làm cho tôi biết bao điều cao cả.” Thật vậy, diễm phúc vĩ đại nhất dành cho Ðức Maria là cùng được sống lại với Ðức Giêsu Kitô (Ga 11:25; Cl 2:12; 3;1; 2 Cr 5:8). Diễm phúc được cả hồn và xác hưởng phúc thiên đàng, như tín điều Ðức Mẹ Hồn Xác Lên Trời đã tuyên bố, trước tiên dành cho Ðức Maria. Rồi sau đó sẽ tới mọi người tín hữu như Giáo Hội tuyên xưng trong kinh Tin Kính: “Tôi tin xác loài người ngày sau sống lại”. Thật sự, không có ân phúc nào lớn lao bằng ân phúc này, và cũng không có niềm vui sướng nào bằng lời kinh “Ngợi Khen” của Ðức Maria.
Quả vậy, sau biến cố Phục Sinh của Ðức Giêsu Kitô khá lâu, mãi đến năm 80, hay 90, sự hình thành của Phúc Âm Luca, với bài tường thuật về thời thơ ấu của Chúa Giêsu mới xuất hiện. Lúc ấy, kinh nghiệm vui mừng về Ðức Giêsu Kitô Phục Sinh của Ðức Maria đã trở thành niềm xác tín bao trùm toàn thể Giáo Hội rồi.
2- KINH NGHIỆM PHỤC SINH CỦA BÀ MARIA MÁCÐALA:
Phúc âm cho chúng ta biết một số những người phụ nữ đã tin vào Ðức Giêsu Kitô Phục Sinh trước cả các tông đồ (Mt 28:9). Thánh Gioan, người môn đệ yêu quý của Chúa Giêsu, người đã được tin tưởng trao phó cho Ðức Maria, đã chú ý đặc biệt đến con đường đức tin của bà Maria Mácđala. Bà Maria Mácđala cũng là một khuôn mẫu của niềm tin cho chúng ta noi theo. Một đức tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh là Ðấng đã thanh tẩy và hoán cải con người của bà dần dần, từng bước, qua những kinh nghiệm tội lỗi, ăn năn thống hối, được nâng đỡ, an ủi, tha thứ và yêu thương trong cuộc đời, chứ không phải chỉ mở mắt ra là thấy ánh bình minh ngay.
Maria Mácđala là ai mà được Chúa Giêsu hiện ra trước tiên? Các Phúc Âm đều ghi rõ bà là chứng nhân trong các biến cố cuối đời của Chúa Giêsu: đóng đinh (Mc 15:40; Mt 27:56; Ga 19:25), an táng (Mc 15:47; Mt 27:6), mồ trống (Mc 16:18; Mt 28:1-10; Lc 24:10), và sống lại (Mc 16:9; Ga 20:1-18).
Mácđala là một trung tâm quan trọng về thương mại, ngư nghiệp và nông nghiệp của vùng Galilêa ngày xưa. Phúc âm của Máccô (16:9) và Luca (8:2) nói rõ, bà Maria này đến từ Mácđala, đã được Chúa Giêsu trừ cho khỏi bẩy quỷ. Ngày xưa nói quỷ ám để chỉ một tình trạng bệnh hoạn về thể xác hay tinh thần. Vì Mácđala là một thành phố sầm uất về kinh tế, nên có thể bà Maria Mácđala đã bị mang tiếng vì những cách sinh sống tội lỗi để kiếm tiền ở đây.
Bởi thế, có một truyền thống từ thế kỷ thứ sáu, đã đồng hóa bà Maria Mácđala này với người đàn bà tội lỗi đã ăn năn khóc lóc, lấy tóc và dầu thơm đựng trong bình bạch ngọc mà lau chân Chúa Giêsu trong bữa tiệc ở nhà ông Simon Pharisiêu (Lc 7: 36-50). Người phụ nữ tội lỗi được tha thứ nhiều nên đã yêu mến Chúa hết lòng.
Lại có người cho rằng người đàn bà bị bắt quả tang phạm tội ngoại tình (Ga 8:1-11) là bà Maria Mácđala. Bởi vì bà đã được Chúa Giêsu bênh đỡ trong cuộc xử án, thoát khỏi bị ném đá, lẽ nào đã không có mặt với Người trong cuộc thương khó và sự chết của Người. Như một tội nhân bị lên án, bà đã biết thông cảm và yêu thương Chúa Giêsu, một nạn nhân vô tội, hơn bất cứ một người nào khác.
Những truyền thống trên có lẽ không chắc chắn vì có rất nhiều phụ nữ mang tên Maria thời Chúa Giêsu. Hơn nữa, một người phụ nữ khác, bà Maria làng Bêtania, em của Mácta và Lagiarô (Lc 10:39), là những người bạn rất thân thiết với Chúa Giêsu, cũng đã bị đồng hóa với người đàn bà tội lỗi ở nhà ông Simon Pharisiêu (Lc 7:37; Mc 14:3), vì thánh Gioan ghi nhận rõ ràng sự kiện bà Maria này đã lấy dầu thơm xức chân Chúa trong bữa tiệc gia đình thết đãi (Ga 12:3).
Không cần biết những giả thuyết trên có đúng hay không, nhưng chân dung của người phụ nữ mang tên Maria Mácđala là hình ảnh của tất cả mọi người chúng ta, những con người tội lỗi. Chỉ có tình yêu của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh mới đủ sức mạnh làm cho con người ăn năn sám hối và cải thiện đời sống, biến đổi bóng tối thành ánh sáng, tuyệt vọng thành hy vọng, những con người tội lỗi trở thành các vị thánh (GLCG #853; Lumen Gentium đoạn 171; Sacrosanctum Concilium đoạn 9).
Gần đây, một người đàn ông ở tuổi trung niên đến gặp tôi tâm sự và xin ý kiến. Ông cho biết rằng vợ và các con đã bỏ ông ra đi, làm sao đưa họ trở về vì ông rất yêu thương họ! Nhưng vấn đề của ông hiện nay là đang bị thất nghiệp. Buồn bã và chán nản làm ông trở thành người nghiện rượu, rồi la hét, gắt gỏng, giận dữ và đôi khi đánh đập vợ con. Lúc ban đầu gặp ông, tôi tưởng là người vô gia cư (homeless) đến xin tiền hay đồ ăn, vì từ người ông phát ra một mùi hôi không chịu nổi. Quần áo đã lâu ngày không thay. Cơ thể từ lâu không tắm rửa. Tôi chợt nghĩ, ông như thế này thì có ai mà sống chung với ông được, cho dù, như ông nói, rất yêu thương vợ con!
Một người không có tương lai, không có niềm hy vọng, và không có cả sự sống thể xác lành mạnh lẫn tinh thần trong sáng cho chính bản thân mình, thì làm sao yêu cầu hay mời gọi người khác theo mình được?
Câu chuyện này làm tôi liên tưởng đến cuộc thương khó và sự chết của Chúa Giêsu trên thập giá, nếu không có sự sống lại. Nếu chỉ suy niệm về sự chết của Ðức Giêsu trên thập giá, tôi rất thông cảm với tâm trạng của bà Maria Mácđala và các phụ nữ đi theo Chúa Giêsu. Các bà buồn bã, khóc lóc vì sợ hãi, và thất vọng (Mc 16:10; Ga 20:11; Mt 28:5, 10; Lc 24:5). Tôi cũng rất thông cảm với các môn đệ. Sau mấy năm thầy trò yêu thương gắn bó, dạy dỗ bao nhiêu điều, chứng kiến các sự lạ lùng, vậy mà bây giờ thầy đã chết thê thảm! Còn các môn đệ thì tan tác, mỗi người một nơi, sợ hãi và thất vọng (Ga 20:19; Mc 16:10). Thất vọng đến mức, các bà chứng kiến mồ trống, đã gặp thấy Chúa Giêsu Kitô Sống Lại, về báo tin mừng cho các ông, họ vẫn không tin, cứ nghĩ rằng các bà lẩn thẩn (Lc 16:11; 24:8-11). Các ông đã bỏ ra đi trong thất vọng như hai môn đệ trên đường Emmau (Lc 24:13-35).
Thật đúng như lời thánh Phaolô đã nói (1 Cr 15:14), nếu Ðức Giêsu Kitô không sống lại thì mọi sự đều trở nên ‘vô ích’ hết! Thập giá vẫn mãi mãi là thập hình, bế tắc và ngõ cụt! Nhờ Phục Sinh thập giá mới trở nên Thánh Giá cứu độ.
Bà Maria Mácđala đã chứa chấp tới bẩy quỷ ở trong mình thì chắc chắn rằng bà không phải là thứ tầm thường rồi. Bà phải vào bậc “Chị Hai” trong giới giang hồ! Chỉ có sức mạnh của Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh mới có thể chinh phục được con người của bà, mới thanh luyện được tội lỗi, mới làm cho con người yếu đuối trở nên vững mạnh, mới biến đổi nỗi sợ hãi, khóc lóc, nghi ngờ, thất vọng trở thành niềm vui mừng được.
Kinh nghiệm Phục Sinh của bà Maria Mácđala là một nỗi kinh ngạc và vui mừng (Mt 28:1-10). Kinh ngạc vì từ một người phụ nữ tội lỗi, bà đã trở thành người rao giảng Tin Mừng đầu tiên của nhân loại. Cuộc cách mạng lớn lao này chỉ có một mình Ðức Giêsu Kitô thực hiện được ngay sau khi Ngài Sống Lại. Sự Phục Sinh của Ngài mang lại sự sống mới và niềm hy vọng cho nhân loại đã xảy ra trước tiên từ sự biến đổi trong tâm hồn của người phụ nữ mang tên là Maria Mácđala. Bà là chứng nhân đầu tiên của kinh nghiệm Phục Sinh.
3- KINH NGHIỆM PHỤC SINH CỦA CHÚNG TA:
Trong bài Phúc âm của thánh Gioan 20:1-8 ở trên, vào buổi sáng Phục Sinh, Phêrô cùng đi đến mộ với Gioan, người môn đệ được Chúa Giêsu trao ban cho Ðức Mẹ Maria. Thần học gia Bernard Haring, Cssr., trong cuốn suy niệm “Mary and Your Everyday Life” trang 116, đặt vấn đề rằng liệu Ðức Maria có biết hai người môn đệ này đi chung với nhau đến mộ của Chúa Giêsu không? Linh mục Haring quả quyết rằng không những Ðức Maria đã biết, mà còn thúc đẩy Gioan tìm đến với Phêrô nữa, vì Ðức Maria đã thấu hiểu sự buồn bã và thất vọng của Phêrô và các môn đệ.
Sau khi Chúa Giêsu chịu tử nạn trên thập giá, Gioan đã có Ðức Maria ở bên cạnh để cố vấn và nâng đỡ niềm tin. Ðức Maria biết rằng Phêrô cũng cần phải được hỗ trợ như thế bởi Gioan, để rồi chính Phêrô sẽ lại hướng dẫn các môn đệ khác trong lúc hoang mang và giao động. Ngày nay, tôi tin rằng Ðức Maria cũng vẫn lo lắng cho chúng ta và toàn thể nhân loại như vậy.
Trong buổi chia sẻ cảm nghĩ về phim “Cuộc Thương Khó của Ðức Kitô” của Mel Gibson, nhiều người cho biết rằng họ cảm thấy thương mến Ðức Mẹ Maria, vì phải chứng kiến sự đau đớn cùng cực của Con Mẹ. Thật vậy, trong cuốn phim, Ðức Maria đã gắn bó với từng tình huống khổ đau xảy ra trong cuộc thương khó của Chúa Giêsu. Mẹ là “Ðấng Ðồng Công Cứu Chuộc” như ÐGH Gioan Phaolô II đã nêu lên trong Thông điệp “Mẹ Ðấng Cứu Thế”, và Tông thư “Sự Khổ Ðau Cứu Chuộc”. Khuôn mặt của Mẹ vô cùng sầu khổ, nhưng cũng rất mạnh mẽ và can trường. Ánh mắt của người mẹ gia tăng sức mạnh cho người con khi yếu sức ngã quỵ. Tuy buồn khổ nhưng Ðức Maria đã biểu tỏ được lòng nhân hậu, sự mạnh mẽ và sức chịu đựng là những nét rất đặc thù của người mẹ.
Thêm một lần nữa, tôi cảm thấy nỗi buồn của Ðức Maria quá sầu bi khi đọc lại những lần Mẹ đã hiện ra để trao ban thông điệp cho nhân loại. Mẹ Maria đã khóc rất nhiều lần không những ra nước mắt mà chảy ra cả máu! Mẹ còn đau khổ đến cực độ vì Chúa Giêsu vẫn còn tiếp tục chịu đóng đinh vì tội lỗi ngút ngàn của nhân loại đang gia tăng ở mức độ khủng khiếp mỗi ngày. Mẹ đau khổ vì nhìn thấy bao nhiêu linh hồn đang dần dần bị hủy diệt!
Trong bối cảnh nhân loại ở thế kỷ 21 hiện nay, theo sự cố vấn của Ðức Maria, thánh Gioan đã chỉ cho chúng ta kinh nghiệm Phục Sinh của bà Maria Mácđala: con đường ăn năn hối cải. Một trong ba mệnh lệnh Fatima được Ðức Maria nhắc đi nhắc lại là: “Hãy ăn năn tội lỗi và cải thiện đời sống”. Bao lâu nhân loại chưa từ bỏ con đường tội lỗi, thì lưỡi đòng vẫn còn đâm thấu lòng Ðức Maria như lời tiên tri Simêon đã nói.
Suy diễn như vậy, tôi thấy thương mến Ðức Mẹ hơn, và mơ ước được cảm nghiệm niềm vui Phục Sinh của Ðức Maria. Thỉnh thoảng tôi cảm nghiệm được một chút nào đó của niềm vui này mỗi khi sống thánh thiện, nhất là lúc dâng Thánh Lễ.
Chúng ta thường nhìn thấy hình ảnh Ðức Mẹ Sầu Bi, nhưng chưa được diễm phúc trông thấy một Ðức Maria như lời kinh “Ngợi Khen” diễn tả. Chỉ có thánh Bernadette được nhìn thấy Ðức Mẹ ở Lộ Ðức đã nói rằng: “Bà đẹp lắm!” và thường mỉm cười. Còn ba em nhỏ ở Fatima năm 1917, mỗi lần Ðức Mẹ hiện ra đều ngây ngất chiêm ngưỡng vẻ đẹp của Mẹ.
Chắc chắn rằng vẻ đẹp này chính là vẻ đẹp của Ðức Maria trong niềm vui Phục Sinh của Chúa Giêsu Kitô mà Mẹ được thông hưởng hạnh phúc. Ðức Maria, người mẹ tinh thần của chúng ta, là mẫu mực của toàn thể Giáo Hội. Ðức Maria càng kết hợp mật thiết với nỗi khổ đau và sự chết của Chúa Giêsu bao nhiêu, Mẹ lại càng nối kết với niềm vui Phục Sinh của Ðức Kitô, và của chính chúng ta bấy nhiêu. Chúng ta càng bắt chước Ðức Maria trong việc chịu đau khổ với Chúa Giêsu để cứu chuộc nhân loại bao nhiêu, thì niềm vui Phục Sinh của chúng ta sẽ càng lớn lao bấy nhiêu. Và khi đó cuộc hành trình đức tin của người Kitô hữu mới thực sự hoàn hảo như lời tuyên xưng đức tin của Giáo Hội trong bàn tiệc Thánh Thể: “Lạy Chúa, chúng con loan truyền Chúa đã chịu chết, và tuyên xưng Chúa đã sống lại, cho tới khi Chúa lại đến”.
Vào đêm Phục Sinh, cùng với kinh nghiệm Phục Sinh của Ðức Maria, Giáo Hội công bố Tin Mừng Phục Sinh (Exultet) cho toàn thể nhân loại còn đang sống trong bóng tối của tội lỗi và sự chết với niềm hy vọng hân hoan: “Mừng vui lên, hỡi chư thần chư thánh. Mừng vui lên, hỡi khắp miền dương thế. Mừng vui lên, hỡi Hội Thánh mẹ hiền. Chính đêm nay tín hữu Ðức Kitô, trên khắp mặt địa cầu, được tách khỏi thói đời sa đọa và thoát vòng tội lỗi bủa vây, được trả về tình trạng ân nghĩa và hiệp thông với nguồn thánh thiện. Chính đêm nay Ðức Kitô toàn thắng hiển vinh, diệt tử thần, từ âm phủ chỗi dậy.”
Ðời sống thánh thiện của người Kitô hữu sẽ mang lại hy vọng, niềm vui và hạnh phúc. Chính đời sống thánh thiện là hoa trái của đức tin vào Chúa Giêsu Kitô Phục Sinh sẽ đưa chúng ta hòa nhịp với kinh nghiệm Phục Sinh của Ðức Maria và của bà Maria Mácđala.
Phục Sinh 2004.